Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất phục vụ công tác quản lý đất đai huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ

Do chính sách cai trị của thực dân pháp, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại nhiều
chế độ quản lý điền địa khác nhau:
- Chế độ quản lý thủ điền thổ tại Nam kỳ
- Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh tại Trung kỳ
- Chế độ bảo thủ để áp (còn gọi là để đương) áp dụng với bất động sản của
người pháp và kiều dân kết ước theo luật lệ Pháp quốc
- Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29-3-1925 áp dụng tại Bắc kỳ
- Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21-7-1925 (sắc lệnh 1925) áp dụng tại Nam
kỳ và các nhượng địa Pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
1.1.1.3. Quản lý đất đai ở các tỉnh phía Nam thời Mỹ - Nguỵ
Sau năm 1954, miền Nam Việt Nam nằm dưới ách cai trị của Mỹ - Nguỵ nên
vẫn thừa kế và tồn tại ba chế độ quản lý thủ điền địa trước đây:
- Tân chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 1925.
- Chế độ điền thổ địa bộ ở những địa phương thuộc Nam kỳ đã hình thành
trước Sắc lệnh 1925.
- Chế độ quản thủ địa chính áp dụng ở một số địa phương thuộc Trung kỳ.
Tuy nhiên từ năm 1962, chính quyền Việt Nam cộng hoà đã có Sắc lệnh
124-CTNT triển khai công tác kiến điền và quản thủ điền địa tại những địa
phương chưa thực hiện Sắc lệnh 1925. Như vậy từ năm 1962, trên lãnh thổ
Miền Nam do Nguỵ quyền Sài Gòn kiểm soát tồn tại hai chế độ: Chế độ quản
thủ điền địa và tân chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 1925.
1.1.2.Thời kỳ từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm 1979
1.1.2.1. Từ năm 1980 đến năm 1988
Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 07 năm 1980 của hội đồng Chính
phủ “về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng
đất trong cả nước”, đây được coi là văn bản đầu tiên quy định chế độ quản lý
đất đai thống nhất cả nước sau khi đất nước được thống nhất.
5
Quản lý nhà nước ruộng đất bao gồm các nội dung như sau:
- Điều tra, khảo sát và phân bố các loại đất
- Thống kê, đăng ký đất đai
- Quy hoạch sử dụng đất
- Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý sử dụng
đất
- Giải quyết các tranh chấp về đất
- Quy định các chế độ, thể lệ quản lý việc sử dụng đất và tổ chức việc
thực hiện các chế độ, thể lệ ấy.
1.1.2.2. Từ năm 1988 đến nay
- Luật đất đai năm 1988: Nội dung của Luật gồm 6 chương 57 điều, được
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 22 tháng 12 năm 1987 và
được chủ tịch HĐBT công bố ngày 08 tháng 01 năm 1988. Đây là bộ luật đầu
tiên của Nhà nước ta quy định quyền sở hữu đất đai của Nhà nước và quyền lợi,
nghĩa vụ của người sử dụng đất. Luật quy định Nhà nước giao đất cho các tổ
chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài có thời hạn và tạm thời người
sử dụng đất hợp pháp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quy
định: Chế độ quản lý sử dụng các loại đất (5 loại đất: đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng) lập bản đồ địa
chính, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
- Luật đất đai 1993: Nội dung của gồm Luật 7 chương 89 điều, được quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 07 năm 1993. Trong
quá trình thi hành Luật đất đai 1998 đã bộc lộ nhiều điều không phù hợp, Luật
đất đai 1993 ra đời thay thế luật đất đai 1988. Luật đất đai 1993 khẳng định lại
quyền sở hữu đất đai đồng thời quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về đất
đai (7 nội dung). Phân định rõ đất đai thành 6 loại (đất nông nghiệp, đất lâm
6
nghiệp, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng và đất chưa sử
dụng). Luật quy định quyền của UBND các cấp trong việc giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền của Chính
phủ trong việc giao đất theo hạng mức đất và loại đất.
- Luật đất đai 2003: Nội dung của luật gồm 7 chương 146 điều được nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực từ ngày
01/07 năm 2004. Luật này khắc phục tồn tại của luật đất đai 1993 và các luật
sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 đáp ứng yêu cầu quản lý sử dụng đấtphù hợp
với tiến trình hội nhập quốc tế.
Luật đất đai 2003 khác cơ bản luật đất đai 1993 ở một số nội dung sau:
+ Phân định rõ 3 nhóm đất chính: nhóm đât nông nghiệp (bao gồm đất
nông nghệp và đất lâm nghiệp quy định ở luật đất đai 1993), Nhóm đất phi nông
nghiệp (bao gồm đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất chuyên dùng và một phần đất
chưa sử dụng ở luật đất đai 1993). Luật quy định rõ đất khu công nghiệp, đất
khu công nghệ cao, đất sử dụng cho khu kinh tế, đất làm mặt bằng xây dựng cơ
sở sản xuất kinh doanh.
+ Quy định việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất thuộc thẩm quyền của
UBND cấp huyện và cấp tỉnh (chính phủ không làm chức năng này).
+ Quy định về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở
Việt Nam: được giao đất, được thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình
công cộng, xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê, ngưòi Việt Nam định cư ở
nước ngoài được quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Để xác định vai trò và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai từ
trung ương đến địa phương, tại điều 6 chương I Luật đất đai 2003 nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa việt nam đã nêu nội dung quản lý nhà nước về đất đai:
1. Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai
2. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
7
a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính;
c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
đ) Quản lý việc giao, đất cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất;
e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
f) Thống kê, kiểm kê đất đai;
g) Quản lý tài chính về đất đai;
h) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản;
i) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất;
j) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
k) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
l) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
3. Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ
quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ
năng lực, đảm bảo quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả.
2. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT
8
Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia là một trong các thành phần nền tảng của
kết cấu hạ tầng về thông tin nó bao gồm các cơ sở dữ liệu (CSDL) chuyên ngành
để tạo thành một hệ thống cơ sở thống nhất bao gồm các thành phần: cơ sở dữ
liệu về chính trị (chính sách, pháp luật, tổ chức cán bộ); cơ sở dữ liệu về kinh tế
(nguồn lực - tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, vốn, quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế, kết quả hoạt động của các ngành kinh tế - nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); cơ sở dữ liệu xã hội (dân số, lao động văn hoá, giáo dục, y tế,
thể thao); cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất (CSDLTNĐ) là một thành phần không
thể thiếu được của cơ sở dữ liệu quốc gia.
Cơ sở dữ liệu tài nguyên đất bao gồm toàn bộ thông tin về tài nguyên đất đai
và địa lý ; nội dung thông tin được phân loại theo đối tượng địa lý như thuỷ văn,
giao thông, dân cư, địa giới, hiện trạng sử dụng đất, các công trình cơ sở hạ tầng
…. Xét về các yếu tố cấu thành, chúng có thể chia ra thành hai phần cơ bản là
cơ sở dữ liệu bản đồ địa lý và cơ sở dữ liệu đất đai. Thông tin về tài nguyên đất
đai đuợc thể hiện bằng dữ liệu bản đồ và dữ liệu thuộc tính có cấu trúc.
Với cách nhìn bản đồ như một hệ cơ sở dữ liệu, ta thấy rằng bản đồ là tập
hợp các dữ liệu địa lý, các dữ liệu này mô tả các đối tượng trong thế giới thực
bằng vị trí toạ độ duới một hệ toạ độ xác định, ngoài ra dữ liệu địa lý còn chứa
đựng các thông tin về thuộc tính của đối tượng. Việc xác định và ước đoán tài
nguyên tự nhiên, môi trường và đất đai sẽ cung cấp nhiều đối tượng phản ánh
mới cho bản đồ.
Cấu trúc CSDLTNĐ: Về nguyên tắc một hệ thống thông tin của ngành
hợp lý nhất là có tổ chức dựa trên cơ cấu tổ chức của ngành chủ quản, cơ cấu tổ
chức được phân thành các cấp trung ương và địa phương. Thông thường các địa
phương đóng vai trò là nơi thu thập, cập nhật các thông tin chi tiết, cung cấp
thông tin đầu vào cho toàn bộ hệ thống và cũng sẽ là nơi quản lý và sử dụng chủ
yếu các thông tin cshi tiết, còn cấp trung ương nhu cầu chủ yếu lại là các thông
9
tin tổng hợp từ các thông tin chi tiết. Có 4 phương án lưu trữ và quản lý dữ liệu
bao gồm: Quản lý tập trung; Phân tán bản sao; Phân tán dữ liệu; Phân tán dữ
liệu chi tiết; Tập trung số liệu tổng hợp. Căn cứ vào trình độ quản lý, mức độ ổn
định của quy trình quản lý, phân bố tần xuất sử dụng thông tin giữa các đơn vị
để xác định phương án thích hợp.
Chuẩn hoá CSDLTNĐ: cơ sở dữ liệu tài nguyên đất khi đưa vào sử dụng
phải được chuẩn hoá dữ liệu, đảm bảo tính thống nhất của cơ sở dữ liệu khi chia
sẻ cho nhiều đối tượng sử dụng hoặc hiệu chỉnh từ nhiều nguồn khác nhau. Việc
chuẩn hoá cơ sở dữ liệu phải đáp ứng được các nhu cầu: Xác định thống nhất
cho từng thể dữ liệu, xác định quy trình thống nhất để chuyển các dữ liệu cũ về
dạng chuẩn. Nội dung chuẩn hoá bao gồm: chuẩn hoá thiết bị tin học (hệ điều
hành, mạng, thiết bị phần cứng, chuẩn phần mềm ứng dụng, bảng mã ký tự và tổ
chức dữ liệu), chuẩn hoá hệ quy chiếu, toạ độ, địa giới, địa danh); chuẩn hóa hệ
thống bản đồ, …
3. HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GEOGRAPHICAL
INFORMATION SYSTEM (GIS)
Ở bất kỳ một ngành khoa học kỹ thuật hay kinh tế chúng ta đều có thể bắt
gặp các Hệ thống thông tin và các phương pháp xử lý thông tin khác nhau tuỳ
theo từng lĩnh vực (hệ thống thông tin ngân hàng, hệ thống thông tin nhân sự…)
cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các thông tin hiện nay đã đáp
ứng và giải quyết được những bài toán rất lớn mà thực tế đặt ra.
Trong lĩnh vực hoạt động của xã hội, thông tin là mạch máu chính của các công
cụ quản lý: Quản lý xã hội nói chung và quản lý đất đai nói riêng, dù sử dụng
công cụ nào thô sơ hay hiện đại đều là thu thập và xử lý thông tin. Thông tin đất
là tất cả các thông tin liên quan đến đất đai, thông tin đất đai thường được thể
hiện bằng Hệ thống thông tin Địa lý, Hệ thống thông tin đất. Hai vấn đề này là
10
cơ sở chính của hệ thống thông tin định hướng theo từng ô thửa và các hoạt
động của nó.
3.1. Khái niệm về Hệ thống thông tin địa lý
Có nhiều cách định nghĩa về Hệ thống thông tin địa lý:
Định nghĩa theo chức năng: GIS là một hệ thống bao gồm 4 hệ con: Dữ
liệu vào, quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu và dữ liệu ra.
Định nghĩa theo khối công cụ: GIS là tập hợp phức tạp của các thuật toán.
Định nghĩa theo mô hình dữ liệu: GIS gồm các cấu trúc dữ liệu được sử
dụng trong các hệ thống khác nhau (cấu trúc dạng Raster và Vecter).
Định nghĩa về mặt công nghệ: GIS là công nghệ thông tin để lưu trữ, phân
tích và trình bày các thông tin không gian và thông tin phi không gian, công
nghệ GIS có thể nói là tập hợp hoàn chỉnh các phương pháp và các phương tiện
nhằm sử dụng và lưu trữ các đối tượng.
Định nghĩa theo sự trợ giúp và ra quyết định: GIS có thể coi là một hệ
thống trợ giúp việc ra quyết định, tích hợp các số liệu không gian trong một cơ
chế thống nhất.
Nói tóm lại theo BURROUGHT : “GIS như là một tập hợp các công cụ cho
việc thu nhập, lưu trữ, thể hiện và chuyển đổi các dữ liệu mang tính chất không
gian từ thế giới thực để giải quyết các bài toán ứng dụng phục vụ các mục đích
cụ thể”.
Sơ đồ khái niệm về một hệ thống thông tin địa lý được thể hiện như sau:
3.2. Các thành phần cơ bản của một Hệ thống thông tin địa lý:
Một Hệ thống thông tin địa lý bao gồm những thành phần cơ bản sau:
11
Người sử dụng
GIS
Phần mềm + cơ sở dữ liệu
Thế giới thực
T
- Phần cứng: bao gồm máy tính điều khiển mọi hoạt động của hệ thống và các
thiết bị ngoại vi.
- Phần mềm: cung cấp công cụ và thực hiện các chức năng:
+ Thu thập dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính từ các nguồn thông tin
khác nhau
+ Lưu trữ, cập nhật, điều chỉnh và tổ chức các cơ sở dữ liệu nói trên
+ Phân tích biến đổi, điều chỉnh và tổ chức các cơ sở dữ liệu nhằm giải
quyết các bài toán tối ưu và mô hình mô phỏng không gian và thời gian
+ Đưa ra các thông tin theo yêu cầu dưới dạng khác nhau.
Ngoài ra phần mềm cần phải có khả năng phát triển và nâng cấp theo các
yêu cầu đặt ra của hệ thống.
- Dữ liệu: đây là thành phần quan trọng nhất của GIS. Các dữ liệu không gian
(Spatial data) và các dữ liệu thuộc tính (No spatial data) được tổ chức theo một
mục tiêu xác định bởi một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DataBase Management
System).
- Con người: yếu tố con người có ảnh hưởng rất lớn đối với các hệ GIS, đặc biệt
trong việc điều khiển hệ thống và phát triển các ứng dụng.
- Phương pháp: phương pháp phụ thuộc vào ý tưởng của các xây dựng hệ thống,
sự thành công của một hệ GIS phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng để
thiết kế hệ thống.
3.3. Giới thiệu một số phần mềm GIS
3.3.1. Phần mềm Microstation GeoGraphics
Microstation GeoGraphic là một phần mềm hệ thống thông tin địa lý, với
đầy đủ tính năng thu nhận dữ liệu, quản lý, phân tích, tìm kiếm và hiển thị, …các dữ liệu
không gian và các dữ liệu thuộc tính có liên quan trong một dự án GIS. Hơn nữa
Microstation GeoGraphics còn cung cấp bộ công cụ quản lý các thông tin địa lý ở những
12
dạng dữ liệu khác nhau như Raster, Vector, hay dạng bảng. MicroStation Geographics bao
gồm các chức năng chính sau đây:
13
- Thiết kế các đối tượng cơ sở (Feature-base Design)
- Xây dựng các đối tượng hình học (Geometry Clean up and Validation)
- Tạo lập Topology và phân tích dữ liệu không gian (Topology and Spatial
Analysis)
- Cung cấp công cụ quản lý cơ sở dữ liệu (Database Tools)
- Thành lập bản đồ chuyên đề và các chú giải (Thematic Mapping and
Annotation)
- Quản lý bản đồ (Mapnagement)
- Tương thích với hệ Module GIS Environment (MGE compatibility)
Với ngôn ngữ phát triển MDL (MicroStation Development Language),
Microstation Geographics còn cung cấp cho những nhà phát triển phần mềm
và người sử dụng các công cụ mềm dẻo trong việc mở rộng các chức năng của
GIS.
MicroStation Geographics Projects
MicroStation Geographics tổ chức cơ sở dữ liệu bản đồ trong các dự án
(Projects). Dự án là sự lựa chọn các đối tượng đặc trưng (Features), nhóm loại
đối tượng (Categories), các loại bản đồ (Maps) và các thuộc tính khác được
định nghĩa trong khi tổ chức các thông tin địa lý. Các thành phần chính trong
một dự án của MicroStation Geographics bao gồm:
- Phân nhóm đối tượng (Category)
- Phân lớp đối tượng (Feature)
- Các lệnh thao tác xử lý (Command)
- Các loại bản đồ (Maps)
- Các bảng hệ thống (Systems Tables)
- Thuộc tính dùng cho chuyên đề (User Attribute Tables)
- Danh mục MSCATALOG
- Liên kết các chỉ số bản đồ (Join CatalogMap index shapes).
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét