Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

GIÁO ÁN 2 BUỔI/NGÀY


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "GIÁO ÁN 2 BUỔI/NGÀY": http://123doc.vn/document/548798-giao-an-2-buoi-ngay.htm


Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
II/ CHUẨN BỊ:
GV: Soạn nội dung kiến thức cơ bản của bài học.
HS: Ôn tập các kiến thức đã học
III/ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. n đònh tổ chức:
2. Ôn tập:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS NỘI DUNG GHI BẢNG
Hoạt động 1: Kiểm tra kiến thức cũ
GV: Cho HS lên bảng viết và phát biểu
ba hằng đẳng thức đã học.
HS: Lên bảng viết và phát biểu, áp dụng
làm bài tập.
( 2x + 3y)
2
= 4x
2
+ 12xy + 9y
2
( 3x – y)
2
= 9x
2
– 6xy + y
2
16x
2
– 9y
2
= (4x)
2
– (3y)
2
= ( 4x – 3y)( 4x + 3y)
Hoạt động 2: p dụng các hằng đẳng thức đáng nhớ để tính
Bài 1: Tính
a) ( x + 2y)
2
b) ( 3x – 2y )
2
c) ( 2x – 3y)( 2x + 3y)
GV: Gọi 3 HS lên bảng thực hiện 3 câu.
Bài 2: Viết các đa thức sau thành tích
a) x
2
– 4y
2
b) 9 – 16y
2
c) ( x - y)
2
– ( x + y)
2
GV: Ta áp dụng hằng đẳng thức nào để
đưa về tích?
HS: Ta áp dụng hằng đẳng thức hiệu hai
bình phương.
Bài 1:
a) ( x + 2y)
2
= x
2
+ 4xy + y
2
b) ( 3x – 2y )
2
= 9x
2
– 12xy + 4y
2
Bài 2:
a) x
2
– 4y
2
= x
2
– (2y)
2
= ( x – 2y)( x + 2y)
b) 9 – 16y
2
= 3
2
– (4y)
2
= ( 3 – 4y)( 3 + 4y)
c) ( x - y)
2
– ( x + y)
2
= ( x – y + x + y)(x – y –x – y)
= 2x.( - 2y)
= - 4xy
Hoạt động 2: Chứng minh đẳng thức
Bài 3: Chứng minh các đẳng thức sau:
a) ( x + y)
2
– y
2
= x( x + 2y)
b) ( x
2
+ y
2
)
2
– (2xy)
2
= ( x + y)
2
( x-y)
2
GV: Để chứng minh một đẳng thức ta có
thể chứng minh như thế nào?
HS: Ta có thể chứng minh VT = VP hoặc
VP = VT hoặc VT và VP cùng bằng một
biểu thức thứ ba.
Bài 3:
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
5
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
GV: VT có dạng hằng đẳng thức nào?
HS: Hằng đẳng thức hiệu hai bình
phương.
GV: Đối với bài này ta chứng minh như
thế nào?
HS: Ta chứng minh VT = VP
a) ( x + y)
2
– y
2
= x( x + 2y)
VT = ( x + y)
2
– y
2
= ( x + y – y)( x + y + y)
= x( x + 2y)
Vậy VT = VP ( Đpcm)
b) ( x
2
+ y
2
)
2
– (2xy)
2
= ( x + y)
2
( x-y)
2
VT = ( x
2
+ y
2
)
2
– (2xy)
2
= ( x
2
+ y
2
+ 2xy )( x
2
+ y
2
- 2xy)
= ( x + y)
2
( x- y)
2
Vậy VT = VP ( ĐPCM)
Hoạt động 3: Tính nhanh
Bài 4: Tính nhanh
a/ 1001
2
; 29,9 . 30,1
b/ ( 31,8)
2
– 2.31,8.21,8 + ( 21,8)
2
GV: Để tính nhanh ta có thể đưa các số
về dạng tròn trăm tròn chục.
GV: Ta thấy số trung gian của hai số này
là số nào?
HS: số 30
GV: Làm thế nào để đưa hai số này về
các số trung gian của nó?
HS: p dụng hằng đẳng thức hiệu hai
bình phương
Bài 4:
a/ 1001
2
; 29,9 . 30,1
1001
2
= ( 1000 + 1)
2
= 1000
2
+ 2.1000.1 + 1
2
= 1000000 + 2000 + 1
= 10002001
29,9 . 30,1 = ( 30 – 0,1)( 30 + 0,1)
= 30
2
– 0,1
2
= 900 – 0,01
= 899,99
b/ ( 31,8)
2
– 2.31,8.21,8 + ( 21,8)
2
= ( 31,8 – 21,8)
2
= 10
2
= 100
Hoạt động 4: Rút gọn biểu thức rồi tính gí trò của biểu thức
Bài 5: Rút gọn biểu thức rồi tính giá trò
của biểu thức.
a/ ( x- 10)
2
– x( x + 80) với x = 0,98
b/ ( 2x + 9)
2
– x( 4x + 31) với x = - 16,2
GV: Để rút gọn ta làm thế nào:
Bài 5:
a/ ( x- 10)
2
– x( x + 80)
= x
2
– 20x + 100 – x
2
+ 80x
= 60x + 100
Với x = 0,98 ta có
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
6
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
HS: T khai triển biểu thực rồi thu gọn
các đơn thức đồng dạng
60. 0,98 + 100 = 158,8
b/ ( 2x + 9)
2
– x( 4x + 31)
= 4x
2
+ 36x + 81 – 4x
2
- 31x
= 5x + 81
Với x = - 16,2 ta có:
5.( - 16,2) + 81 = 0
Hoạt động 5: Củng cố – Hướng dẫn về nhà
GV: nhắc nhở học sinh:
-Về nhà học lại ba hằng đẳng thức
-Xem lại các dạng toán đã học
-Tiết sau ôn tập hình học
Tuần: 4 NS: 23/09/08
Tiết 7+8 NG: 26/09/08
ÔN TẬP HÌNH THANG CÂN ,ĐƯỜNG
TRUNG BÌNH CỦA TAM GIÁC, CỦA HÌNH THANG
I/ MỤC TIÊU:
- Củng cố cho HS nắm chắc đònh nghóa, tính chất hình thang cân ,đường trung
bình của tam giác, của hình thang.
- Biết vận dụng cả đònh nghóa tính chất hình thang cân, đường trung bình vào
giải các bài toán.
- Rèn kỹ năng chứng minh cho HS
II/ CHUẨN BỊ:
GV: Soạn nội dung kiến thức cơ bản của bài học.
HS: Ôn tập các kiến thức đã học
III/ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1.n đònh tổ chức:
2.Ôn tập:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS NỘI DUNG GHI BẢNG
Hoạt động 1: Ôn tập lý thuyết
GV: Cho HS nhắc lại nội dung đònh
nghóa và tính chất hình thang cân,đường
trung bình của tam giác, hình thang
Hoạt động 2: Nhận biết hình thang cân
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
7
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
GV: Để chứng minh một tứ giác là hình
thang cân ta làm thế nào?
HS: ta chứng minh tứ giác đó là hình
thang, rối chứng minh hình thang đó có
hai cạnh bên bằng nhau hoặc có hai
đường chéo bằng nhau.
GV: Cho HS vẽ hình và ghi GT KL của
bài toán.
GV: Cho HS dự đoán và đi đến kết luận
tứ giác DECB là hình thang cân.
GV: Để CM DECB là hình thang cân ta
có thể chứng minh như thế nào?
HS: Ta chứng minh hai đường chéo bằng
nhau.
Bài 1: Cho tam giác ABC cân tại A. trên tia
đối của tia AC lấy điểm D, trên tia đối của tia
AB lấy điểm E sao cho AD = AE. Tứ giác
DECB là hình gì? Vì sao?
GT:

ABC; AB = AC
AD = AE
KL: Tứ giác DECB là hình gì?
CM: Ta có
AB = BC ( GT)
AD = AC ( GT)
DC = AD + AC
BE = AE + AB
 DC = BE
 DECB là hình thang cân vì có hai
đường chéo bằng nhau
Hoạt động 2: Sử dụng đường trung bình của tam giác
Bài 2: Cho hình thang cân ABCD có AB //
CD, AB = 4cm; CD = 10cm. AD = 5cm.
trên tia đối của tia BD lấy điểm E sao
cho BE = BD. Gọi H là chân đường
vuông góc kẻ từ E đến DC. Tính độ dài
CH
GV: Yêu cầu HS vẽ hình và ghi tóm tắt
bài toán.
GV: Kẻ BK

DC ta tính được KC?
-Khi đó DK =?
-BK là đường gì của tam giác DEH?
-Tính được KH ta tính được CH ?
HS: Làm theo sự gợi ý của GV
Bài 2:
GT: ABCD là hình thang cân
AB // CD
BD = BE
EH

DC
AB = 4cm
CD = 10 cm
AD = 5cm
KL: Tính độ dài CH
Giải:
Kẻ BK

DC. Ta tính được
)(3
2
410
2
cm
ABCD
KC
=

=

=
Nên DK = DC – KC
= 10 – 3 = 7 cm
Ta lại có BK // EH (

DC)
BD = BE ( GT)
 BK là đường trung bình của tam giác
DEH
 KD = KH
 KH = 7cm
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
8
D
E
C
B
A
10cm
5cm
4cm
E
H
K
D
C
BA
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
 CH = KH – KC = 7 – 3 = 4cm
Hoạt động 3: Sử dụng đường trung bình của hình thang
Bài 3: Cho hình thang ABCD ( AB//CD)
E là trung điểm của AD, F là trung điểm
của BC. Đường thẳng EF cắt BD ở I, cắt
AC ở K.
a) Chứng minh rằng AK = KC; BI = ID
b) Cho AB = 6cm, CD = 10cm. Tính các
độ dài EI, KF, IK
GV: Hướng dẫn HS đi theo trình tự
EF//AB//CD => AK = KC => BI = ID
Bài 3:
GT: Hình thang ABCD
( AB //CD)
AE = DE; BF = CF
EF cắt BD tại I
Cắt AC tại K
AB = 6cm; CD = 10cm
KL: a/ AK = KC; BI = ID
b/ Tính EI; KF; IK
Giải:
a/ EF là đường trung bình của hình thang
ABCD nên EF//AB//CD.
Tam giác ABC có BF = CF và FK //AB
Nên AK = KC
Tam giác ABD có AE = ED và EI//AB
Nên BI = ID
b/ EF = ( AB + CD):2
= ( 6 + 10): 2
= 8cm
EI = AB:2= 6 : 2 = 3cm
KF = AB:2= 6: 2 = 3cm
IK = EF – AI – KF
= 8 – 3 – 3
= 2 cm
Hoạt động 4: Củng cố – Hướng dẫn học ở nhà
-Học và nắm chắc đònh nghóa tính chất
hình thang cân, đường trung bình của tam
giác và của hình thang.
-Xem lại các bài tập đã làm.
-Vận dụng vào các bài tập trong SGK
Tuần: 5 NS: 27/09/08
Tiết 9 +10 NG: 30/09/08
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
9
K
I
F
E
D
C
B
A
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
ÔN TẬP CÁC HẰNG ĐẲNG THỨC ĐÁNG NHỚ ( TT)
I/ MỤC TIÊU:
- Củng cố cho HS nắm chắc bẩy hằng đẳng thức đáng nhớ
- Biết vận dụng cả hai chiều của các hằng đẳng thức vào giải các loại bài tập.
- Rèn kỹ năng vận dụng vào giải toán
II/ CHUẨN BỊ:
GV: Soạn nội dung kiến thức cơ bản của bài học.
HS: Ôn tập các kiến thức đã học
III/ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1.n đònh tổ chức:
2.Ôn tập:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS NỘI DUNG GHI BẢNG
Hoạt động 1: Ôn tập lý thuyết
GV: Gọi 4 HS lên bảng ghi bốn hằng
đẳng thức và vận dụng vào việc khai
triển biểu thức.
a/ ( 2x + y)
3
b/ ( 3x – 2y)
3
c/ 8 + x
3
d/ 8x
3
– y
3
Hoạt động 2: Biểu diễn đa thức dưới dạng lập phương một tổng, một hiệu
GV: Cho HS xây dựng phương pháp giải
*p dụng các 7 hẳng đẳng thức
Bài 1: Viết mỗi biểu thức sau dưới dạng tổng
hai bình phương
a/ x
2
+ 10x + 26 + y
2
+ 2y
= x
2
+ 10x + 25 + 1 + y
2
+ 2y
= (x
2
+ 2.5x + 25) + ( y
2
+ 2y +1 )
= ( x+ 5)
2
+ ( y + 1)
2
b/ x
2
– 2xy + 2y
2
+ 2y + 1
= (x
2
– 2xy + y
2
)+ ( y
2
+ 2y + 1)
= ( x – y)
2
+ ( y + 1)
2
Hoạt động 3: Rút gọn và tính giá trò của biểu thức
Bài 2: Rút gọn và tính giá trò của biểu
thức.
a/ 4x
2
– 28x + 49 với x = 4
b/ x
3
– 9x
2
+ 27x – 27 với x = 5
GV: Cho HS tự làm sau đó lên bảng trình
bày.
Bài 2:
a/ 4x
2
– 28x + 49 = (2x)
2
– 2.2x.7 + 7
2
= ( 2x – 7)
2
Với x = 4 ta có
( 2.4 – 7)
2
= 1
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
10
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
b/ x
3
– 9x
2
+ 27x – 27 = x
3
–3.x
2
.3 + 3x.3
2
- 3
3
= ( x – 3)
3
Với x = 5 ta có: ( 5 – 2)
3
= 8
Hoạt động 4: Tìm x, biết
Bài 3: Tìm x, biết:
a/ ( x- 3)
2
– 4 = 0
b/ x
2
– 2x = 24
c/ ( 2x–1)
2
+ ( x + 3)
2
–5( x + 7)(x- 7) = 0
GV: Chú ý HS A
2
= B => A =
±
B
GV: Để vế trái xuất hiện hằng đẳng thức
thì ta làm thế nào?
HS: Ta thêm 1 vào hai vế
GV: Để tính được x thì trước tiên các em
phảo làm gì?
HS: ta phải thu gọn biểu thức.
Bài 3:
a/ ( x- 3)
2
– 4 = 0
 ( x- 3)
2
= 4
 x- 3 = 2 hoặc x – 3 = -2
 x = 5 hoặc x = 1
b/ x
2
– 2x = 24  x
2
– 2x + 1 = 25
 ( x- 1)
2
= 25
 x- 1 = 5 hoặc x- 1 = -5
 x = 6 hoặc x = -4
c/ ( 2x–1)
2
+ ( x + 3)
2
–5( x + 7)(x- 7) = 0
 4x
2
– 4x + 1 + x
2
+ 6x + 9 – 5( x
2
– 49) = 0
 5x
2
+ 2x + 1 – 5x
2
+ 245 = 0
 2x + 246 = 0  2x = - 246
 x = - 123
Hoạt động 5: Tìm giá trò lớn nhất, nhỏ nhất của biểu thức
Bài 4: Tìm GTNN của biểu thức
a/ x
2
– 20x + 101
b/ 4a
2
+ 4a + 2
GV: Để tìm GTNN của một biểu thức thì
ta phải đưa biểu thức đó về dạng luôn
lớn hơn hoặc bằng một số thực nào đó.
GV: Cho HS làm tương tự câu a
Bài 5: Tìm GTLN của biểu thức
a/ A = 4x – x
2
+3
Bài 4: Tìm GTNN của biểu thức
a/ x
2
– 20x + 101
 (x
2
– 20x + 100) + 1
 ( x – 10)
2
+1
Vì ( x – 10)
2


0 nên ( x – 10)
2
+1

0
Biểu thức đạt GTNN khi dấu = xảy ra tứ là
khi x = 10 và biểu thức đạt giá trò bằng 1
b/ 4a
2
+ 4a + 2
 ( 2a + 1)
2
+ 1
Vì ( 2a + 1)
2


0 nên ( 2a + 1)
2
+ 1

1
Vậy biểu thức đạt GTNN bằng 1
Bài 5:
a/ A = 4x – x
2
+3
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
11
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
b/ B = x – x
2

GV: Để tìm GTLN của biểu thức thì ta
đưa biểu thức đó về dạng nào?
HS: Ta đưa biểu thức đó về dạng luôn
nhỏ hơn hoặc bằng một số thực nào đó.
A = 1 – ( x
2
+ 4x + 4)
A = 1 – ( x + 2)
2
Vì x+ 2

0 nên 1 – ( x + 2)
2


1
Biểu thức đạt GTLN khi dấu = xảy ra khi đó
biểu thức có GTLN bằng 1
b/ B = x – x
2

B =
4
1
4
1
2
+






+−−
xx
=
4
1
2
1
4
1
2







−−
x
Biểu thức đạt GTNN bằng ¼
Hoạt động 6: Củng cố – Hướng dẫn về nhà
-GV nhắc lại các dạng toán và phương
pháp giải đã học.
-Qua mỗi dạng toán ta rút ra phương
pháp giải chung.
-Về nhà học và vận dụng 7 hằng đẳng thức
đáng nhớ
-Xem lại các dạng toán đã làm.
-Tiết sau ôn tập hình.
Tuần: 6 NS: 04/10/08
Tiết 11 +12 NG: 07/10/08
ÔN TẬP CÁC BÀI TOÁN VỀ ĐỐI XỨNG TRỤC
I/ MỤC TIÊU:
- Củng cố cho HS nắm chắc đònh nghóa, tính chất hình của hai điểm, hai hình
đối xứng.
- Biết vận dụng cả đònh nghóa tính chất đối xứng vào giải các bài toán.
- Rèn kỹ năng dựng hình,chứng minh cho HS
II/ CHUẨN BỊ:
GV: Soạn nội dung kiến thức cơ bản của bài học.
HS: Ôn tập các kiến thức đã học
III/ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1.n đònh tổ chức:
2.Ôn tập:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS NỘI DUNG GHI BẢNG
Hoạt động 1: Ôn tập lý thuyết
GV: Hai điểm đối xứng nhau qua đường thẳng d khi nào?
HS: Khi d là đướng trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm đó.
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
12
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
GV: Trục đối xứng của hình thang cân đi qua đâu?
HS: Đi qua trung điểm hai đáy.
Hoạt động 2: Vẽ hình, nhận biết hai hình đối xứng với nhau qua một trục
*Phương pháp: Sử dụng đònh nghóa hai
điểm đối xứng nhau qua một trục, hai
hình đối xứng nhau qua một trục
GV: Cho HS vẽ hình và tóm tắt bài toán.
GV: Để chứng minh D và E đối xứng qua
AM thì ta cần chứng minh điều gì?
HS: Ta chứng minh AM

DE tại trung
điểm
GV: Hướng dẫn HS chứng minh
Bài 1: Cho tam giác ABC cân tại A, M là
trung điểm của BC. Trên tia đối của tia AB
lấy điểm E, trên tia đối của tia AC lấy điểm D
sao cho AD = AE. Chứng minh rằng hai điểm
D và E đối xứng nhau qua đường thẳng AM
Giải:

ABC cân tại A.
AM là trung tuyến
 Am là đường phân giác

21
ˆˆ
AA
=

31
ˆˆ
AA
=
( đối đỉnh)

42
ˆˆ
AA
=
( đối đỉnh)
=>
43
ˆˆ
AA
=
=> AM là đường phân giác của

ADE

ADE cân tại A ( AD = AE)
 AM là đường trung trực của

ADE
 AM

DE tại trung điểm
 D và E đối xứng nhau qua AM
Hoạt động 3: Sử dụng tính chất đối xứng để giải bài toán chứng minh
Bài 2: Cho hình thang vuông ABCD
(
0
90
ˆ
ˆ
==
DA
), Gọi K là điểm đối xứng
với C qua AD, I là giao điểm của BK và
AD. Chứng minh rằng
CIDAIB
∠=∠
GV: Yêu cầu HS vẽ hình và ghi GT , KL
của bài toán.
GV: Dẫn dắt HS theo trình tự sau:
CIDAIB
∠=∠
<=



∠=∠
∠=∠
CIDKID
KIDAIB
<=

KIC cân <= K và C đối xứng.
Bài 2:
GT: Hình thang
ABCD vuông

0
90
ˆ
ˆ
==
DA
DK = DC
BK cắt AD tại I
KL:
CIDAIB
∠=∠
CM: K và C đối xứng nhau qua điểm D
 ID là đường trung trực của

KIC


KIC cân tại I

CIDKID
∠=∠

AIBKID
∠=∠
( đối đỉnh)
=>
CIDAIB
∠=∠
Bài 3:
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
13
4 3
2
1
M
E
D
C
B
A
I
K
D
C
B
A
m
D
M
CB
A
Trường THCS Hoàng Hoa Thám Giáo án hai buổi/ngày
Bài 3: Cho tam giác ABC, gọi m là đường
trung trực của BC. Vẽ điểm D đối xứng
với A qua m.
a/ Tìm các đoạn thẳng đối xứng với AB,
AC qua m.
b/ Xác đònh dạng tứ giác ABCD
GV: hai đoạn thẳng được gọi là đối xứng
qua một đường thẳng khi nào?
HS: Khi mỗi điểm thuộc đoạn thẳng này
đều đối xứng với một điểm thuộc đoạn
thẳng kia qua đường thẳng.

Giải:
a/ DC đối xứng với AB qua m
BD đối xứng với AC qua m
b/ Tứ giác ABCD là hình thang cân vì
AD// BC và AC = BD
Hoạt động 4:Tìm trục đối xứng của một hình, hình có trục đối xứng.
*Phương pháp: Nhớ lại đònh nghóa trục
đối xứng của một hình, đònh lý về trục
đối xứng của hình thang cân.
GV: Trục đối xứng của một hình là
đường thẳng như thế nào?
HS: Là đường thẳng sao cho mọi điểm
thuộc hình đó đều có điểm đối xứng
cũng thuộc hình đó qua đường thẳng
Bài 4: Cho tam giác ABC cân tại B.
a/ Tìm trục đối xứng của tam giác đó.
Gọi trục đối xứng đó là d. kể tên hình đối
xứng qua d của: đỉnh A, đỉnh B, đỉnh C, cạnh
AB, cạnh AC.
Giải:
a/ Trục đối xứng
của tam giác ABC
là đường phân giác
của góc B.
b/ Hình đối xứng của đình A là đỉnh C
“ B “ B
“ C “ C
“ AB là cạnh CB
“ AC “ AB
Hoạt động 5: Củng cố – Hướng dẫn học ở nhà
-GV nhấn mạnh nội dung chính của bài
học.
Yêu cầu HS về nhà xem lại bài và các
dạng bài tập đã làm.
-Tuần sau ôn tập Đại số
Tuần: 7 NS: 11/10/08
Tiết 13 +14 NG: 14/10/08
GV: Phạm Đức Tân Toán 8
14
d
A
C
B

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Pháp lệnh Giám định tư pháp


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Pháp lệnh Giám định tư pháp": http://123doc.vn/document/549985-phap-lenh-giam-dinh-tu-phap.htm


VĂN PHÒNG QUỐC HỘI CƠ SỞ DỮ LIỆU LUẬT VIỆT NAM LAWDATA
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯ ỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 24/2004/PL-UBTVQH11
NGÀY 29 THÁNG 9 NĂM 2004 VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã
được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001
của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Pháp lệnh này quy định về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp.
CH Ư ƠNG I
NHỮ N G Q U Y ĐỊ N H CHUNG
Điều 1. Giám định tư pháp
Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa
học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ
án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người giám định
tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án.
Điều 2. Phạm vi điều chỉnh
1. Pháp lệnh này quy định về tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ của người giám định
tư pháp; tổ chức giám định tư pháp; trình tự, thủ tục trưng cầu giám định, thực hiện
giám định; phí giám định tư pháp và quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
2. Giám định không do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng
cầu và không nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án thì không thuộc phạm vi điều
chỉnh của Pháp lệnh này.
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp
1. Tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn.
2. Trung thực, chính xác, khách quan.
3. Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề liên quan đến vụ án trong phạm vi
được yêu cầu.
4. Chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về kết luận giám định.
Điều 4. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động giám định tư
pháp
Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện để người giám định tư pháp thực
hiện giám định theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở trái pháp luật việc thực hiện giám
định của người giám định tư pháp.
Điều 5. Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
giám định tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và có chính sách đãi ngộ
đối với người thực hiện giám định tư pháp; bảo đảm về cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tổ
chức giám định tư pháp.
Điều 6. Áp dụng điều ước quốc tế
1. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Pháp lệnh này thì áp dụng
quy định của điều ước quốc tế đó.
2. Trong trường hợp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa ký kết hoặc
chưa gia nhập điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong hoạt động
giám định tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại, nhưng không trái pháp
luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc
tế.
CH Ư Ơ NG I I
NGƯ ỜI G IÁM Đ ỊNH T Ư PHÁP
Điều 7. Người giám định tư pháp
Người giám định tư pháp bao gồm:
1. Giám định viên tư pháp;
2. Người giám định tư pháp theo vụ việc.
Điều 8. Giám định viên tư pháp
1. Giám định viên tư pháp là người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều
này và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp theo quy
định của Pháp lệnh này.
2. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì
được bổ nhiệm giám định viên tư pháp:
A) Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn theo
ngành đã học từ năm năm trở lên;
B) Có phẩm chất đạo đức tốt;
C) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
3. Những người sau đây không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp:
2
A) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án
tích;
B) Đang bị quản chế hành chính;
C) Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
4. Giám định viên tư pháp có thể làm việc trong tổ chức giám định tư pháp, tổ
chức chuyên môn.
Điều 9. Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp
1. Việc bổ nhiệm giám định viên tư pháp được thực hiện trong lĩnh vực pháp y,
pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, tài chính - kế toán, xây dựng, văn hoá, môi trường và
các lĩnh vực cần thiết khác.
2. Giám định viên tư pháp bị miễn nhiệm trong trường hợp sau đây:
A) Không còn đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 8 của Pháp lệnh này;
B) Bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên do cố ý vi phạm trong hoạt động
chuyên môn hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp;
C) Bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về giám
định tư pháp;
D) Vi phạm quy định tại Điều 14 của Pháp lệnh này.
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp ở trung ương trong lĩnh
vực thuộc bộ, ngành mình quản lý.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm giám
định viên tư pháp ở địa phương theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp, sau khi thống
nhất ý kiến với Giám đốc Sở chuyên môn.
Điều 10. Thẻ giám định viên tư pháp
1. Người được bổ nhiệm giám định viên tư pháp thì được Bộ Tư pháp cấp thẻ
giám định viên tư pháp theo đề nghị của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh).
2. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị cấp thẻ
giám định viên tư pháp của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm cấp thẻ giám định viên tư pháp cho
người được bổ nhiệm giám định viên tư pháp.
3. Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách giám định viên tư pháp.
4. Bộ Tư pháp thu hồi thẻ giám định viên tư pháp của giám định viên tư pháp
bị miễn nhiệm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
miễn nhiệm giám định viên tư pháp của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
3
Điều 11. Người giám định tư pháp theo vụ việc
1. Người không phải là giám định viên tư pháp nhưng có đủ các tiêu chuẩn quy
định tại khoản 2 Điều 8 và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3
Điều 8 của Pháp lệnh này có thể được trưng cầu thực hiện giám định tư pháp theo vụ
việc.
2. Trong trường hợp người không có trình độ đại học nhưng có kiến thức chuyên
sâu về lĩnh vực cần giám định và có uy tín trong lĩnh vực đó thì có thể được trưng cầu
thực hiện giám định tư pháp theo vụ việc.
3. Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này theo đề nghị của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 12. Quyền của người giám định tư pháp
1. Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám
định (sau đây gọi chung là người trưng cầu giám định) cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan đến đối tượng giám định.
2. Lựa chọn phương pháp cần thiết và phù hợp để tiến hành giám định theo nội
dung yêu cầu giám định.
3. Sử dụng kết quả xét nghiệm bổ sung hoặc kết luận chuyên môn do tổ chức, cá
nhân khác thực hiện nhằm phục vụ cho việc giám định.
4. Độc lập đưa ra kết luận giám định.
5. Từ chối giám định trong trường hợp đối tượng giám định, các tài liệu liên quan
được cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định; thời gian không
đủ để thực hiện giám định hoặc có lý do chính đáng khác.
6. Được bảo đảm an toàn khi thực hiện giám định hoặc khi tham gia tố tụng với
tư cách là người giám định tư pháp.
7. Người giám định tư pháp là người hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì được
hưởng phụ cấp và các khoản bồi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
Người giám định tư pháp là người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì
được hưởng thù lao giám định tư pháp.
Chính phủ quy định cụ thể chế độ phụ cấp, bồi dưỡng và thù lao đối với người
giám định tư pháp.
8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
Điều 13. Nghĩa vụ của người giám định tư pháp
1. Tuân thủ các nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp.
2. Thực hiện giám định theo đúng nội dung yêu cầu giám định.
3. Thực hiện giám định theo đúng thời hạn yêu cầu; trong trường hợp cần thiết
phải có thêm thời gian để thực hiện giám định thì phải thông báo kịp thời cho cơ quan
trưng cầu giám định, người trưng cầu giám định biết.
4. Lập hồ sơ giám định.
4
5. Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và giải thích kết luận
giám định khi có yêu cầu.
6. Bảo quản các mẫu vật giám định, tài liệu liên quan đến vụ việc giám định.
7. Giữ bí mật về kết quả giám định, thông tin và tài liệu giám định.
8. Từ chối giám định trong những trường hợp quy định tại Điều 37 của Pháp lệnh
này.
9. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp cố ý đưa ra kết luận giám định sai sự
thật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan.
10. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
Điều 14. Những hành vi bị nghiêm cấm đối với người giám định tư pháp
1. Từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng.
2. Cố ý đưa ra kết luận giám định sai sự thật.
3. Lợi dụng việc thực hiện giám định để trục lợi.
4. Tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi tham gia tố tụng hình sự với tư
cách là người giám định tư pháp; tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến
hành giám định đối với các vụ án khác.
CH Ư ƠNG I II
TỔ C HỨC GIÁM ĐỊN H T Ư PH ÁP
Điều 15. Thành lập tổ chức giám định tư pháp
Tổ chức giám định tư pháp được thành lập trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần
và kỹ thuật hình sự.
Điều 16. Tổ chức giám định pháp y
1. Viện Pháp y quốc gia.
2. Trung tâm Pháp y tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
3. Viện Pháp y quân đội, Trung tâm Pháp y thuộc Viện khoa học hình sự của Bộ
Công an.
Điều 17. Viện pháp y quốc gia
1. Viện Pháp y quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Y tế và trực thuộc Bộ Y tế.
2. Viện Pháp y quốc gia là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con
dấu, tài khoản và trụ sở riêng.
5
Điều 18. Trung tâm pháp y tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1. Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định thành lập Trung tâm Pháp y tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi tắt là Trung tâm Pháp y) theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp, sau
khi thống nhất ý kiến với Giám đốc Sở Y tế và trực thuộc Sở Y tế.
Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa thành lập Trung tâm Pháp y thì có
bộ phận giám định pháp y thuộc Bệnh viện đa khoa cấp tỉnh.
2. Trung tâm Pháp y là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con
dấu, tài khoản riêng và đặt tại Bệnh viện đa khoa cấp tỉnh.
Điều 19. Giám định pháp y trong quân đội và ngành công an
1. Bộ Quốc phòng có Viện Pháp y quân đội.
Bệnh viện cấp quân khu có giám định viên pháp y.
2. Bộ Công an có Trung tâm Pháp y thuộc Viện khoa học hình sự.
Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có giám định viên pháp y.
Điều 20. Tổ chức giám định pháp y tâm thần
1. Viện Giám định pháp y tâm thần trung ương được thành lập theo quyết định
của Bộ trưởng Bộ Y tế, sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp và trực
thuộc Bộ Y tế.
Viện Giám định pháp y tâm thần trung ương là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư
cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng.
2. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Bệnh viện tâm thần cấp tỉnh thì
thành lập Trung tâm Giám định pháp y tâm thần trực thuộc Bệnh viện đó để thực hiện
giám định pháp y tâm thần.
Trung tâm Giám định pháp y tâm thần do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định thành lập theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp, sau khi thống nhất ý kiến
với Giám đốc Sở Y tế và trực thuộc Sở Y tế.
Trung tâm Giám định pháp y tâm thần là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp
nhân, có con dấu, tài khoản riêng.
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không có Bệnh viện tâm thần cấp
tỉnh thì Trung tâm Phòng chống các bệnh xã hội hoặc khoa tâm thần thuộc Bệnh
viện đa khoa cấp tỉnh thực hiện giám định pháp y tâm thần khi được trưng cầu.
3. Bệnh viện thuộc Bộ Quốc phòng và Bệnh viện cấp quân khu có giám định viên
pháp y tâm thần.
Điều 21. Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự
1. Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công an.
2. Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương.
6
3. Tổ chức kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.
Điều 22. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của tổ chức giám định tư
pháp
Chính phủ quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động
của các tổ chức giám định tư pháp quy định tại các điều 17, 18, 19, 20 và 21 của Pháp
lệnh này.
Điều 23. Bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động giám định tư pháp
1. Kinh phí, trang thiết bị, phương tiện và các điều kiện vật chất cần thiết khác
cho hoạt động của tổ chức giám định tư pháp do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy
định của pháp luật.
2. Tổ chức chuyên môn có trách nhiệm tạo điều kiện cho người giám định tư
pháp sử dụng trang thiết bị, phương tiện của tổ chức mình để phục vụ việc thực hiện
giám định.
CH Ư ƠNG I V
HO Ạ T ĐỘN G GI ÁM Đ ỊNH T Ư PHÁP
Điều 24. Trưng cầu giám định tư pháp
1. Người trưng cầu giám định có thể trưng cầu cá nhân, tổ chức sau đây:
A) Người giám định tư pháp quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh này;
B) Tổ chức giám định tư pháp quy định tại Chương III của Pháp lệnh này;
C) Tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện về chuyên môn, cơ sở vật chất bảo đảm
cho việc thực hiện giám định.
2. Trong trường hợp khả năng chuyên môn, điều kiện về trang thiết bị, phương
tiện giám định của tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn, người giám định tư
pháp trong nước không đáp ứng được yêu cầu giám định thì cơ quan tiến hành tố tụng
cấp dưới đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương của mình quyết định việc
trưng cầu cá nhân, tổ chức giám định nước ngoài. Việc trưng cầu cá nhân, tổ chức giám
định nước ngoài được thực hiện thông qua Bộ Tư pháp.
Điều 25. Quyền của người trưng cầu giám định
1. Trưng cầu tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định.
2. Yêu cầu tổ chức, cá nhân nhận trưng cầu giám định trả kết luận giám định
đúng nội dung yêu cầu và thời hạn.
3. Yêu cầu người giám định tư pháp giải thích kết luận giám định.
4. Các quyền khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
7
Điều 26. Nghĩa vụ của người trưng cầu giám định
1. Trưng cầu giám định bằng văn bản.
2. Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định theo yêu cầu
của người giám định tư pháp.
3. Tạm ứng chi phí giám định khi cá nhân, tổ chức nhận trưng cầu giám định tư
pháp có yêu cầu.
4. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
Điều 27. Văn bản trưng cầu giám định
1. Văn bản trưng cầu giám định có nội dung chính sau đây:
A) Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ, tên người tiến hành tố tụng trưng cầu
giám định;
B) Tên tổ chức; họ, tên người được trưng cầu giám định;
C) Tóm tắt sự việc có liên quan đến đối tượng cần giám định;
D) Nguồn gốc và đặc điểm của đối tượng giám định;
Đ) Tên các tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo;
E) Nội dung yêu cầu giám định;
G) Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.
2. Trong trường hợp trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại thì văn bản
trưng cầu giám định phải ghi rõ là trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại.
Điều 28. Nhận trưng cầu giám định
1. Tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn, người giám định tư pháp
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý có trách nhiệm tiếp nhận và thực hiện việc
giám định do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ở cấp huyện, cấp tỉnh
và cấp trung ương trưng cầu.
2. Tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn, người giám định tư pháp thuộc
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý có trách nhiệm tiếp nhận và thực
hiện việc giám định do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ở cấp trung
ương trưng cầu và các việc giám định phức tạp do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng ở cấp huyện, cấp tỉnh trưng cầu.
3. Tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn, người giám định tư pháp
phải từ chối nhận trưng cầu giám định nếu không có đủ trang thiết bị, phương tiện để
thực hiện giám định, nội dung yêu cầu giám định không thuộc chuyên môn hoặc vượt
quá khả năng chuyên môn của mình.
4. Căn cứ vào quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng hướng dẫn việc tiếp nhận trưng cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng
trong quân đội.
8
Điều 29. Giao, nhận đối tượng giám định
1. Trong trường hợp việc trưng cầu giám định có kèm theo đối tượng giám định
thì việc giao, nhận đối tượng giám định phải được lập thành biên bản. Biên bản giao,
nhận đối tượng giám định có nội dung chính sau đây:
A) Thời gian, địa điểm giao, nhận đối tượng giám định;
B) Họ, tên người đại diện của bên giao và bên nhận đối tượng giám định;
C) Tên đối tượng giám định;
D) Cách thức bảo quản đối tượng giám định khi giao, nhận;
Đ) Tình trạng đối tượng giám định khi giao, nhận;
E) Tài liệu hoặc đồ vật liên quan;
G) Chữ ký của bên giao và bên nhận đối tượng giám định.
2. Việc giao, nhận lại đối tượng giám định sau khi việc giám định đã hoàn thành
được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều 30. Thực hiện giám định
1. Trong trường hợp tổ chức giám định tư pháp hoặc tổ chức chuyên môn được
trưng cầu giám định thì người đứng đầu tổ chức đó cử người thực hiện giám định và
chịu trách nhiệm về việc cử người đó. Người thực hiện giám định chịu trách nhiệm cá
nhân trước pháp luật về kết luận giám định.
2. Trong trường hợp cá nhân được trưng cầu giám định thì người đó tiếp nhận và
thực hiện việc giám định. Người đứng đầu tổ chức chủ quản có trách nhiệm tạo điều
kiện cho người giám định tư pháp thực hiện giám định.
Điều 31. Giám định cá nhân, giám định tập thể
1. Giám định cá nhân là việc giám định do một người thực hiện. Giám định tập
thể là việc giám định do hai người trở lên thực hiện.
2. Trong trường hợp giám định cá nhân thì người giám định thực hiện toàn bộ
việc giám định và chịu trách nhiệm về kết luận giám định của mình.
3. Trong trường hợp giám định tập thể về một lĩnh vực chuyên môn thì những
người giám định cùng thực hiện việc giám định, ký vào bản kết luận giám định chung
và cùng chịu trách nhiệm về kết luận giám định đó; nếu có ý kiến khác nhau thì mỗi
người giám định ghi riêng ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận giám định chung
và chịu trách nhiệm về ý kiến đó.
Trong trường hợp giám định tập thể thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau
thì mỗi người giám định thực hiện phần việc giám định thuộc lĩnh vực chuyên môn của
mình và chịu trách nhiệm về kết luận giám định của mình.
9
Điều 32. Giám định bổ sung
1. Việc giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận
giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết
của vụ án đã được kết luận giám định trước đó.
2. Việc giám định bổ sung có thể do người giám định tư pháp trước đó hoặc
người giám định tư pháp khác thực hiện.
Điều 33. Giám định lại
1. Việc giám định lại được thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng trong trường hợp có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc
có mâu thuẫn giữa các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định. Việc
giám định lại có thể do người đã giám định trước đó hoặc do người giám định khác
thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng.
2. Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận
giám định lại về cùng một vấn đề cần giám định thì việc giám định lại lần thứ hai phải
do Hội đồng giám định thực hiện. Hội đồng giám định do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quản lý về lĩnh vực cần giám định
quyết định thành lập. Hội đồng giám định gồm có ít nhất ba thành viên là những người
có trình độ chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định.
3. Trong trường hợp Hội đồng giám định quy định tại khoản 2 Điều này đã thực
hiện giám định lại lần thứ hai thì không thực hiện giám định lại nữa, trừ trường hợp đặc
biệt do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
Điều 34. Văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định
1. Người thực hiện giám định phải ghi nhận kịp thời, đầy đủ và trung thực toàn
bộ quá trình thực hiện giám định bằng văn bản.
2. Văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định phải được lưu trong hồ sơ
giám định.
Điều 35. Kết luận giám định
1. Kết luận giám định phải được lập thành văn bản và có nội dung chính sau đây:
A) Họ, tên người thực hiện giám định;
B) Tên cơ quan tiến hành tố tụng hoặc họ, tên người tiến hành tố tụng trưng cầu
giám định; số văn bản trưng cầu giám định;
C) Thời gian nhận văn bản trưng cầu giám định;
D) Nội dung yêu cầu giám định;
Đ) Phương pháp thực hiện giám định;
E) Kết luận về đối tượng giám định;
G) Thời gian, địa điểm hoàn thành việc giám định.
10
2. Bản kết luận giám định phải có chữ ký của người giám định tư pháp; trong
trường hợp tổ chức được trưng cầu giám định thì bản kết luận giám định còn phải được
người đứng đầu tổ chức đó ký tên, đóng dấu.
3. Trong trường hợp việc giám định được thực hiện trước khi có quyết định khởi
tố vụ án hình sự, theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng và Pháp lệnh này quy
định thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể không trưng cầu giám định nữa mà sử dụng
kết luận giám định đó như kết luận giám định tư pháp.
Điều 36. Hồ sơ giám định
1. Hồ sơ giám định do người giám định tư pháp lập và gồm có các tài liệu sau
đây:
A) Quyết định trưng cầu giám định;
B) Biên bản giao, nhận đối tượng giám định;
C) Văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định;
D) Bản ảnh giám định;
Đ) Kết luận giám định trước đó hoặc kết quả xét nghiệm, thực nghiệm giám định
do người khác thực hiện;
E) Các tài liệu khác có liên quan đến việc giám định;
G) Kết luận giám định.
2. Hồ sơ giám định được lưu giữ ít nhất ba mươi năm, kể từ ngày kết thúc việc
giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn chịu trách nhiệm bảo quản, lưu
giữ hồ sơ giám định do người giám định tư pháp thuộc tổ chức mình thực hiện.
3. Hồ sơ giám định phải được xuất trình theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đang giải quyết vụ án.
Điều 37. Những trường hợp không được thực hiện giám định tư pháp
Người thuộc một trong những trường hợp sau đây thì không được thực hiện giám
định tư pháp:
1. Đã tiến hành tố tụng với tư cách là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán,
Hội thẩm, Thư ký Toà án hoặc đã tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên
dịch trong vụ án đó;
2. Đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của
những người đó hoặc của bị can, bị cáo;
3. Được trưng cầu giám định lại về cùng một nội dung trong một vụ án mà mình
đã thực hiện giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
4. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng người đó có thể không vô tư trong khi thực
hiện giám định.
11
CH Ư ƠNG V
PHÍ GIÁ M ĐỊ N H TƯ PHÁP
Điều 38. Phí giám định tư pháp
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp được thu phí giám định tư
pháp.
2. Phí giám định tư pháp là khoản tiền chi trả cho thù lao giám định tư pháp và
các chi phí cần thiết khác cho việc thực hiện giám định theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 39. Trả phí giám định tư pháp
1. Đối với các vụ án hình sự, phí giám định tư pháp do cơ quan tiến hành tố tụng
trả và được cấp từ ngân sách nhà nước theo dự toán hàng năm của cơ quan đó.
2. Đối với các vụ việc dân sự, vụ án hành chính thì phí giám định tư pháp do
đương sự chịu theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật tố tụng hành
chính.
Trong trường hợp đương sự phải chịu phí giám định tư pháp thuộc diện nghèo,
đối tượng chính sách thì có thể được miễn hoặc giảm phí giám định tư pháp theo quy
định của Chính phủ.
Điều 40. Quản lý và sử dụng phí giám định tư pháp
Căn cứ vào pháp luật về phí và lệ phí, Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý và
sử dụng phí giám định tư pháp của tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.
CH Ư ƠNG V I
QU Ả N LÝ N HÀ N ƯỚC VỀ G I ÁM Đ ỊNH T Ư PHÁP
Điều 41. Nội dung quản lý nhà nước về giám định tư pháp
1. Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về giám định
tư pháp.
2. Thành lập tổ chức giám định tư pháp.
3. Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; cấp, thu hồi thẻ giám định viên
tư pháp; lập và công bố danh sách giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp
theo vụ việc.
4. Xây dựng các quy chuẩn chuyên môn giám định tư pháp.
5. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cần thiết
cho giám định viên tư pháp.
6. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về giám định
tư pháp.
12
7. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động và điều kiện vật chất cho hoạt động
giám định tư pháp.
8. Hợp tác quốc tế về giám định tư pháp.
Điều 42. Cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện quản lý nhà
nước về giám định tư pháp.
3. Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ thực hiện việc quản lý về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp thuộc
lĩnh vực do bộ, ngành mình quản lý.
4. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành hữu
quan trong việc thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
5. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước về giám định tư
pháp ở địa phương theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật
có liên quan.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước
về giám định tư pháp
1. Ban hành hoặc soạn thảo, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn
bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp và hướng dẫn thi hành các văn bản đó.
2. Cấp, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; lập và công bố danh sách giám định
viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc.
3. Ban hành và hướng dẫn sử dụng các mẫu văn bản giám định tư pháp.
4. Xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định
viên tư pháp; phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến
thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp.
5. Thực hiện quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về giám định tư pháp.
6. Tổng kết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư
pháp.
Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc quản lý về tổ chức, hoạt
động giám định tư pháp thuộc lĩnh vực do bộ, ngành mình quản lý
1. Thành lập tổ chức giám định tư pháp theo thẩm quyền.
2. Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo thẩm quyền; lập danh sách
người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc bộ, ngành mình quản lý.
3. Đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp theo
thẩm quyền.
13
4. Xây dựng các quy chuẩn chuyên môn giám định tư pháp.
5. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động và các điều kiện vật chất cần thiết
khác cho hoạt động giám định tư pháp.
6. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cần thiết cho
giám định viên tư pháp.
7. Kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động giám
định tư pháp theo thẩm quyền.
8. Tổng kết, báo cáo Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp.
9. Hợp tác quốc tế về giám định tư pháp thuộc lĩnh vực bộ, ngành mình quản lý.
Điều 45. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quản
lý nhà nước về giám định tư pháp
1. Quyết định thành lập tổ chức giám định tư pháp theo thẩm quyền.
2. Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo thẩm quyền; lập danh sách
người giám định tư pháp theo vụ việc ở địa phương.
3. Đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp theo
thẩm quyền.
4. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động và các điều kiện vật chất cần thiết
khác cho hoạt động giám định tư pháp ở địa phương.
5. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cần thiết cho
giám định viên tư pháp ở địa phương.
6. Kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về giám định tư pháp theo
thẩm quyền.
7. Tổng kết, báo cáo Bộ Tư pháp về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở địa
phương.
Điều 46. Khiếu nại, tố cáo
1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước trong lĩnh vực giám định tư pháp khi có căn cứ cho rằng quyết định
hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
Việc giải quyết khiếu nại về giám định tư pháp quy định tại khoản này được thực
hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
2. Trong trường hợp người tham gia tố tụng có căn cứ cho rằng kết luận giám
định tư pháp không chính xác, không khách quan, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích
hợp pháp của mình thì có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng trưng cầu giám định lại. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu,
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải ra quyết định hoặc từ chối yêu
cầu việc trưng cầu giám định lại; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do cho
người yêu cầu bằng văn bản.
14

Tổng quan về Trái Đất


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tổng quan về Trái Đất": http://123doc.vn/document/551269-tong-quan-ve-trai-dat.htm


I9>`PD
I9>`PD



TC6
(CX*
0BF7=#a7b<$c&d6
!>!Aef%99Kgh`i>`0
!>!Aef%99Kgh`i>`0

1j7?##j&kjNl?m&?,jj
1j7?##j&kjNl?m&?,jj





<?H!7j
<?H!7j
n-:^7;#$FH&12
n-:^7;#$FH&12
g *X(U  U@
) @UU ! U(6
m7 UC*6 !7 U U
oj U* U n U
! U( 6 ) UU
9 U *U D UU
' U (6 o UU(
D U (6 P UU6
 UUU 9 UU*
7;#$FHZoj!9!&p\:
7;#$FHZoj!9!&p\:
j&B?q#
j&B?q#
!"
#
#
!!
$%&'()*+%&,+-&./0%
D.B=B,?#:j&B?q#
j&,-G7,O
[12r$$sO7b<U[6UV
cT[U
[
DO(*TT#&Q,j&j
[
9qO TT(#&Q`&Zoj\9j7Z9\
j&.78O
[
"#$%Z7&?,jj\$&dUUZ
7b<?q#c\
[
A#$%Zm?j&?,jj\?q#+ 6U3(6U
tud$
[D&$&d 6UUtvr
d:d$
[9q&$ 6UGoj972
[9q& (Uoj9t
!
!
A. S   v trí các quy n
!

Bài 23: Các cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỷ VII - Ĩ


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Bài 23: Các cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỷ VII - Ĩ": http://123doc.vn/document/552423-bai-23-cac-cuoc-khoi-nghia-lon-trong-cac-the-ky-vii-i.htm



NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA LỚN
NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA LỚN
TRONG CÁC THẾ KỶ VII - IX
TRONG CÁC THẾ KỶ VII - IX
1. Dưới ách đô hộ của nhà Đường, nước
ta có gì thay đổi?
BÀI 23
BÀI 23
Về mặt hành chính, đất nước ta dưới
thời thuộc Đường đã được tổ chức như
thế nào?
- Năm 679, nhà Đường đổi Giao Châu
thành “An Nam đô hộ phủ”. Các châu,
huyện do người Trung Quốc cai trị. Dưới
huyện là hương và xã vẫn do người Việt
cai quản.

1. Dưới ách đô hộ của nhà Đường, nước
ta có gì thay đổi?
Việc nhà Đường
cho sửa sang các
đường giao thộng
nhằm mục đích gì?
Tiện việc bóc lột
và đàn áp các
cuộc khởi nghĩa
nhân dân.
Theo em, chính sách
cai trị, bóc lột của
nhà Đường có gì
khác trước?
- Ngoài thuế ruộng,
nhà Đường còn đặt
ra nhiều thứ thuế
khác. Hàng năm
phải cống nạp
những sản vật quí.
- Đến mùa vải, nhân
dân An Nam còn
phải thay nhau gánh
vải sang Trung
Quốc nộp cống.

2. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan
Em hãy cho biết đôi nét về Mai Thúc Loan?
- Mai Thúc Loan người làng Mai Phụ. từ
nhỏ phải đi kiếm củi, chăn trâu. Ông rất
khôi ngô, thông minh.
Vì sao Mai Thúc Loan kêu gọi mọi người
khởi nghĩa?
- Cuối những năm 10 của thế kỷ VIII, trên
đường đi gánh vải cống nạp, ông kêu gọi
mọi người bỏ về quê chuẩn bị nổi dậy.
- Mai Thúc Loan người làng Mai Phụ. từ
nhỏ phải đi kiếm củi, chăn trâu. Ông rất
khôi ngô, thông minh.

2. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan
- Nghĩa quân nhanh chóng chiếm thành
Hoan Châu. Mai Thúc Loan xưng vua (Mai
Hắc Đế) và đóng đô ở thành Vạn An.
- Năm 722, nhà Đường mang 10 vạn quân
sang đàn áp.
- Nghĩa quân nhanh chóng chiếm thành
Hoan Châu. Mai Thúc Loan xưng vua (Mai
Hắc Đế) và đóng đô ở thành Vạn An.

3. Khởi nghĩa Phùng Hưng (trong khoảng
776 – 791)
Em hãy cho biết đôi nét về Phùng Hưng?
- Phùng Hưng quê ở Đường Lâm – Ba Vì
(Hà Tây). Ông rất khỏe, giàu lòng thương
người, nhân dân ai cũng mến phục.
Nguyên nhân bùng nổ cuộc khởi nghĩa?
- Khoảng năm 776, Phùng Hưng cùng
em là Phùng Hải đã tập hợp nghĩa quân
khởi nghĩa ở Đường Lâm. Nhân dân nổi
dậy hưởng ứng và làm chủ vùng đất
của mình.

3. Khởi nghĩa Phùng Hưng (trong khoảng
776 – 791)
- Phùng
Hưng
chiếm
thành
Tống
Bình và
sắp đặt
việc cai
trị.

- Phùng
- Phùng
Hưng mất,
Hưng mất,
con là
con là
Phùng An
Phùng An
lên thay.
lên thay.
Năm 791,
Năm 791,
nhà Đường
nhà Đường
mang quân
mang quân
sang đàn
sang đàn
áp. Phùng
áp. Phùng
An ra
An ra


hàng
hàng.
3. Khởi nghĩa Phùng Hưng (trong khoảng
776 – 791)

ĐÌNH THỜ PHÙNG HƯNG Ở ĐƯỜNG LÂM (HÀ TÂY)

CỦNG CỐ
CỦNG CỐ


CỦNG CỐ
CỦNG CỐ


1. Nhà Đường đổi Giao Châu thành tên mới
1. Nhà Đường đổi Giao Châu thành tên mới
là gì?
là gì?
A. An Nam Đô hộ phủ.
A. An Nam Đô hộ phủ.
B. Giao Chỉ.
B. Giao Chỉ.
C. Tượng Lâm.
C. Tượng Lâm.
D. Phong Châu.
D. Phong Châu.

CỦNG CỐ
CỦNG CỐ


CỦNG CỐ
CỦNG CỐ


2. Ai được nhân dân gọi là Vua Đen?
2. Ai được nhân dân gọi là Vua Đen?
A. Lý Bí.
A. Lý Bí.
B. Mai Thúc Loan.
B. Mai Thúc Loan.
C. Phùng Hưng.
C. Phùng Hưng.
D. Triệu Quang
D. Triệu Quang
Phục
Phục
.
.

CỦNG CỐ
CỦNG CỐ


CỦNG CỐ
CỦNG CỐ


3. Nhân vật lịch sử nào của nước ta đã lãnh
3. Nhân vật lịch sử nào của nước ta đã lãnh
đạo nghĩa quân vây thành làm cho viên
đạo nghĩa quân vây thành làm cho viên
quan đô hộ nhà Đường phải cố thủ trong
quan đô hộ nhà Đường phải cố thủ trong
thành rồi sinh bệnh mà chết?
thành rồi sinh bệnh mà chết?
A. Mai Thúc Loan.
A. Mai Thúc Loan.
B. Phùng Hưng.
B. Phùng Hưng.
C. Khúc Thừa Dụ.
C. Khúc Thừa Dụ.
D. Triệu Quang Phục.
D. Triệu Quang Phục.

 VỀ NHÀ TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI
TRONG SÁCH GIÁO KHOA CỦA
BÀI NÀY.
 XEM TRƯỚC BÀI 24 NƯỚC
CHAM PA TỪ THẾ KỶ II ĐẾN THẾ
KỶ X.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

các biện pháp phòng chống về tham nhũng và vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các biện pháp phòng chống về tham nhũng và vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế": http://123doc.vn/document/553724-cac-bien-phap-phong-chong-ve-tham-nhung-va-van-de-tut-hau-xa-hon-ve-kinh-te.htm


việc giải quyết vấn nạn này. Văn kiện Đại hội IX ĐCSVN nêu rõ: "Hiện nay,
cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang hết sức quan tâm đến cuộc đấu tranh
chống tham nhũng. Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng kéo dài gây bất bình
trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Phải
tăng cờng về tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham
nhũng trong bộ máy Nhà nớc và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các
ngành, từ TW đến cơ sở?
1.1.2. Tụt hậu xa hơn về kinh tế, mặt yếu kém của sự phát triển
Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền
kinh tế thị trờng trong bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới đang trong quá trình
cơ cấu lại một cách sâu sắc. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu vực châu á với
nền văn minh Trung Hoa đặc sắc và có sự phát triển kinh tế năng động nhất
trong thập kỷ qua. Liệu Việt Nam có phát triển vợt lên đợc theo con đờng ph-
ơng Đông, con đờng Việt Nam riên của mình hay không?
So với nhiều nớc trong khu vực, sự phát triển của Việt Nam đang bị chậm
vài thập kỷ, Việt Nam đã bị tụt hậu khá xa về kinh tế, là một trong những nớc
nghèo nhất thế giới và có nguy cơ tụt hậu mạnh hơn nữa nếu không có một đ-
ờng lối, chiến lợc thông minh và có một quyết tâm cao.
Đó là sự nhìn nhận với nền kinh tế Việt Nam. Còn nhìn vào sự tụt hậu xa
hơn về kinh tế giữa các nớc trên thế giới. Với xu thế càng ngày càng phát triển
hiện nay thì khoảng cách giữa các nền kinh tế, các nớc ngày càng đợc gia tăng.
Song, có không ít những thăng trầm trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử.
Với điểm xuất phát rất cao, các cờng quốc nh Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản
(các nớc phát triển) rất thuận lợi. Trong quá trình phát triển kinh tế nhng với
điểm xuất phát thấp nh Việt Nam, Lào, Campuchia và một số nớc châu Phi,
châu Mỹ (các nớc chậm và kém phát triển) thì việc phát triển kinh tế là vấn đề
rất nan giải. Trong những năm 90, thế giới đã chứng kiến sự thay đổi lớn lao ch-
a từng có kể từ đầu thế kỷ đến nay. Sự kiện nổi bật nhất là sự sụp đổ của mô
hình xây dựng chủ nghĩa xã hội Xô viết, kéo theo đó là sự sụp đổ của cả hệ
thống xã hội chủ nghĩa. Tác động của những sự kiện đó đối với nền kinh tế thế
5
giới rất to lớn, chúng đã, đang và sẽ diễn ra có thể cho đến nay chúng ta vẫn cha
lờng trớc đợc.
Thực vậy, trong thập kỷ 90 chiều hớng giảm sút nhịp độ tăng kinh tế toàn
cầu có thể tiếp tục. Bảng số liệu mức tăng tổng sản phẩm xã hội (% so với năm
trớc) sau đây cho ta rõ chiều hớng giảm sút đó.
Nớc 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992
- Các nớc XHCN trớc đây 2,9 2,0 4,1 1,3 -2,2 -9,7 -16,8
- Các nớc phát triển 2,7 3,3 4,4 3,3 2,9 1,6 1,0
- Các nớc đang phát triển 2,6 2,9 3,7 4,4 3,3 3,2 3,0
Theo đánh giá của cơ qua dự báo quốc tế, trong những năm tới, mức tăng
tổng thu nhập quốc dân của hầu hết các nớc phát triển đều chỉ đạt 0,1% còn ở
một số nớc khác là âm còn mức tăng trởng của các nớc đang phát triển và kém
phát triển còn tồi tệ hơn nữa. Từ đó cho thấy, ngay trong những giai đoạn suy
sụp nhất của nền kinh tế thế giới, nhng các nớc phát triển vẫn giữ đợc mức tăng
trởng dơng dù là nhỏ. Còn các nớc khác là âm. Từ đó cho thấy khoảng cách
(hay tụt hậu xa hơn về kinh tế) giữa các nớc trên thế giới là không thể tránh
khỏi.
1.2. Thực trạng và những vấn đề tồn tại của tham nhũng ở nớc ta
1.2.1. Thực trạng của tham nhũng
Từ trớc đến nay Đảng và Nhà nớc ta luôn chú trọng phòng, chống tham
nhũng. Ngay từ năm 1945 sau khi dành đợc chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách mạng, thực hành
"cần kiệm, liêm chính". Ngời đã chỉ rõ : Tham ô lãng phí, quan liêu là giặc "nội
xâm". Trong thời kỳ xây dựng XNXH ở miền Bắc. Đảng ta đã tiến hành cuộc
vận động "3 xây, 3 chống". Bớc vào công cuộc đổi mới, Đại hội Đảng VI của
Đảng đã yêu cầu tiến hành cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao hiệu lực
quản lý của cán bộ bộ máy nhà nớc, đẩy lùi và xoá bỏ các hiện tợng tiêu cực,
làm lành manh hoá các quan hệ xã hội. Bộ chính trị đã có Nghị quyết số:
04/NQ/TW (12-9-1987) để chỉ đạo cuộc vận động này. Sau đó Ban bí th đã có
chỉ thị số: 64-CT và Hội đồng Bộ trởng có quyết định số: 240/HĐBT (26-6-
6
1990) về đấu tranh chống tham nhũng: Đại hội VIII trong Văn kiện Đại hội ghi
rõ nội dung của nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng. Tháng 2-1998, Uỷ ban
thờng vụ quốc hội đã thông qua Pháp lệnh chống tham nhũng. Tháng 2-1999
Hội nghị TW 6 (lần 2) khoá VIII đã đề ra nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn
Đảng. Đại hội Đảng IX (tháng 4-2001) đã quyết định thực hiện nghị quyết về
xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết TW 6 (lần 2) khoá VIII, tập trung làm tốt
công tác giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá
nhân, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Tháng11-2001 Hội nghị
trung ơng lần thứ 4 (khoá IX) đã ra kết luận số: 04/KL-TW về tiếp tục thực hiện
cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tệ nạn tham
nhũng, lãng phí. Kết luận của Trung ơng đã xác định chống tham nhũng lãng
phí là nhiệm vụ trớc mắt, đồng thời cần nhận rõ đây là cuộc đấu tranh khó khăn,
quyết liệt lâu dài, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong quá trình thực hiện chủ trơng chống tham nhũng của Đảng và Nhà
nớc, các tổ chức, chính quyền đoàn thể TW - địa phơng đã bền bỉ, tích cực đấu
tranh và đạt đợc một số kết quả nh: Đã phát hiện và xử lý đợc nhiệm vụ tham
nhũng, trừng trị nghiêm khắc những kẻ đục khoét tài sản của Nhà nớc, tập thể
và của dân; thu hồi lại cho nhà nớc và trả lại cho dân một giá trị tài sản rất lớn,
đã xây dựng và hoàn thiện nhiều cơ chế chính sách quản lý có tác dụng hạn chế
một phần tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng. Những việc đó đã góp phần vào
sự nghiệp đổi mới, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy Nhà nớc, đảm bảo an
ninh chính trị xã hội đất nớc. Mặc dù có những cố gắng quyết tâm nhng cuộc
đấu tranh chống tham nhũng ở nớc ta đạt kết quả còn thấp, hiệu quả rất hạn chế.
Có nhiều lĩnh vực và thậm chí ngày càng nghiêm trọng hơn trớc. Tham nhũng
xảy ra rộng khắp trong bộ máy nhà nớc, ở hầu hết các ngành các cấp từ trên
xuống dới với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn.
Đã có nhiều doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp t nhân thua lỗ, phá sản vì tệ
nạn tham nhũng. Tệ nạn tham ô, ăn cắp của công, cố ý làm trái vì động cơ vụ
lợi cá nhân, báo cáo sai sự thật để thanh quyết toán khống, bòn rút công quỹ
trong các lĩnh vực để làm giàu bất chính, lạm dụng chức quyền để nhũng
7
nhiễu đã lan rộng khắp các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, th ơng
binh xã hội. Tham nhũng đã xâm nhập ngay vào các cơ quan bảo vệ, pháp luật,
là những công cụ chủ yếu trong đấu tranh chống tham nhũng và giữ gìn an ninh
trật tự, xã hội.
Một câu hỏi đợc đặt ra: Vì sao tham nhũng lại diễn ra phổ biến và nghiêm
trọng nh vậy? Mặc dù Đảng và Nhà nớc ta ban hành nhiều chỉ thị, Nghị quyết,
đã tiến hành nhiều cuộc vận động lớn, đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ rất nghiêm
khắc, mặc dù bị cả xã hội lên án, ai ai cũng căm ghét phẫn nộ, nhng tệ nạn tham
nhũng cha bị đẩy lùi, ngăn chặn, thậm chí còn phát triển hơn, nghiêm trọng
hơn.
Trớc câu hỏi này đặt ra rất nhiều vấn đề nh cơ chế chính sách cha hoàn
thiện, còn sơ hở, về đời sống khó khăn, lơng thấp, có ngời cho rằng vì phẩm
chất đạo đức suy thoái, công tác giáo dục đào tạo cán bộ đảng viên kém, ngời
thì cho rằng các nhà lãnh đạo không gơng mẫu, cha chống đều khắp từ trên
xuống dới, công tác điều tra còn bị coi nhẹ, kém hiệu quả, việc xử lý các vụ
tham nhũng cha nghiệm Theo báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 10 khoá
IX đã phát hiện và xử lý trên 500 vụ tham nhũng với tổng số tài sản thiệt hại
trên 1,2 tỷ đồng và 34 triệu USD. Đặc biệt năm 1996 ta đã phát hiện 10 vụ tham
nhũng lớn trên 100 tỷ đồng/vụ. Theo báo cáo của Chánh án Toà án Nhân dân tối
cao trớc Quốc hội, từ năm 1992 - 1997 toà án xét xử 3621 vụ tham nhũng với
6315 bị cáo, trong đó có 64,5% số bị cáo bị tù, 10 tên bị tuyên phạt tử hình. Và
đến nay vẫn liên tiếp xảy ra các vụ án lớn nghiêm trọng gây thiệt hại lớn đến
tiền của của Nhà nớc và nhân dân, gây mất ổn định về kinh tế xã hội. Tiêu biểu
nh việc phát hiện thu hồi về cho Nhà nớc hàng nghìn tỉ đồng, hàng chục ngàn
héc ta đất, cùng nhiều tài sản có giá trị khác, xử lý hàng chục nghìn cán bộ sai
phạm, công chức sai phạm nh EPCO - Minh Phụng; Tân Trờng Sanh; Nhà máy
dệt Nam Định. Gần đây tiếp tục làm rõ các vụ án lớn nh: Công ty thơng mại
Đồng Tháp; Công ty lơng thực an Giang; Công ty dợc xuất nhập khẩu Cà Mau,
vụ Năm Cam cũng đã có tác dụng phòng ngừa, răn đe giáo dục mọi ng ời
trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
8
1.2.2. Những vấn đề tồn tại
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quan liêu tham nhũng là những hiện
tợng xã hội gắn liền với sự hình thành xã hội có giai cáp và sự ra đời và phát
triển của bộ máy Nhà nớc Chúng là những căn bệnh đồng hành đặc tr ng của
mọi nhà nớc, là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, là biểu hiện của sự tha hoá
"quyền lực nhà nớc", tệ nạn tham nhũng, quan liêu diễn ra ở tất cả các quốc gia,
không phân biệt chế độ chính trị xã hội, không kể quốc gia đó giàu nghèo, ở
trình độ phát triển thấp hay cao. Chúng len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội,
làm giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nớc, làm xói mòn đạo đức, phẩm
chất con ngời, gây ra sự cản trở đi lên và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, hình
thức, tính chất và mức độ quan liêu, tham nhũng không mang tính cố định, bất
biến mà thay đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế chính trị xã hội và trình độ dân
trí, khả năng quản lý xã hội của Nhà nớc.
Với việc tham nhũng ngày càng gia tăng, và có quy mô ngày càng lớn nh
hiện nay. Và với các biện pháp phòng ngừa đang dần dần có hiệu quả. Nếu nh
những yếu tố của các chiến dịch chống tham nhũng thành công cho đến nay đã
đợc hiểu tơng đối đầy đủ, thì việc thực hiện và duy trì chúng lại cực kỳ khó
khăn. Bất kỳ yếu tố nào cũng đều có thể góp phần đa chúng đến chỗ thất bại.
Hơn nữa, những nơi mà tham nhũng hoành hành và ăn sâu vào toàn bộ bộ máy
chính phủ, thì các cơ hội để bắt đầu cải cách sẽ rất hiếm hoi và hàng loạt cản trở
sẽ xuất hiện.
Thêm vào đó, áp lực cải cách bắt nguồn từ những đẳng cấp thấp hơn trong
bộ máy quan liêu có thể bị cản trở do sự thiếu vắng ý chí hay sự quan tâm chính
trị trong những công chức ở cấp cao hơn và các quan chức chính trị. Tại bất cứ
trong tiến trình này, sự thiếu vắng một cam kết từ cấp cao nhất hay tầng thấp
nhất đều có thể thực sự phá hỏng những nỗ lực cải cách. Hơn nữa, cải cách có
thể bị đe doạ nếu nh, một nhân vật có thế lực không tuân thủ hay một công chức
làm chậm tiến độ của nó.
Cũng nh những nỗ lực cải cách phải đợc sự hỗ trợ rộng rãi, chúng phải đ-
ợc hớng vào tất cả những ngời liên quan và hởng lợi từ tham nhũng. Những
9
chiến dịch nhằm vào những ngời vi phạm lặt vặt, hay xử lý chẳng hạn, một vài
thành viên trong những phần tử có thế lực, mà không xử lý tham nhũng một
cách có hệ thống thì sẽ mau chóng làm mất hết hợp pháp và tạo ra những tấm g-
ơng có sức khuyến khích những hành động sai trái tiếp diễn trong toàn thể các
thành viên của xã hội. Cải cách cũng có thể kém hiệu quả nếu đợc tiến hành
một cách vô tổ chức, phối hợp kém, có tính đột xuất, hoặc nếu việc dựa quá
nhiều vào luật pháp và cỡng chế sẽ dẫn đến tình trạng nguy cơ tham nhũng lớn
nhất. Cán bộ luật cần giữ một vai trò quan trọng trong việc xử phạt những kẻ vi
phạm, song chúng cần đợc bổ sung bằng những cuộc vận động nâng cao nhận
thức của dân chúng bằng giáo dục và cải cách trên diện rộng.
1.2.3. Tác hại của tham nhũng với phát triển kinh tế
Tham nhũng sinh ra hàng loạt tác hại cho xã hội. Tham nhũng gây tổn hại
to lớn về mặt kinh tế cho sự phát triển xã hội, kéo lùi sự phát triển theo quy mô
và mức độ gây hại của nó. Chỉ riêng tổng thóng Môbutu của nớc Công gô với số
tiền tham nhũng trong các năm cầm quyền lên tới 9 - 10 tỷ USD đã bằng70% số
nợ nớc ngoài của nớc này.
Nó làm giảm lòng tin của công dân đối với bộ máy và công chức, viên
chức của bộ máy nhà nớc, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Điều
này đã đợc V.I. Lênin khuyến cáo. Nếu có cái gì đó có thể tiêu diệt đợc chủ
nghĩa xã hội thì đó là tham nhũng quan liêu. Đây cũng là bài học hàng đầu mà
Đảng ta rút ra tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, đó là bài học lấy dân làm gốc,
dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra.
Tham nhũng sẽ làm "tầm thờng hoá" hệ thống pháp luật của nhà nớc, kỷ
cơng xã hội không thể giữ vững và là cơ hội cho kẻ thù phá hoại xâm lợc. Nếu
các nhà hàng pháp mà tự mình phá bỏ luật pháp thì làm sao có thể duy trì đợc
phép nớc. Những kẻ tham nhũng chính là những tên đầu trò trong việc làm tê
liệt hệ thống hành pháp: làm cho nhà nớc trở thành đối lập và là gánh nặng cho
công dân. Tham nhũng tất yếu sẽ dẫn đến phá hoại đội ngũ cán bộ nhà nớc bởi
vì những kẻ tham nhũng sẽ lừa dói và hủ hoá cấp trên, làm cho bộ máy nhà nớc
trở thành quan liêu, chúng sẽ tăng cờng đa thêm kẻ xấu vào guồng máy và triệt
hại đội ngũ viên chức tốt. Những kẻ tham nhũng chính là những tên phá hoại từ
10
bên trong của hệ thống hành chính quốc gia. Tham nhũng là căn bệnh mãn tính
của nhiều quốc gia, khi các viên chức xấu đã mất lơng tri và đạo đức của mình.
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng ta cũng một lần nữa khẳng định: Nạn tham
nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống
chính trị. Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã có các biện pháp khắc phục song
hiệu quả còn thấp. Phải tién hành đấu tranh kiên quyết, thờng xuyên và hiệu quả
chống tham nhũng trong bộ máy nhà nớc, những biện pháp cấp bách với những
giải pháp có tầm chiến lợc nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, kiện toàn tổ
chức, chấn chỉnh công tác quản lý, khắc phục sơ hở, vừa xử lý nghiêm kịp thời
mọi vi phạm, tội phạm, huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lợng đấu tranh.
Làm ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ tham nhũng. Thủ trởng các cơ quan đơn vị
chủ chốt các cấp phải gơng mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, trớc
hết là đối với bản thân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với đấu tranh
chống buôn lậu, lãng phí, quan liêu, tập trung vào các hành vi tham ô, chiếm
đoạt làm thất thoát tài sản nhà nớc, đòi hối lộ, đa và nhận hối lộ.
11
Tham nhũng
Tài nguyênChức quyền Tài sản khác
Trong nớc Ký kết móc ngoặt
với nớc ngoài
Đất
đai
Phá hoại công
trình di tích
Tiền
Thông
tin
Phơng tiện
làm việc
Chơng II: Vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế ở nớc
ta
2.1. Các vấn đề của tụt hậu kinh tế
Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền
kinh tế thị trờng trong bố cảnh kinh tế - chính trị thế giới đang trong quá trình
cơ cấu lại một cách sâu sắc. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu vực châu á với
nền văn minh Trung Hoa đặc sắc và có sự phát triển kinh tế năng động nhất
trong mấy thập kỷ qua. Liệu Việt Nam có phát triển vợt lên theo con đờng ph-
ơng Đông, con đờng Việt Nam riêng có của mình hay không?
So với nhiều nớc trong khu vực, sự nghiệp phát triển của Việt Nam bị
chậm vài thập kỷ. Việt Nam đã bị tụt hậu khá xa về kinh tế, là một trong những
nớc nghèo nhất thế giới và có nguy cơ sẽ còn tụt hậu mạnh hơn nữa nếu không
có đờng lối, chiến lợc thông minh và một quyết tâm cao.
Nớc và lãnh
thổ
Năm xuất phát
cất cánh
Dân số (Triệu
ngời)
GN1* (tỷ
USD)
GDP/ngời USD
Đài Loan 1960 11 11 1000
Hàn Quốc 1960 25 18 700
Thái Lan 1960 26 8 300
Inđônêxia 1967 111 17 150
Việt Nam 1990 66 10-14 150-200
Bảng I: So sánh xuất phát điểm kinh tế của Việt Nam và một số nớc
và lãnh thổ trong khu vực
Để tránh tụt hậu, chắc chắn Việt Nam phải hội nhập vào cộng đồng thế
giới, nhng hội nhập thế nào, theo hớng nào, theo phơng thức nào, tiếp thu cái gì
là một vấn đề lựa chọn mang tính quyết định. Trong khi đang tiếp tục tiến hành
mới và phát triển kinh tế Việt Nam phải đối mặt với chính mình với quá khứ và
di sản của mình.
Khi đất nớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa thực chất là một cuộc giải phóng xã hội lần thứ 2, theo đó mỗi tiềm năng
của môi cá nhân, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội, mỗi địa phơng và vùng lãnh thổ đ-
12
ợc "giải phóng". Sự kết nối, tác động tơng hỗ giữa chúng sẽ đợc thực hiện thông
qua một cơ chế mới là cơ chế thị trờng kết hợp với các chuẩn mực đạo đức, văn
hoá và xã hội mang bản sắc Việt Nam.
Trên một thập kỷ qua, công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng đa
đa đất nớc ta thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội, đạt đợc sự tăng trởng
cao và liên tục từ năm 1991, đời sống nhân dân đã ngày đợc cải thiện, nhiều
mặt của đời sống xã hội đã đợc thay đổi tích cực; nền kinh tế đã đợc mở cửa với
thế giới gúp Việt Nam sử dụng đợc các lợi thế so sánh của mình có đợc nguồn
tăng trởng quan trọng bên ngoài Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện nhiều vấn đề
mới khiến chúng ta phải suy ngẫm. Các quan hệ kinh tế thị trờng một mặt phá
vỡ những cơ cấu và cơ chế kìm hãm phát triển, nhng mặt khác cũng gây ra
những vấn đề mới, mặt tiêu cực, mặt trái cần phải đợc xem xét và xử lý.
2.2. Nguyên nhân của tụt hậu xa hơn về kinh tế
Kể từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) đã lãnh đạo nhân dân
ta vợt qua hết các khó khăn này tới khó khăn khác. Nhân dân ta đã đánh bại tên
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ để xây dựng lên n ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Và kể từ khi đất nớc đợc hoàn toàn giải phóng Đảng lại lãnh đạo nhân dân ta
trong công cuộc phát triển kinh tế. Song, ngoài những thành tựu rất đáng kể,
chúng ta còn có những khó khăn riêng. Đó là sự tụt hậu hơn so với đà phát triển
của thế giới. Mà sự tụt hậu này ngoài những nguyên nhân chủ quan, còn có
những nguyên nhân khách quan của nó.
Thứ nhất, do hậu quả của 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã tàn phá những
thành tựu của dân tộc ta. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã phải chống đỡ với rất
nhiều khó khăn: khó khăn về đất nớc mất chủ quyền, và nền kinh tế bị lạm phát
và Đảng và nhân dân ta đã phải gồng mình chống đỡ. Năm 1954 thì miền Bắc
mới hoàn toàn giải phóng để đi lên phát triển kinh tế, nhng miền Nam vẫn bị đô
hộ của đế quốc Mỹ. Do đó lúc bấy giờ việc quan trọng nhất là giải phóng miền
Nam. Và khi đó miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội với các khẩu hiệu:
"Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "tất cả vì miền Nam thân yêu". Nhng không
chỉ đơn thuần phát triển kinh tế, miền Bắc cũng phải chịu những cuộc rải thảm
13
bằng bom rất ác liệt, nó đợc ví nh "Điện Biên Phủ trên không", đế quốc Mỹ đã
ném xuống miền Bắc hàng triệu tấn bom để ngăn cản miền Bắc đi lên và sự chi
viện của miền Bắc cho miền Nam. Khi đó hàng trăm ngàn tấn bom đạn của Mỹ
đã tàn phá rất nhiều những thành tựu của miền Bắc, nhng không vì thế mà miền
Bắc không phát triển, không viện trợ cho miền Nam ruột thịt. Miền Bắc vẫn
phát triển và ngày càng viện trợ nhiều về ngời và tài sản cho miền Nam. Và đến
năm 1975 đã chứng kiến cuộc một nớc thuộc địa nhỏ đã đánh bại một tên trùm
đế quốc xâm lợc lớn. Kể từ đó nớc ta hoàn toàn thống nhất, và nhân dân ta bây
giờ chỉ còn việc bắt tay vào phát triển kinh tế. Nhng nhìn vào toàn cảnh đất nớc
ta năm đó, thì Việt Nam bị tàn phá hết sức nặng nề mà để xây dựng lên các cơ
sở hạ tầng nh vậy để phục vụ cho phát triển thì ta cần rất nhiều thời gian, tiền
của và công sức.
Thứ hai, ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, đặc biệt là ngay sau
khi miền Bắc đi vào xây dựng xã hội mới. Khi đang tìm tòi con đờng nối tiếp
hợp lý với lịch sử và bứt ra khỏi quá khứ thì do hoàn cảnh của lịch sử lúc đó,
chúng ta đã thu nhập mô hình kế hoạch hoá tập trung của Liên Xô và Trung
Quốc cùng với việc nhận thức và vận dụng cha sáng tạo t tởng Mác - Lênin
trong mô hình xây dựng kinh tế phù hợp với điều kiện ở nớc ta. Khi đang còn
mò mẫm với mô hình kinh tế du nhập nói trên và đang bắt đầu trăn trở với các
vấn đề nảy sinh trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nớc làm gián đoạn con đ-
ờng tìm tòi, sáng tạo mô hình kinh tế mới, mô hình tổ chức xã hội mới. Nh vậy,
ở Việt Nam có một sự kết hợp giữa t tởng Nho giáo, t tởng Mác - Lênin đã có
phần bị giáo điều hoá và đợc nhận thức, đợc nuôi dỡng trong môi trờng chiến
tranh lâu dài. Vì vậy mô hình kinh tế Việt Nam là một mô hình rất đặc trng, pha
trộn nhiều màu sắc, phản ánh nhiều xu thế và rất phức tạp.
Lý luận Mác - Lênin là học thuyết khoa học có vị trí đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển xã hội, trong đời sống chính trị thế giới và phong trào công
nhân quốc tế. Nó là nền tảng cho sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới, thể hiện sự khát vọng cao cả của nhân loại, hớng tới một chế độ xã hội tốt
đẹp hơn, tiến bộ hơn theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này. Việc sụp đổ của hệ
14

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Tài liệu THE BLACK MAN''''''''S PLACE IN SOUTH AFRICA pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu THE BLACK MAN''''''''S PLACE IN SOUTH AFRICA pdf": http://123doc.vn/document/1037313-tai-lieu-the-black-mans-place-in-south-africa-pdf.htm


that the Bantu women exhibit a straightness of form which may well be envied by the
ladies of civilisation.
It is generally accepted that the African Natives have a bodily odour of their own
which is sui generis in that it is supposed to be different from that of other human
races. Some early travellers have compared it with the smell of the female crocodile,
and many people believe it to be a racial characteristic denoting a comparatively
humble origin and intended by nature as a signal or warning for the rest of human kind
against close physical contact with the African race. A recent student of the Negro
question in America gives it as his opinion that this odour is "something which the
Negroes will have difficulty in living down."
[4]
To most Europeans this smell seems to
be more or less unpleasant but it must not be forgotten that it does not seem to affect
the large numbers of white men of all nationalities who have found and still find
pleasure in continued and intimate intercourse with African women. It would seem as
if highly "refined" Europeans are nowadays given to exaggerate the sensation
produced on their over delicate olfactory nerves by the exhalations caused by
perspiration through a healthy and porous skin. In many of the so-called Ladies'
Journals published in England and America advertisements appear regularly vaunting
chemical preparations for the disguising of the odour of perspirationwhich, it is
alleged, mars the attractiveness of women. If this is so it would seem that the nostrils
of the modern European are rather too easily offended by the natural smell of his kind.
However this may be there is no evidence for believing that the African's bodily smell
is more animal-like than that of any other race.
If there is one thing which the white man of South Africa is sure about it is the
comparative thickness of the "nigger skull," but this notion also would appear to be
one of the many which have no foundation in fact.
The opinion of medical men, based upon actual observation and measurement, is to
the effect that there is no evidence to support the contention that the Native skull is
thicker than that of the European.
[5]
That the thick, woolly hair of the Native may
account for his supposed comparative invulnerability to head injuries has not occurred
to the layman observer who is more often given to vehement assertion than to careful
enquiry.
The supposed arrest of the brain of the Bantu at the age of puberty owing to the
closing of the sutures of the skull at an earlier age than happens with Europeans is
another popular notion for which a sort of pseudo-scientific authority may be quoted
from encyclopædias and old books of travel. The opinion of modern authorities on this
subject is that those who say that the closure of the sutures of the skull determines
brain growth would or should also say that the cart pulls the horse, for, if the sutures
of the Native skull close at a somewhat earlier date in the average Native than in the
average European then it simply means that the Native reaches maturity slightly
earlier than the average white man.
The loss of mental alertness which is said by some to be peculiar to the Natives at the
time of puberty is very often met with in the European youth or girl at that period of
life. Competent observers have of late years come to the conclusion that this supposed
falling off in intelligence, in so far as it may differ in degree from what has so often
been noticed in European boys and girls at that point of development, is due to
psychological and not to physiological causes. It is realised that this lapse in mental
power of concentration in European youth in the stage of early adolescence is
prevented by the force of example and fear of parental and general reprobation
coupled with unbroken school-discipline, all of which factors are as yet seldom
present in the surroundings of the average Bantu boy or girl.
The outward ethnic differentiæ of the Bantu are admittedly palpable and patent to
everyone, but in the opinion of competent observers there is nothing in the anatomy of
the black man to make him a lower beast than the man with the white skin. It is now
seen that there is no apparent relation between complexion or skull shape and
intelligence, but while this is so there appears to be a correlation between the size of
the brain and the number of cells and fibres of which it is made up, although this
correlation is so weak as to be difficult of demonstration.
[6]

The capacity of the normal human cranium varies from 1,000 cubic centimetres to
1,800 cubic centimetres, the mean capacity of female crania being 10 per cent. less
than the mean of male crania. On this basis skulls are classified in the text books as
being microcephalic when below 1,350 cubic centimetres, such as those of the extinct
Tasmanians, Bushmen, Andamanese, Melanesians, Veddahs, and the Hill-men of
India; mesocephalic, those from 1,350 to 1,450 cubic centimetres, comprising
Negroes, Malays, American Indians, and Polynesians; and megacephalic, above 1,450
cubic centimetres, including Eskimos, Europeans, Mongolians, Burmese and
Japanese. The mean capacity among Europeans is fixed at 1,500 cubic centimetres,
and the average weight of the brain at 1,300 grams.
These figures show that the skull capacity of the average European is larger than that
of the average Negro, and as it seems plausible that the greater the central nervous
system, the higher will be the faculty of the race, and the greater its aptitude for
mental achievements, the conclusion that the European is superior in this respect
seems on the face of it to be well grounded. There are, however, certain relevant facts
which qualify this inference, and these must be briefly considered.
The anthropologist Manouvrier measured thirty-five skulls of eminent white men and
found them to be of an average capacity of 1,665 cubic centimetres as compared to
1,560 cubic centimetres general average derived from 110 ordinary individuals. On
the other hand he found that the cranial capacity of forty-five murderers was 1,580
cubic centimetres, also superior to the general average. Professor Franz Boas, in
discussing this experiment, says that most of the brain weights constituting the general
series are obtained in anatomical institutes, and the individuals who find their way
there are poorly developed on account of malnutrition and of life under unfavourable
circumstances, while the eminent men represent a much better nourished class. As
poor nourishment reduces the weight and size of the whole body, it will also reduce
the size and weight of the brain.
[7]
Dr. Arthur Keith when dealing with the so-called
Piltdown skull in his book "The Antiquity of Man" says to the same effect that the size
of brain is a very imperfect index of mental ability in that we know that certain
elements enter into the formation of the brain which take no direct part in our mental
activity, so that a person who has been blessed with a great robust body and strong,
massive limbs requires a greater outfit of mere tracts and nerve cells for the purposes
of mere animal administration than the smaller person with trunk and limbs of a
moderate size.
[8]

It seems fair, therefore, to assume that the brain-weights of big men of the Zulu, the
Xosa and the Fingo tribes will be considerably above those of European women, but
to conclude from this that the capacity of the big black man is higher than that of the
average white woman would hardly be possible to-day. I would say here that I do not
accept the suggestion, recently advanced, that the mental faculty of woman is
qualitatively different from that of man. I hold that there is no difference of any kind
between the intellectual powers of the male and female human being. The
comparative lack of mental achievement on the part of women in the past I believe to
have been due to a natural, and, as I think, wholesome feminine disinclination to take
up intellectual studies and scientific pursuits that until recently have been deemed the
prerogative of men, and not to any innate inferiority of the female brain.
According to Professor Sollas, whose high authority cannot be disputed, the size of
the brain when looked at broadly seems to be connected with the taxinomic rank of
the race, but when we come to details the connection between cranial capacity and
mental endowment becomes less obvious. The Eskimo, for instance, who is of short
stature, has a cranial capacity of 1,550 cubic centimetres, thus surpassing some of the
most civilised peoples of Europe, and yet no one of this race has so far startled the
world with any kind of mental achievement. "The result," says Professor Sollas, "of
numerous investigations carried out during the last quarter of a century is to show that,
within certain limits, no discoverable relation exists between the magnitude of the
brain—or even its gross anatomy—and intellectual power," and he illustrates this
statement by a list giving the cranial capacities and brain-weights of a number of
famous men which shows that though Bismarck had a skull capacity of 1,965 cubic
centimetres, Liebniz, who attained to the highest flights of genius, had a cranium
measuring only 1,422 cubic centimetres.
Dealing more particularly with the assumed relation between highly specialised
mental faculties and the anatomy of the brain, as apart from its mere size, the same
author cites the case of Dr. Georg Sauerwein, who was master of forty or fifty
languages, and whose brain after his death at the age of 74 in December, 1904, was
dissected by Dr. L. Stieda with the idea that, since it is known that the motor centre for
speech is situated in what is called Broca's area, some connection between great
linguistic powers and the size or complication of the frontal lobe might be found in
this highly specialised brain, but the examination revealed nothing that could be
correlated with Sauerwein's exceptional gift.
[9]

Professor R.R. Marett in his handbook on Anthropology says, in discussing the
subject of race, "You will see it stated that the size of the brain cavity will serve to
mark off one race from another. This is extremely doubtful, to put it mildly. No doubt
the average European shows some advantage in this respect as compared, say, with
the Bushmen. But then you have to write off so much for their respective types of
body, a bigger body going in general with a bigger head, that in the end you find
yourself comparing mere abstractions. Again, the European may be the first to cry off
on the ground that comparisons are odious; for some specimens of Neanderthal man,
in sheer size of brain cavity, are said to give points to any of our modern poets and
politicians Nor, if the brain itself be examined after death, and the form and number
of its convolutions compared, is this criterion of hereditary brain-power any more
satisfactory. It might be possible in this way to detect the difference between an idiot
and a person of normal intelligence, but not the difference between a fool and a
genius."
[10]

In his book, "The Human Body," Dr. Keith, in dealing with racial characters, begs his
readers to break away from the common habit of speaking and thinking of various
races as high and low. "High and low," he says, "refers to civilisation; it does not refer
to the human body."
[11]

The foregoing authoritative opinions serve to show that the Bantu, as compared with
other races, labour under no apparent physiological disabilities to hinder them in the
process of mental development. Let us now consider in the light of modern
psychology upon first-hand and reliable evidence the allegation of mental inferiority
that is constantly brought against these people.
THE MIND OF THE NATIVE.
The white man has conquered the earth and all its dark-skinned people, and when he
thinks of his continued success in the struggle for supremacy he feels that he has a
right to be proud of himself and his race. He looks upon the black man as the fool of
the human family who has failed in every way, whereas he, the lord of creation, has
achieved the impossible, and this comparison which is so favourable to himself
naturally leads him to set up achievement as the sole test of ability. If asked why the
African Native has never accomplished anything at all comparable with the feats of
the European or the Asiatic the average white man will answer, without hesitation,
that it is because the Native has always lacked the necessary capacity.
The average white man has a more or less vague notion that his own proud position at
the top of human society is the result of the continuous and assiduous use of the brain
by his forefathers in the struggle for existence under the rigorous conditions of a
northern climate during thousands of generations by which constant exercise the
mental faculty of his race grew and increased till it became, in course of time, a
heritable intellectual endowment, whereas the Natives of Africa by failing always to
make use of whatever brain power they might have been blessed with in the beginning
have suffered a continuous loss of mental capacity.
The idea that the evolution of the human intellect is a perpetually progressive process
by means of the constant use of the brain in the pursuits of increasing civilisation
towards the eventual attainment of god-like perfection is one that appeals strongly to
the popular fancy, and its corollary, that those who fail during long periods to make
full use of their mental equipment in the ways of advancing civilisation must
gradually lose a part, if not the whole, of their original talents, is commonly accepted
as being warranted by the teaching of modern science.
But science, as a body, does not support the view that bodily characters and
modifications acquired by an individual during his lifetime are transmissible to his
offspring; in other words, science does not, as a body, accept the theory that the
effects of use and disuse in the parent are inherited by his children. Modern science
does not, indeed, definitely foreclose discussion of the subject, but what it says is that
the empirical issue is doubtful with a considerable balance against the supposed
inheritance of acquired characters.
Very recently evidence has, indeed, been adduced to prove that "Initiative in animal
evolution comes by stimulation, excitation and response in new conditions, and is
followed by repetition of these phenomena until they result in structural modifications,
transmitted and directed by selection and the law of genetics." The student who
tenders this evidence is Dr. Walter Kidd
[12]
who claims that his observations of the
growth of the hair of the harness-horse prove that the prolonged friction caused by the
harness produces heritable effects in the pattern of the hairy coat of this animal. It is
admitted by this observer that such momentary and acute stimuli as are involved in the
mutilation of the human body by boring holes in the ears, knocking out teeth, and by
circumcision, which practices have been followed by so-called savages during long
ages, seldom, if ever, lead to inherited characters, but he maintains that the effect of
prolonged friction by the collar on the hair on the under side of the neck of the
harness-horse has produced marks or patterns in the same place on certain young foals
born by these horses.
These observations must, of course, be submitted to strict examination before
science will pronounce its opinion. Meanwhile I may be allowed to cite what Dr. Kidd
calls an "undesigned experiment," which to my mind goes far to prove that the effects
of prolonged friction on the human body during many generations is not heritable. The
custom followed by many Bantu tribes of producing in their women an elongation of
the genital parts by constant manipulation must have been practiced during very many
generations, certainly much longer than the comparatively recent harnessing of horses
in England, for we know how tenaciously primitive people cling to their old customs,
generation after generation, for thousands of years, and yet no instance has ever been
noticed by these people, who are very observant in these matters, of any sign of such
an inherited characteristic in any of their female children.
The ordinary layman, though he may feel strongly interested in the problems of
heredity and evolution, has seldom the leisure or the opportunity for the careful study
of biological data, and he must therefore leave these to the specialists in scientific
enquiry, but he is by no means precluded from using his own common-sense in
drawing conclusions from the ordinary plain facts of life observable around him. It is
when we come to consider this most important question in its bearing upon the mental
side of the human being that the ordinary layman feels himself to be no less competent
to form an opinion than the trained man of science.
Is it possible, then, we ask, for the parent whose intellect has been developed through
training in his lifetime to transmit to his children any portion of this acquired
increment of mental capacity, or, putting the question in more concrete terms, is it
possible for a parent to transmit to his offspring any part of that power to increase the
size and quality of the brain which may be assumed to have resulted in his own case
from mental exercise? The question must not be misunderstood. We do not ask
whether clever parents do as a rule have clever children; what we want to know is
whether the successive sharpening of the wits of generations of people does, or does
not, eventually result in establishing a real and cumulative asset of mental capacity.
Seeing that universal education has only come about within the latter part of the
last century it must be clear that the vast majority of the present generation of
educated Europeans are descended from people who never had any of that education
which so many people nowadays regard as essential to the development and growth of
the intellectual powers. But although education has only recently become, in various
degrees, common to all white people, the light of learning has always been kept
burning, however dimly at times, in certain places and circles, and it may, perhaps, be
possible to find people to-day who are the descendants of those favoured few who
have enjoyed, during many unbroken generations, the privilege of liberal education.
Now let us assume that there are at present a small number of such people in the
forefront of the intellectual activity of the day, and then let us ask ourselves whether
these leaders of thought who can claim long lineal descent from learned ancestors
show any mental capacity over and above that which is displayed by those commoners
who are also in the foremost ranks of thought and science, but who cannot lay claim to
such continuous ancestral training.
If we admit the existence of two such separate classes to-day then the answer must
surely be that there is no mental difference discernible between them. But I think we
may safely conclude that there has been very little of the kind of descent here
presumed. It would be well-nigh impossible to find people who could prove an
unbroken lineage of educated forbears going back more than four hundred years.
During the middle ages the monks of the Church were the chief and almost sole
depositories of education and learning, and as they were bound by their vows to life-
long celibacy there could be no transmission from them to posterity of any of that
increased capacity of brain which we are supposing as having been acquired by each
individual through his own mental exertion. We know, of course, that there were
frequent lapses from the unnatural restraint imposed on these men so that some of
them may have propagated their kind, but such illegitimate offspring was not likely to
remain within the circle of learning and therefore could not perpetuate the line. We of
to-day know full well that the son of the common labourer whose forefathers had no
education can, with equality of opportunity, achieve as much and travel as far in any
field of mental activity as can the scion of the oldest of our most favoured families.
There does not seem to have been any augmentation of human brain power since
written records of events were begun. Indeed it would seem rather as if there had been
in many places a decrease in intellectual capacity, as when we compare the fellahin of
modern Egypt with their great ancestors whom they resemble so closely in physical
appearance that there can be little doubt about the purity of their descent. The same
may be said about the modern descendants of the people who created "the glory that
was Greece and the grandeur that was Rome." And when we consider the period of
the Renaissance we cannot say that civilised man of to-day is superior to those people
who after centuries of stagnation and general illiteracy were yet able to seize and
develop the long-forgotten wisdom and philosophy of antiquity.
To go still further back and to venture beyond the historical horizon into the dim past
when prehistoric man roamed over Europe is a task manifestly beyond the powers of
the ordinary layman, and here we must, perforce, trust ourselves to the guidance of
those students whose training and special learning entitle them to speak with
authority.
The so-called Piltdown skull which was discovered in 1912 is accepted as
representing the most ancient of human remains yet found in England, its age being
estimated at somewhere between 250,000 and 500,000 years. In discussing the size
and arrangement of the lobes and convolutions of the brain which this cranium must
have contained, Dr. Arthur Keith, who is admittedly the highest authority on the
subject to-day, makes the following statement: "Unfortunately our knowledge of the
brain, greatly as it has increased of late years, has not yet reached the point at which
we can say after close examination of all the features of a brain that its owner has
reached this or that status. The statement which Huxley made about the ancient human
skull from the cave of Engis still holds good of the brain: 'It might have belonged to a
philosopher or might have contained the thoughtless mind of a savage.' That is only
one side of our problem, there is another. Huxley's statement refers to the average
brain, which is equal to the needs of both the philosopher and the savage. It does not
in any way invalidate the truth that a small brain with a simple pattern of convolutions
is a less capable organ than the large brain with a complex pattern. If then we find a
fairly large brain in the Piltdown man, with an arrangement and development of
convolutions not very unlike those of a modern man, we shall be justified in drawing
the conclusion that, so far as potential mental ability is concerned, he has reached the
modern standard. We must always keep in mind that accomplishments and inventions
which seem so simple to us were new and unsolved problems to the pioneers who
worked their way up from a simian to a human estate."
In his concluding remarks upon this important find, Dr. Keith iterates his opinion:
"Although our knowledge of the human brain is limited—there are large areas to
which we can assign no definite function—we may rest assured that a brain which
was shaped in a mould so similar to our own was one which responded to the outside
world as ours does. Piltdown man saw, heard, felt, thought and dreamt much as we
still do. If the eoliths found in the same bed of gravel were his handiwork, then we can