Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ( VPBank )

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nguồn tiền gửi của khách hàng có thể bị rút ra bất cứ lúc nào và NHTM
ngay lập tức phải thanh toán cả gốc cả lãi cho khách hàng.
 Tiếp đến là hoạt động đầu tư, NHTM thực hiện hoạt động này
dưới các hình thức như : đầu tư vào các chứng khoán (trái phiếu chính phủ,
trái phiếu công ty, tín phiếu kho bạc, cổ phiếu ), góp vốn liên doanh liên
kết với các doanh nghiệp, đầu tư vào các dự án. Thông qua hoạt động đầu
tư NHTM kiếm được lợi nhuận đồng thời cũng phân tán được rủi ro trong
hoạt động của ngân hàng.
 Hoạt động thanh toán, đây là hoạt động phân biệt giữa NHTM với
các trung gian tài chính khác, NHTM tiến hành thanh toán cho khách hàng
dưới các hình thức : thanh toán bù trừ, thanh toán séc, thanh toán bằng L/C,
thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi…
 Các hoạt động khác như : chuyển tiền, môi giới, tư vấn, uỷ thác,
bảo lãnh…
 Hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất và tạo nên danh mục tài
sản phong phú trong bảng cân đối tài sản của NHTM đó chính là hoạt động
tín dụng. Vậy thế nào là hoạt động tín dụng và đặc điểm của hoạt động này
ra sao xin được phép trình bày duới đây:
Tín dụng – credit bắt nguồn từ tiếng latinh “credo” có nghiã là sự tin
tưởng hay nói cách khác tín dụng là việc NHTM tài trợ cho khách hàng dựa
trên cơ sở tin tưởng nhau. Các hoạt động tài trợ cuả ngân hàng thì có nhiều
hình thức như cho khách hàng vay, mua giúp khách hàng hàng hóa, nguyên
vật liêụ, máy móc, chiêt khấu các loại giấy tờ có giá hay là đứng ra là
người bảo lãnh cho khách hàng.
Trên thục tế có rất nhiều cách hiều khác nhau về tín dụng, tuy nhiên
ở đây ta tiếp cận tín dụng là một hoạt động của ngân hàng. Chính vì thế, ta
có thể hiểu: tín dụng là giao dịch giữa bên cho vay (NHTM) và bên đi vay
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
(các đơn vị kinh tế, dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội). Trong đó, bên đi
vay sử dụng vốn trong khoảng thời gian nhất định và có trách nhệm hoàn
trả vô điều kiện vốn gốc và lãi khi đến hạn vay.
Đối với NHTM thì phần lớn thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm
phần lớn tổng thu nhập, đối với cac NHTM ở Việt Nam thì tỷ lệ này lên tới
70 – 80%. Điều này cho thấy vai trò to lớn của hoạt động tín dụng với hoạt
động ngân hàng nói riêng và với nền kinh tế nói chung. Thông qua sự tăng
trưởng của hoạt động tín dụng phản ánh một phần nào đó sự phát triển triển
cuả ngân hàng vì không những ngân hàng có được doanh thu từ lãi suất mà
khách hàng phải trả mà quan trọng hơn đây là cơ sở để ngân hàng thâm
nhập vào nền kinh tế, khẳng định vị trí của ngân hàng và phát triển sang
nhiều lĩnh vực khác đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam còn
thiếu thốn, nghèo nàn rất nhiều dịch vụ ngân hàng.
Đối với người được vay vốn, ngân hàng là nguồn vốn khổng lồ mà
họ dễ dàng tiếp cận ở mọi lúc, mọi nơi với rất nhiều phương thức tiện lợi
cho họ thông qua thỏa thuận với ngân hàng. Vay vốn ở ngân hàng không
những người vay có được nguồn vốn kịp thời mà còn có được những lời
khuyên bổ ích giúp cho doanh nghiệp đầu tư hiệu quả hơn và ngày càng lớn
mạnh hơn.
Đối với nền kinh tế thì công dụng không thể chối cãi được đố là việc
phân bổ vốn một cách kịp thời, hiệu quả, giúp tối đa hóa hiệu quả cuả các
tiềm lực kinh tế. Các doanh nghiệp sản xuất thuận lợi và có điều kiện tiếp
cận và áp dụng khoa học hiện đại nhiều hơn. Từ đó nâng cao đời sống
người dân, nâng cao chất lượng xã hội, nâng cao dân trí và kinh tế - xã hội
phát triển về mọi mặt.
1.1.2. Phân loại
Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng phục vụ được nhiều đối
tượng với các nhu cầu khác nhau thì các NHTM hiện nay áp dụng rất nhiều
các hình thức tín dụng. Và để giúp cho việc quản lý hoạt động tín dụng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
được đơn giản, chính xác hơn thì NHTM tiến hành phân loại tín dụng. Dựa
trên những tiêu thức khác nhau mà tín dụng được phân loại như sau:
1.1.2.1, Phân loại theo thời gian ( thời hạn tín dụng ) :
Là cách phân loại có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và tính sinh lời của tín dụng cũng
như khả năng hoàn trả của khách hàng.
Tín dụng ngắn hạn có thời hạn dưới 12 tháng. Được sử dụng để bù
đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp cà các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân. Với các NHTM có thể nói rằng tín dụng ngắn hạn
chiếm tỷ trọng cao nhất.
Tín dụng trung hạn có thời hạn từ NHTM 1 đến 5 năm ( theo qui
định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ) còn với một số nước trên thế
giới thì có thời hạn đến 7 năm. Loại tín dụng này thường được dùng để tài
trợ cho việc mua sắm các tài sản cố định như phương tiện vận tải, cải tiến
thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm một số loại vật
nuôi cây trồng phục vụ cho các dự án nhỏ.
Tín dụng dài hạn, theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (
NHNN ) thời hạn tín dụng là trên 5 năm còn ở một số nước là trên 7 năm.
Loại tín dụng này để cung cấp vốn cho các dự án dài hạn có thời gian thu
hồi vốn chậm để xây dựng nhà xưởng, sân bay, cầu đường và mua sắm các
loại máy móc có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài.
1.1.2.2, Phân loại theo hình thức: gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho
thuê.
Chiết khấu thương phiếu là việc mà ngân hàng ứng trước cho khách
hàng một khoản tiền tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu
nhập của ngân hàng cho việc sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn thanh
toán, phần thu nhập này được tính theo một tỷ lệ với giá trị của thương
phiếu và tỷ lệ đó được gọi là lãi suất chiết khấu.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cho vay là hình thức ngân hàng tài trợ cho khách hàng một số tiền
và nhận lại sự cam kết của khách hàng sẽ trả lại toàn bộ khoản tiền gốc
cộng thêm một phần lãi là chì phí của việc sử dụng vốn, cam kết này được
thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định.
Bảo lãnh là hình thức ngân hàng cho phép khách hàng dùng uy tín
của ngân hàng để làm cam đoan về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của
khách hàng trong các hợp đồng, và nếu khách hàng không thực hiện được
thì ngân hàng sẽ là người thực hiện các nghĩa vụ tài chính đó.
Cho thuê là ngân hàng bỏ tiền của mình ra để mua tài sản cho khách
hàng thuê với những thoả thuận về tiền thuê hàng tháng, hàng quí, hàng
năm. Sau một thời gian nhất định, ngân hàng sẽ thu hồi được số vốn bỏ ra
ban đầu và thêm một phần lãi.
1.1.2.3, Phân loại theo tài sản bảo đảm:
Tài sản bảo đảm là nguồn thu hồi nợ thứ hai của ngân hàng khi
nguồn thu nợ theo dự tính ban đầu không có hoặc không đủ để trả cho ngân
hàng. Theo hình thức này thì tín dụng được phân chia thành : tín dụng có
tài sản bảo đảm và tín dụng không có tài sản bảo đảm.
 Tín dụng có tài sản bảo đảm là việc khách hàng dùng tài sản của
mình đang có quyền sở hữu hay đang có quyền sử dụng hay khả năng trả
nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng. Có thể đảm bảo theo hình
thức cầm cố, hoặc thế chấp hay cam kết trả nợ của người thứ ba.
 Tín dụng không cần tài sản bảo đảm được áp dụng đối với những
khách hàng thường xuyên và có uy tín, khả năng tài chính vững mạnh hoặc
với những món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Đối với
những khoản vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có thể giám sát được
việc thực hiện cũng như tiêu thụ sản phẩm thì ngân hàng cũng có thể chấp
nhận cho vay không cần tài sản bảo đảm.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.2.4, Phân loại tín dụng theo rủi ro :
Các ngân hàng có những cách phân loại tín dụng theo rủi ro khác
nhau để thực hiện tốt việc quản lý rủi ro, kịp thời trích lập dự phòng cho
các khoản tín dụng nâng cao độ an toàn cho ngân hàng. Theo các dấu hiệu
của rủi ro các khoản tín dụng được xếp theo mức độ rủi ro từ thấp tới cao:
 Tín dụng lành mạnh : là các khoản tín dụng có khả năng thanh toán
cao.
 Tín dụng có vấn đề : là các khoản tín dụng có các dấu hiệu như các
rủi ro không ngờ đến xảy ra với khách hàng như thiên tai, cháy nổ khi vận
chuyển, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm…có thể làm cho khách hàng
không có khả năng trả nợ.
 Nợ quá hạn vẫn có khả năng thu hồi
 Nợ quá hạn khó đòi và những khoản không có khả năng thu hồi
1.1.2.5, Phân loại theo mục đích sử dụng
Tuỳ theo mục đích sử dụng có các loại cho vay để kinh doanh sản xuất và
cho vay phục vụ mục đích tiêu dùng.
1.2, Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.2.1, Khái niệm rủi ro
Rủi ro là những tổn thất xảy ra ngoài dự kiến. Bất kỳ một hoạt động
kinh doanh nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định, có những rủi ro mà
con người có khả năng phòng ngừa và hạn chế như rủi ro xuất phát từ các
hành vi chủ quan bất cẩn của con người gây ra, hay những rủi ro do thiên
nhiên gây ra nhưng trong tầm dự đoán và kiểm soát của con người. Bên
cạnh đó thì cũng có những rủi ro bất trắc mà con người không thể ngờ tới,
cũng như không có khả năng dự đoán và làm thay đổi chúng như sự biến
đổi nhanh chóng của thời tiết, thiên tai, chiến tranh… Nhưng có thể kết
luận rằng dù bất cứ loại rủi ro nào khi đã xảy ra thì đều kèm theo những tổn
thất lớn, nhỏ. Vì vậy vấn đề quản lý rủi ro luôn luôn là vấn đề hết sức quan
trọng và cần phải được thực hiện nghiêm túc.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.2, Rủi ro với hoạt động của NHTM
Đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, trong
thời kỳ kinh tế thị trường phát triển và bùng nổ như ngày hôm nay thì vấn
đề rủi ro lại trở nên hết sức phức tạp bởi chỉ cần những biến động nhỏ cũng
có thể dẫn tới những hậu quả to lớn.
Ngân hàng thương mại là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá
đặc biệt – hàng hoá tiền tệ. Kinh tế càng phát triển thì lượng tiền tệ được
lưu thông qua ngân hàng cũng càng lớn. Nguồn tiền của các NHTM có
những thay đổi mạnh mẽ do sự phát triển của công nghệ ngân hàng, sự gia
tăng cạnh tranh giữa các NHTM với nhau và với các tổ chức tài chính khác.
Các khoản tiền gửi của cá nhân và doanh nghiệp trở nên dễ dàng di chuyển
hơn kèm theo đó là sự nhạy cảm với biến động thị trường cũng cao hơn.
Những điều này góp phần giúp cho thị trường vốn trở nên sôi động hơn
song cũng làm tăng tính mong manh, kém ổn định của cả hệ thống.
Có thể tiến hành phân chia rủi ro dựa theo các loại tài sản của ngân
hàng như sau : rủi ro trong quản lý và kinh doanh ngân quỹ, rủi ro tín dụng,
rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng khoán, rủi ro trong cho thuê và
rủi ro đối với các tài sản khác của ngân hàng. Phân chia rủi ro theo nguyên
nhân – các nhân tố tác động – bao gồm : rủi ro do người vay không trả nợ
cho ngân hàng, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro do tỷ giá thay đổi, rủi ro do
các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy, giấy tờ giả,
1.2.2.1, Các loại rủi ro phổ biến thường gặp
1Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến của
ngân hàng về việc khách hàng không thanh toán nợ đúng hạn, không trả
được đầy đủ gốc hay lãi hoặc hoàn toàn mất khả năng thanh toán cả gốc vả
lãi gây ra những tổn thất cho ngân hàng. Mỗi một khoản vay dù có đáng tin
cậy đến đâu cũng hàm chứa trong đó rủi ro tín dụng, vì vậy đối với những
nhà quản lý ngân hàng thì việc luôn luôn dự tính một tỷ lệ rủi ro nhất định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đối với ngân hàng mình và giữ cho tổn thất xảy ra không vuợt quá so với tỷ
lệ dự tính đó cũng đã là một thành công trong quản lý.
1.2.1.2, Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến của ngân
hàng khi mà tỷ giá hối đoái có những thay đổi bất lợi. tỷ giá hối đoái là
thông số thường xuyên thay đổi và phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế,
xã hội, chính trị nói chung trên toàn thế giới chính vì thế mà việc dự đoán
được sự thay đổi của nó là rất khó, tuy nhiên đối với những nhà kinh doanh
ngân hàng thì việc dự đoán tỷ giá là bắt buộc để điều chỉnh một cách hợp lý
và cân đối lượng ngoại tệ của ngân hàng mình. Đương nhiên việc dự đoán
cũng có những sai số nhất định, vì vậy rủi ro hối đoái được xem như là xảy
ra khi mà lượng tổn thất vượt quá so với lượng tổn thất dự tính.
1.2.1.3, Rủi ro lãi suất
Lãi suất của NHTM bao gồm cả lãi suất của các loại tài sản và nguồn
vốn đều biến động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự thay đổi trên thị
trường thế giới, các chính sách của chính phủ và NHNN. Khi các tổ chức
tín dụng lớn trên thế giới, các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của
những nền kinh tế mạnh có những thay đổi về chính sách của họ thì sẽ gây
tác động tới lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và tác động tới lãi suất
của các NHTM. Tương tự như vậy chính phủ thực hiện các chính sách tiền
tệ nới lỏng hay thắt chặt của mình thì công cụ lãi suất là công cụ có tác
dụng nhanh chóng và hiệu quả nhất. Rủi ro lãi suất có liên quan chặt chẽ
tới rủi ro tín dụng.
1.2.1.4, Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho
ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế không như dự kiến làm gia tăng
các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hay làm cho ngân hàng mất
khả năng thanh khoản.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.2. Các rủi ro khác
Là các khả năng xảy ra cuớp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán,
hoả hoạn, thiên tai, lỗi công nghệ…
1.3, Rủi ro tín dụng
Theo quyết định 493/QĐ/2005 do thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam ban hành ngày 22/04/2005 rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn
thất mà khách hàng không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả được đầy
đủ vốn và lãi.
1.3.1, Sự cần thiết phải hạn chế rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng – hoạt động đặc
trưng, quan trọng và có qui mô lớn nhất trong các hoạt động của ngân hàng.
NHTM là một trung gian tài chính, tức là luân chuyển tiền của người chưa
có cơ hội đầu tư đến những người đang có cơ hội đầu tư nên hiệu quả sử
dụng nguồn vốn không chỉ phụ thuộc vào bản thân NHTM mà còn phụ
thuộc nhiều vào các khách hàng của họ. Khi thực hiện một hoạt động tín
dụng cụ thể nào thì ngân hàng đều phải phân tích các yếu tố của người vay
sao cho độ an toàn là cao nhất, và chỉ quyết định cho vay khi khoản vay đó
an toàn. Tuy nhiên do hoạt động tín dụng rất nhạy cảm và liên quan tới hầu
hết các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế nên chịu rất nhiều tác động của môi
trường. Vậy nên có nhiều quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng là tất yếu
trong hoạt động của ngân hàng.
Tuy nhiên ngân hàng là một doanh nghiệp và mục đích cuối cùng là
lợi nhuận. Theo qui luật rủi ro đi liền với lợi nhuận, rủi ro càng cao thì lợi
nhuận càng nhiều chính vì vậy nên việc ngân hàng chấp nhận rủi ro tín
dụng là điều tất yếu của việc kinh doanh, điều quan trọng là làm thế nào để
hạn chế được rủi ro đó trong khả năng kiểm soát của ngân hàng mà không
làm ảnh hưởng tới mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đặc biệt. Hàng
hoá ở đây là tiền và nó vô cùng nhạy cảm. Không có bất cứ một ngành kinh
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
doanh nào mà nếu có một đơn vị hoạt động không tốt ngay lập tức sẽ gây
tác động tới toàn ngành và dẫn tới sự khủng hoảng có hệ thống của toàn bộ
nền kinh tế. Có thể nói rằng ảnh hưởng của ngành ngân hàng trong nền
kinh tế là vô cùng to lớn nên việc hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề đặt ra
với các nhà quản lý của chính mỗi ngân hàng nói riêng và của cả những
nhà quản lý vĩ mô nền kinh tế nói chung.
Đối với ngân hàng :
Ảnh hưởng đầu tiên nhìn thấy khi rủi ro tín dụng xảy ra là ngân hàng
sẽ mất đi hoặc không thu được đúng hạn khoản vốn và lãi, tức là làm sẽ
làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận. Những món vay quá hạn hoặc mất khả
năng thu hồi gây nên tình trạng thiếu tiền trong ngân quỹ, làm giảm khả
năng thanh khoản và dẫn tới rủi ro thanh khoản có thể khiến ngân hàng mất
uy tín với khách hàng. Ngân hàng hoặc phải yêu cầu sự giúp đỡ từ phía
NHNN và các ngân hàng khác hoặc phải tuyên bố phá sản, đây là hậu quả
nghiêm trọng nhất, nó không chỉ ảnh hưởng tới riêng ngân hàng đó mà còn
ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống ngân hàng và có khả năng gây ra một cuộc
khủng hoảng tài chính. Như vậy, rủi ro tín dụng không những gây ra tổn
thất về lợi nhuận về uy tín của NHTM mà nó còn là nguồn gốc của hàng
loạt các rủi ro khác và dẫn tới những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
Đối với khách hàng:
Những người đi vay nếu không có kế hoạch hợp lý sẽ không thanh
toán kịp thời hạn và phải chịu lãi suất phạt cho khoản vay đó, tức là chi phí
tăng và làm giảm lợi nhuận. Đồng thời việc chậm trễ thanh toán sẽ làm mất
uy tín của khách hàng đối với ngân hàng, họ sẽ gặp phải khó khăn khi
muốn tiếp tục sử dụng vốn của ngân hàng này hay ngân hàng khác. Đây là
một bất lợi vô cùng lớn với doanh nghiêp vì sử dụng vốn vay mang lại rất
nhiều lợi ích đối với doanh nghiệp, giảm được thuế thu nhập phải nộp của
doanh nghiêp, giảm bớt chi phí vốn so với việc sử dụng vốn của chủ.
Đối với nền kinh tế :
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Rủi ro tín dụng tác động tới hệ thống ngân hàng, tới các doanh nghêp
và thông qua đó tác động tới toàn bộ nền kình tế. Nó làm ứ đọng vốn, giảm
hiệu quả luân chuyển vốn của ngân hàng, kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Nghiêm trọng hơn, nó có thể kéo theo hàng loạt các rủi ro khác, một cuộc
khủng hoảng tài chính xảy ra và trường hợp xấu nhất là hệ thống ngân hàng
tài chinh sụp đổ, nền kinh tế rối loạn, khủng hoảng chính trị, xã hội là điều
chắc chắn không thể tránh khỏi.
Tóm lại, rủi ro tín dụng ở qui mô nào cũng có những tác động xấu có
thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Chính vì lẽ đó nên việc hạn chế rủi ro tín
dụng đối với NHTM là vô cùng quan trọng và phải được các nhà quản trị
NHTM đặt lên là nhiệm vụ hàng đầu.
1.3.2, Các chỉ tiêu biểu hiện mức độ hạn chế rủi ro tín dụng
Rủi ro rín dụng chỉ là khả năng xảy ra tổn thất nên không thể nào
được đo lường một cách chính xác được nên người ta dùng một số chỉ tiêu
phản ánh rủi ro tín dụng để đo mức độ hạn chế rủi ro tín dụng của ngân
hàng.
 Nợ quá hạn và nợ khó đòi :
Nợ quá hạn là là khoản nợ mà khách hàng không trả khi đã đến hạn
thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Với những món nợ mà không thanh
toán được vào thời điểm hết kỳ hạn nợ thì toàn bộ khoản nợ gốc còn lại sẽ
được chuyển hết thành nợ quá hạn.
Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn và đã quá một kỳ gia hạn nợ hoặc
không có tài sản bào đảm hoặc không bán được tài sản, công ty phá sản…
Khi xem xét chất lượng tín dụng của ngân hàng thì tổng dư nợ quá
hạn và nợ khó đòi không phản ánh đầy đủ hiệu quả sử dụng đồng vốn của
ngân hàng. Các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, nợ khó đòi
trên tổng dư nợ là công cụ hữu hiệu để nhận biết sụ suy giảm chất lượng tín
dụng. Các chỉ tiêu trên chỉ phản ánh chính xác khi không có các yếu tố tác
động làm biến dạng chúng. Tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn xảy ra tình trạng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét