Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Đánh giá hiệu quả cấp tín dụng hiện nay của các NHTM VN

Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
+ Các nguồn vốn khác: bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác
đầu tư. Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của
Nhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu
riêng.
1.1.2.2 Nghiệp vụ có (sử dụng vốn)
+ Nghiệp vụ ngân quỹ
* Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay thấp
phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.
* Tiền dự trữ
+ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư

Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt động
quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất
của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:
* Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín
dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất
định. Có 2 loại là:
• Ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
• Ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
* Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được
thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư
nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
* Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu
chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ
đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
* Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để
rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
* Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua
việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên
thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
* Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo
lãnh.
* Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của
dân cư, có 2 loại:
• Tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay trực tiếp khách hàng
để tiêu dùng.
• Tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng
từ những người bán lẻ hàng hoá, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của
NHTM.


Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh
và kinh doanh chứng khoán.
Nhóm 8 – DH8NH Trang 2
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
* Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu
nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng,
nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao).
* NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho
ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên.
* NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào
việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp.
Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động.
1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng)
Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo
sự uỷ thác của khách bao gồm:
- Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền mặt,
nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ
thanh toán, ngân phiếu thanh toán.
- Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng khoán
khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.
- Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá ở đây
chủ yếu là các chứng khoán.
- Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày càng
phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán có
giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích nhằm thu hút vốn để tăng nguồn
vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng, thông qua
NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền thù lao theo
tỷ lệ quy định từ người phát hành.
- Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài sản( đá
quý, chứng khoán ), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện các uỷ
nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân hàng thực hiện các di
chúc sau khi họ qua đời.
1.1.3 Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ
Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tương hỗ lẫn nhau, thúc đẩy
nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác động qua lại, cùng giúp
cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phải có vốn, vậy trước tiên
ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ là tiền đề để phát triển nghiệp vụ có,
nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được mở rộng.
Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay, kinh doanh càng nhiều, càng thu được nhiều lãi thì
càng bổ sung thêm cho nguồn vốn, tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được phát triển.
Giữa nghiệp vụ nợ - có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lại lẫn
nhau. Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay đối với ngân hàng, họ có quan
hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và có phát triển sẽ tác động
làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trung gian cũng có tác dụng tích cực
đối với nghiệp vụ nợ - có, khi thực hiện các nghiệp vụ trung gian như thu hộ, uỷ thác,
thương mại sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được những khoản tiền mà nhờ
Nhóm 8 – DH8NH Trang 3
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
đó bổ sung cho nghiệp vụ nợ và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời
vào nguồn vốn để tiến hành cho vay.
Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng. Nếu
cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những người gửi tiền ở
ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốn khả năng thanh toán
làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ giảm xuống. Ngược lại
nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơn nhưng thu lãi ít không bổ sung phát triển
được nghiệp vụ nợ.
Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hàng là hết sức
quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoa học và phù hợp
giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả.
1.2 Hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách
hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
1.2.2 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả
vốn và lãi sau một thời gian nhất định.
1.2.3 Khái niệm về cấp TD và cho vay
- Cấp TD là việc TCTD thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên
tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh
NH và các nghiệp vụ khác (Luật các TCTD đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004).
- Cho vay là một hình thức cấp TD theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản
tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2.4 Đặc điểm tín dụng
- Người cho vay chuyển quyền sử dụng cho người vay trong một thời gian nhất định.
- Có thời hạn tín dụng được xác định có thỏa thuận.
- Người sở hữu vốn được nhận thu nhập dưới hình thức lợi tức.
1.2.5 Phân loại tín dụng
- Dựa vào thời hạn, có thể phân chia thành các loại sau:
Thông thường NH căn cứ vào thời hạn TD để xác định phân loại TD. Có thể chia làm 3
loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng. NH cho khách hàng
vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ, và các hoạt động
nông nghiệp… có thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. NH
cho khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư vào hoạt động SXKD, thương
mại, dịch vụ. Đối tượng vay chủ yếu là các doanh nghiệp…
Nhóm 8 – DH8NH Trang 4
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 60 tháng. NH cho khách hàng
vay để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào những dự án đầu tư có quy mô rộng lớn như các
công trình: cầu cống, trường học, công viên, bệnh viện…
- Dựa vào mục đích của tín dụng:
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân
+ Cho vay bất động sản
+ Cho vay nông nghiệp
+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
- Dựa vào mức độ tín dụng của khách hàng
+ Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết
định cho vay.
+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như
thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
- Dựa vào phương thức cho vay
+ Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện thủ tục vay vốn
cần thiết và ký kết HĐTD.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận một
HMTD duy trì trong khoảng thời gian nhất định.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển SXKD, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc
phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó, có một TCTD làm đầu mối dàn xếp,
phối hợp với các TCTD khác.
+ Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi
vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong
thời hạn cho vay.
+ Cho vay theo HMTD dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng
vay vốn trong phạm vi HMTD nhất định. TCTD và khách hàng thỏa thuận thời gian
hiệu lực của HMTD dự phòng, mức phí trả cho HMTD dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp thuận
cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi HMTD để thanh toán tiền
mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt
là đại lý của TCTD. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, TCTD và khách
hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn
bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của
khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Nhóm 8 – DH8NH Trang 5
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
- Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn.
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
+ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy khả năng tài
chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
1.2.6 Vai trò của tín dụng
+ Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển thông qua những tổ chức trung gian tạo nguồn
vốn cho hộ sản xuất: doanh nghiệp, cá nhân…
+ Ổn định tiền tệ và ổn định giá cả, bằng cách: giảm tiền mặt, mở rộng nghiệp vụ thanh
toán không dùng tiền mặt, góp phần giúp cho công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước phát
triển, và kiểm soát được lạm phát.
+ Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn viêc làm ổn định và giữ gìn được an ninh, trật
tự xã hội.
1.2.7 Chức năng tín dụng
+ Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả, bao gồm các hoạt động:
tham gia điều tiết vốn, góp phần tăng trưởng kinh tế thông qua tổ chức trung gian, tín
dụng trực tiếp mua bán chịu, tăng nhịp độ vòng quay của vốn, kể cả nợ lưu thông, phát
triển nghiệp vụ thanh toán như tiền ngân hàng làm giảm chi phí,…
+ Kiểm soát các hoạt động kinh tế: biết được khối lượng tiền nhàn rỗi, nhu cầu vốn, đối
tượng và sự biến động của từng kỳ, kiểm tra tình hình tài chính, sử dụng vốn của các đơn
vị vay, tạo điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt để nhìn tương đối tài chính của các
đơn vị.
1.3 Những vấn đề chung trong cho vay
1.3.1 Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng
- Cơ sở pháp lý
Luật Các TCTD: Luật số 02/1997/Q10.
Các nghị định của Chính phủ hướng dẩn thực hiện Luật TCTD.
Quy chế cho vay theo quyết định của Thống đốc NHNN Việt Nam.
- Phạm vi áp dụng
+ Bên cho vay:
Các TCTD thành lập được cấp giấy phép hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam
theo quy định của Luật TCTD, đều được phép huy động vốn và cho vay ngắn hạn tài trợ
cho hoạt động kinh doanh cho các tổ chức kinh tế, bao gồm:
• NHTM quốc doanh
• NH TMCP
• NH liên doanh
• Chi nhánh NH nước ngoài
• NH 100% vốn nước ngoài
Nhóm 8 – DH8NH Trang 6
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
• Công ty tài chính
• Quỹ tín dụng nhân dân
+ Bên đi vay:
Bên đi vay là những pháp nhân, thể nhân hoạt động SXKD theo đúng pháp luật Việt
Nam, gồm:
• Doanh nghiệp nhà nước
• Công ty cổ phần
• Công ty trách nhiệm hữu hạn
• Hợp tác xã
• Doanh nghiệp tư nhân
• Các xí nghiệp, công ty liên doanh với nước ngoài
• Các công ty, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
• Các hộ gia đình và các thể nhân đủ điều kiện vay vốn
1.3.2 Nguyên tắc vay vốn
Khách hàng vay vốn của các TCTD phải đảm bảo:
+ Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD.
Tín dụng đúng mục đích là phương châm hoạt động của tín dụng, góp phần thúc đẩy nền
kinh tế-xã hội phát triển tạo ra khối lượng hàng hóa-dịch vụ phong phú, đa dạng. Đồng
thời, góp phần tạo ra giá trị thặng dư tạo điều kiện để thực hiện tái sản xuất mở rộng quy
mô.
+ Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn đúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐTD.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho NH tồn tại và phát triển lâu dài. Bởi vì, nguồn vốn
chủ yếu của ngân hàng được huy động từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân như gửi tiết kiệm,
mua giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,…). Nếu người vay không hoàn trả
đúng hạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của NH.
1.3.3 Điều kiện cho vay
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự
theo quy định pháp luật:
+ Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
Có đủ năng lực pháp luật dân sự, đủ năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo
quy định của pháp luật.
+ Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân nước ngoài:
Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của
nước mà pháp nhân đó có quốc tịch, hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước
ngoài đó được Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các
văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Nhóm 8 – DH8NH Trang 7
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Có dự án đầu tư, phương án SXKD, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam.
1.3.4 Đối tượng cho vay
Đối tượng cho vay của NH là phần thiếu hụt trong tổng giá trị cấu thành TSCĐ, TSLĐ và
các khoản chi phí cho quá trình SXKD của khách hàng trong một thời gian nhất định.
* NH cho vay các đối tượng sau:
- Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc thiết bị, và các khoản chi phí để khách hàng thực
hiện các dự án SXKD, dịch vụ, đời sống, đầu tư và phát triển.
- Số tiền vay trả cho các tổ chức tín dụng trong thời gian thi công chưa bàn giao và
đưa TSCĐ vào sử dụng đối với cho vay trung hạn và dài hạn để đầu tư TSCĐ mà khoản
lãi được tính trong giá trị TSCĐ đó.
* NH không cho vay các đối tượng sau:
- Số tiền thuế phải nộp (trừ số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu).
- Số tiền để trả nợ gốc và lãi vay cho tổ chức tín dụng khác.
- Số tiền vay trả cho chính tổ chức tín dụng.
1.3.5 Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay và khách hàng vay vốn thỏa thuận và ghi vào HĐTD.
TGĐ (Giám đốc) NH cho vay xác định và công bố công khai lãi suất cho vay theo từng
loại khách hàng, từng đối tượng cho vay.
1.3.6 Thời hạn cho vay
- Thời hạn cho vay được tính từ ngày phát tiền vay đến ngày thu hết nợ.
- Thời hạn cho vay được xác định căn cứ vào các yếu tố:
• Chu kỳ SXKD
• Thời hạn thu hồi vốn của thương vụ hoặc của phương án SXKD
• Khả năng trả nợ của khách hàng
• Khả năng và mức cho vay của NH
Nói chung thời hạn cho vay tối đa không quá 12 tháng.
1.3.7 Chính sách tín dụng
Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để
đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêu chuẩn do các cơ quan
quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản. Mỗi một
NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng. Một chính sách tín dụng
sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể
trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của
danh mục cho vay sẽ phản ánh những gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra.
Nếu điều này không xảy ra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem
xét lại. Thông thường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau:
Nhóm 8 – DH8NH Trang 8
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
- Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụ như nêu lên
các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loại hình, thời gian đáo hạn,
quy mô và chất lượng của các khoản cho vay).
- Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay. Công
bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ.
- Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩm định tín
dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và trong việc
thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng.
- Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết
định đối với đơn xin vay của khách hàng.
- Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lại trong hồ sơ
tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết ). Những hướng dẫn về
việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp cho các món vay.
- Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định lãi suất cho vay, các
khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay.
- Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng.
- Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoản cho vay có
vấn đề
* Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân
hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ
và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục
cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi
ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơ quan quản lý.
Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chính sách tín
dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu mới, tạo bước
đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và nguồn lực bên
ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tín dụng của các ngân hàng nên tập
trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả với phương châm
không để các dự án đầu tư có hiệu quả bị thiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển
dịch có lợi cho đầu tư và phát triển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng
nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh
theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội.
Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ý thích đáng
việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phần khuyến khích phát
triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương.
1.4 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.4.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro là một biến cố hay một sự kiện xấu ngoài mong đợi, không thể dự báo
trước có thể quảng trị.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ
Nhóm 8 – DH8NH Trang 9
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
không đúng hạn cho ngân hàng.
1.4.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM.
Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngân hàng phải
sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảy ra quá nhiều rủi ro
trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn của mình để trang trải cho các
khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc "xoá sổ"
những khoản thất thoát này nữa và ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng
thanh toán cho người gửi tiền thậm chí dẫn đến phá sản.
1.4.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng xảy ra rất phức tạp và đa dạng, nó có thể do khách hàng mất khả
năng trả nợ hay do họ cố ý chây ỳ, tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
Nguyên nhân rủi ro tín dụng thì có nhiều nhưng người ta thường chia làm 2 loại nguyên
nhân rủi ro xuất phát từ các hành động có thể kiểm soát và không thể kiểm soát.
- Những nguyên nhân có thể kiểm soát:
+ Quyết định cho vay sai lầm từ ban đầu do khâu phân tích thu thập thông tin
không đủ hay sai lầm, hoặc việc xây dựng ký kết hợp đồng có sự khó hiểu thiếu sót.
+ Không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo.
+ Không có khả năng theo sát kiểm soát các khoản vay.
+ Không hành động kịp thời khi phát hiện khoản nợ có vấn đề.
- Những nguyên nhân không thể kiểm soát được:
+ Sự phá sản của các doanh nghiệp vay nợ, hay hoạt động sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả do quản lý không tốt, sản phẩm công nghệ lạc hậu, thiếu vốn và khả năng
cạnh tranh yếu
+ Một số nguyên nhân bất ổn khác từ bên ngoài như khách hàng gặp rủi ro bất
chợt nên chưa thể trả nợ ngay, hay tài sản cầm cố thế chấp bị mất giá trị khiến ngân
hàng không thể thu hồi được khoản nợ
Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiểm soát hay không thể giúp cho
ngân hàng định hướng được việc ngăn chặn rủi ro tập trung vào những rủi ro mà nguyên
nhân có thể kiểm soát. Trước hết là hệ thống các thể chế tạo hành lang và môi trường
hoạt động an toàn và hiệu quả của tín dụng. Sau đó là các quy định điều kiện cụ thể đối
với mỗi loại vay, mỗi đối tượng vay, để xác định các điều kiện và hình thức về giá trị vật
chất, giá trị uy tín làm đảm bảo vốn vay tuỳ theo năng lực tài chính, tính chất và loại hình
sản xuất kinh doanh, uy tín và mức độ rủi ro của người vay. Đối với rủi ro bất khả kháng,
các ngân hàng chỉ có cách chống đỡ bằng việc thành lập các dự phòng tài chính, đủ khả
năng chống đỡ cho mọi rủi ro có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Khả năng dự phòng càng cao,
tính chủ động chống đỡ rủi ro càng lớn.
1.4.4 Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.
Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng, hiện nay các ngân hàng đã và
đang thực hiện một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng sau:
- Mở rộng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng. Việc mở rộng khối lượng tín
dụng là cần thiết để mở rộng kinh doanh, song vấn đề chất lượng tín dụng mới có ý nghĩa
quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất của ngân hàng. Chất lượng tín dụng chính là
Nhóm 8 – DH8NH Trang 10
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
kết quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọn vẹn, người vay thực hiện đúng các
cam kết và ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn. Vì vậy, khi phân tích mức độ rủi ro
mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay cần phải suy xét kỹ càng về kinh nghiệm quản
lý, tiềm năng, các chính sách, khả năng sinh lời, luân chuyển vốn và giá trị thực của
khách hàng. Cán bộ tín dụng phải xem xét và tự đưa ra quyết định cho rằng nên cho
khách hàng vay bao nhiêu, mục đích khoản vay và thời gian thu hồi nợ.
- Hiệu quả và chất lượng tín dụng dựa trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinh doanh của
người vay vốn. Khi người vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệu quả dẫn
đến tình trạng thua lỗ sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm cho các khoản tín dụng không được
thực hiên đúng hạn, do đó ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không là phụ thuộc chủ
yếu vào việc người vay vốn sử dụng vốn có hiệu quả hay không.
- Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ người vay. Việc tìm hiểu và
đánh giá người vay cần được xem xét trên nhiều mặt. Trước hết là phẩm chất đạo đức
kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túc trong việc chấp hành
luật lệ. Thứ hai là người vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính để sử
dụng tiền vay và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết đối với khoản vay. Thứ ba là đảm bảo
xây dựng được các phương án dự phòng trả nợ.
- Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc
có cho vay hay không là một quyết định mang tính độc lập, không hề chịu ảnh hưởng bởi
những người có liên quan và ngân hàng phải cảm thấy thoải mái khi đưa ra quyết định
cho vay. Mọi sự can thiệp bên ngoài đối với mỗi khoản cho vay đều phi kinh tế, thiếu tính
nghiệp vụ ngân hàng, thường đưa đến những sai lầm và gây ra những tổn thất, do đó khi
ngân hàng chịu trách nhiệm hoàn toàn về những khoản cho vay, thì ngân hàng cũng phải
hoàn toàn chủ động với quyết định của các khoản vay đó.
- Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Việc phân tán rủi ro được thực
hiện thông qua phân tán dư nợ và cộng đồng tài trợ. Cụ thể là mỗi ngân hàng không nên
tập trung quá nhiều vốn cho một người vay, những dự án lớn cần huy động nhiều ngân
hàng tham gia tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay, hạn chế cho vay trong các lĩnh vực có
tỷ lệ rủi ro cao. Nhờ đó sẽ phân tán rủi ro, tránh tập trung rủi ro lớn vào một ngân hàng,
làm cho ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ ảnh hưởng đến môi trường kinh tế chung. Phân tán
rủi ro là một yêu cầu và xu thế quan trọng của mỗi NHTM hiện nay.
- Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao. Trong các điều kiện vay vốn thì
điều kiện về đảm bảo tiền vay được coi là quan trọng nhất. Đảm bảo có thể bằng cầm cố,
thế chấp hay bảo lãnh để phòng khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì có thể dùng
tài sản bảo đảm trả nợ thay. Vì vậy bản thân tài sản phải có giá trị, và bản thân nó phải trở
thành hàng hoá để có thể chuyển thành giá trị để trả nợ ngân hàng, đồng thời tài sản phải
có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, và có thị trường tiêu thụ hàng hoá đó để thực hiện
nghĩa vụ trả nợ.
* Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc bảo
đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng. Theo số liệu do
NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả phân tích, đánh giá của NHNN đối với nợ xấu
của các NHTM trên toàn quốc là 15 nghìn tỷ đồng, tương đương với 1 tỷ USD, tuy nhiên
nguồn tin từ các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá có thể lên đến 2-3 tỷ USD. Như vậy
rủi ro tín dụng ở Việt nam là rất lớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín
dụng còn lỏng lẻo như: chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn
còn cao; việc quyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc
các cơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng nhu
Nhóm 8 – DH8NH Trang 11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét