Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC ĐẦU TƯ, GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


iv
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
























Ngày …. tháng …. năm …
Giáo viên hướng dẫn
(ký và ghi họ tên)


Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


v
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
























Ngày …. tháng …. năm …
Giáo viên phản biện
(ký và ghi họ tên)


Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


vi




MỤC LỤC

Trang
Chương 1:GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.1.1. Sự cần thiết của nghiên cứu 1
1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.2.1. Mục tiêu chính 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3. Các giả thuyết cần kiểm định và câu hỏi nghên cứu 5
1.3.1. Giả thuyết cần kiểm định 5
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1. Không gian nghiên cứu 5
1.4.2. Giai đoạn nghiên cứu 6
1.4.3. Đối tượng nghiên cứu 6
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp luận 7
2.1.1.Cơ sở lý thuyết của việc đa dạng hóa 7
2.1.2. Cách thưc đo lường hiệu quả của việc đa dạng hóa 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu 15
Chương 3: SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam- Một thị trường non trẻ 17
3.2. Thị trường chứng khoán Việt Nam- Một thị trường đầy rủi ro 20
3.2.1. Rủi ro từ bản thân thị trường 20
Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


vii
3.2.2. Rủi ro từ cách điều hành của các cơ quan có thẩm quyền 21
Chương 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ SUY GIẢM RỦI RO DO ĐA
DẠNG HÓA
4.1 Phân tích chung 25
4.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu 25
4.1.2. Phân tích ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến rủi
ro ở các giai đoạn khác nhau. 26
4.1.3. Ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến lợi nhuận 29
4.2. Tiến hành kiểm định các giá trị nhận được 36
4.3 Thiết lập hàm hồi quy về mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn của danh
mục và danh mục và danh mục kích cỡ n 37
Chương 5: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ SAI SÓT 39
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1 Kết luận 45
6.2 Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 48
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Diễn biến tỉ suất giá chứng khoán tính theo tháng từ ngày
01/01/2007 đến ngày 31/03/2008 49
Phụ lục 2: Biểu đồ phân bố tỉ suất lợi nhuận và rủi ro của danh mục một
chứng khoán ở các giai đoạn 62
Phụ lục 3: Bảng các kết quả kiểm định 65

Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


viii
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang

Bảng 2.1: Minh họa phương pháp tính lợi nhuận theo REA 13
Bảng 3.1: Quy mô sàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh đến hết
ngày 31/12/2006 17
Bảng 3.2: Các quỹ đầu tư vào Việt Nam thành lập năm 2007 19
Bảng 4.1 Phân bố trung bình rủi ro tổng thể trong 5 giai đoạn 26
Bảng 4.2: Tỉ lệ độ lệch chuẩn của các loại danh mục so với danh mục thị
trường 27
Bảng 4.3: Tỉ lệ rủi ro của các danh mục so với danh mục toàn thị trường
(Tính theo tháng) 27
Bảng 4.4: Tỉ lệ suy giảm của rủi ro trên mỗi chứng khoán được thêm vào
danh mục 28
Bảng 4.5: Lợi ích biên của sự suy giảm độ lệch chuẩn 29
Bảng 4.6: Tỉ suất lợi nhuận bình quân trong 5 giai đoạn 30
Bảng 4.7: Hệ số nhân lợi nhuận bình quân tính theo tháng (phương pháp
REA) 34
Bảng 4.8: Phân hạng 36
Bảng 4.9: Giá trị thống kê 36
Bảng 4.10: Các giá trị thống kê của hàm hồi quy 37
Bảng 5.1: Độ lệch chuẩn của danh mục khả dĩ ở các kích khác nhau theo
tháng trong thời gian xem xét 01/01/2007 đến 31/03/2008 41
Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


ix

DANH MỤC HÌNH
Trang
Biểu đồ 2.1: Mối liên hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục (n)
và sự suy giảm rủi ro (Phương sai -
2
P
σ
) 9
Biểu đồ 3.1: Diễn biến VN-Index và khối lượng giao dịch tại Sàn Tp Hồ
Chí Minh từ ngày 01/01/2006 đến ngày 16/04/2008 18
Biểu đồ 3.2 : Diễn biến Hastc-Index và khối lượng giao dịch tại Sàn Hà
Nội từ ngày 24/05/2006 đến ngày 16/04/2008. 18
Biểu đồ 4.1: Diễn biến của Hastc-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008 25
Biểu đồ 4.2: Diễn biễn của VN-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008. 25
Biểu đồ 4.3: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 1 chứng khoán 31
Biểu đồ 4.4: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 4 chứng khoán 31
Biểu đồ 4.5: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 8 chứng khoán 32
Biểu đồ 4.6: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 16 chứng khoán 32
Biểu đồ 4.7: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 32 chứng khoán 33
Biểu đồ 4.8: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của các
kích cỡ danh mục trong 15 tháng 35
Biểu đồ 5.1: Tỉ trọng giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết
trên sàn Hà Nội 42
Biểu đồ 5.2: Tỉ trọng giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết
trên sàn Tp Hồ Chí Minh 42


Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


x
TÓM TẮT


Mục tiêu của luận văn này là nghiên cứu mối quan hệ giữa việc gia tăng
kích cỡ danh mục và sự suy giảm của rủi ro.
Bằng việc so sánh rủi ro của các kích cỡ danh mục khác nhau và giữa các
giai đoạn khác nhau, luận văn này đã chứng minh được bằng việc gia tăng kích
cỡ danh mục rủi ro có thể giảm xuống đáng kể, nhờ việc phân tán rủi ro phi hệ
thống.
Kết luận cuối cùng được rút ra là với một danh mục đầu tư chỉ cần có từ 8
đến 16 chứng khoán, chúng ta có thể loại bỏ được từ 80% đến 90% rủi ro phi hệ
thống ra khỏi rủi ro tổng thể.
Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


GVHD: TS. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC
Trang 1
SVTH: PHẠM ĐỨC AN


CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1.1.1. Sự cần thiết nghiên cứu
“Khi đầu tư chúng khoán, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời
vẫn giảm rủi ro xuống một mức chấp nhận được?”. Có nhiều cách khác nhau
chẳng hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên
dự báo một tương đầy triển vọng hay đơn giản hơn là đầu tư vào những công ty
lớn có tên tuổi trên thị trường, hoặc đầu tư vào những ngành những lĩnh vực mà
m
ình nắm rõ…Nhưng điều đó cũng không có gì đảm bảo là vào một ngày đẹp
trời nào đó bạn thức dậy, đọc báo và thấy rằng công ty mà mình mua cổ phiếu đã
bị phá sản, còn bản báo cáo tài chính với các chỉ số đạt chất lượng AAA của họ
chỉ là một mánh khóe kế toán đơn giản nà
o đó.
“Làm sao để tránh được điều này?”. Người xưa đã có câu “Đừng bao giờ
đặt tất cả trứng đã mua vào cùng một rổ”- Đa dạng hóa danh mục đầu tư chính là
cách tự bảo hiểm tốt nhất. Có thể buổi sáng đó, bạn vẫn buồn vì công ty của mình
đã bị phá sản, xong ít ra các công ty khác trong danh mục đầu tư của bạn vẫn còn
đó. Vậy đa dạng hóa danh mục đầu tư là như thế nào? Đơn giản chỉ là gia tăng số
loại cổ phiếu nắm g
iữ? Nếu vậy, bao nhiêu là đủ ?
Có người nói trong danh mục chỉ cần 10 đến 20 loại cổ phiếu khác nhau là
được, có người lại nói là từ 30 trở lên, lại có người bảo rằng càng nhiều càng tốt.
Điều này thực tế đúng là dựa trên quan điểm của từng cá nhân, nhưng có một
điều mà chắc hẳn mọi n
gười ai cũng phải đồng ý. Đó là việc đa dạng hóa phải
cân bằng giữa lợi ích từ việc giảm thiểu rủi ro mà danh mục đầu tư mang lại và
chi phí tăng thêm do hệ quả của việc đa dạng hóa. Nếu không đơn thuần bạn chỉ
cần đơn giản là mua tất cả các loại cổ phiếu đang niêm yết trên 2 sàn Hà Nội và
Tp Hồ Chí Minh là xong!
Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


GVHD: TS. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC
Trang 2
SVTH: PHẠM ĐỨC AN

Thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm đến nay (15/04/2008), do bị
tác động từ tình hình kinh tế thế giới lên diễn biến rất phức tạp, chỉ số Vn-Index
và Hastc-Index ở 2 sàn Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã mất hơn 50% số điểm chỉ
trong vòng chưa đầy năm tháng. Nhắc đến điều này để thấy rằng việc đa dạng
hóa là cần thiết, không phải do tình hình thị trường đang có nhiều biến diễn phức
tạp m
à ngay cả khi thị trường tăng trưởng liên tục và ổn định thì đa dạng hóa
cũng không bao giờ là thừa. Bởi vì bạn không thể đoán định được những điều bất
ngờ xảy ra đối với công ty mà mình mua cổ phiếu.
Vậy ở thị trường chứng khoán Việt Nam, việc đa dạng hóa mang lại hiệu
quả như thế nào? Cần bao nhiêu loại chứng khoán trong một danh mục thì đạt
đư
ợc mục đích của việc đa dạng hóa?. Đa dạng hóa có loại bỏ được hoàn toàn rủi
ro? Để trả lời cho những câu hỏi thú vị này, nên tôi đã quyết định thực hiện đề
tài “Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng
khoán tại Việt Nam” làm Luận văn của mình.
1.1.
2 Căn cứ khoa học và thực tiễn.
Đa dạng hóa danh mục đầu tư là một đề tài thú vị và gây tranh cãi từ lâu
trong cộng đồng các nhà kinh tế học và những người đầu tư chúng khoán, những
câu hỏi thường gặp nhất là:
- Trong một danh mục thì bao nhiêu loại chứng khoán là đủ? 10, 15, 20
hay 100 thì đủ để giảm thiểu rủi ro xuống một mức chấp nhận được.
- Chiến lược
“Mua và nắm giữ” – Buy and hold (BH) hay Phân phối lại
danh mục – Reallocation (REA) ở mỗi thời điểm bắt đầu của chu kỳ đầu
tư, thì chiến lược nào tốt hơn.
- Đa dạng hóa giữa các ngành thì có tốt hơn là đa dạng hóa với các loại cổ
phiếu trong cùng một ngành.
- Các tiêu chí nào là thích hợp cho việc lựa chọn một cổ phiếu vào trong
danh mục đầu tư.
- Tác dụng đa dạng hóa của các cổ phiếu được xếp hạng cao (AAA) có tốt
hơn các cổ phiếu ở thứ hạng khác.
- Có phải trong một danh mục, càng nhiều cổ phiếu thì tác dụng đa dạng
hóa càng ca
o.
- Rủi ro suy giảm tương ứng với cổ phiếu được thêm vào danh mục.
Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam


GVHD: TS. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC
Trang 3
SVTH: PHẠM ĐỨC AN


Lý thuyết về việc đa dạng hóa có thể nói đã ra đời từ rất lâu thậm chí là
trước cả thị trường chứng khoán, nhưng mọi việc chỉ dừng lại ở việc đa dạng hóa
giản đơn, chẳng hạn như họ cố gắng phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào các
ngành nghề, các lĩnh vực khác nhau dựa vào sự khác biệt về bản chất giữa các
ngành chẳng hạn như: Ngành khai khoáng đư
ợc xem là có nhiều rủi ro trong khi
đó các ngành phục vụ các mục đích công cộng có sự bảo hộ của nhà nước như
nông nghiệp, sản xuất nhu yếu phẩm hay bưu chính viễn thông được cho là ít rủi
ro hơn.
Lý thuyết Đa dạng hóa hiện đại chỉ thực sự bắt đầu khi Harry Markowitz
phát triển lý thuyết về việc xây dựng “danh mục đầu tư khả dĩ tối ưu”, dựa trên
qua
n hệ về lợi nhuận - rủi ro. Trong đó ông giả thuyết hành vi của nhà đầu tư chỉ
dựa vào lơi nhuận mong đợi và phương sai của lợi nhuận "expected returns-
variance of returns" [3, tr.77]. Ông đã cố gắng lượng hóa rủi ro, dựa trên độ lệch
chuẩn lợi nhuận của danh mục đầu tư. Nhưng các nghiên cứu chỉ thật sự phát
triển khi William F. Sharpe phát triển một mô hình đo lường lợi nhuận đơn giản
hơn, còn được gọi là Diagonal Modell

thường được biết đến với tên gọi “mô
hình chỉ số đơn” [4, tr 281].

iii i
RABIC=+ +
(1)

Với
i
R
là giá trị thị trường của chứng khoán i

i
A
là giá trị cổ phiếu I khi chỉ số thị trường (I) bằng 0.

i
B
là hệ số tương quan giữa thị trường và chứng khoán i, được xem là đại
diện cho phần rủi ro hệ thống tức rủi ro không thể đa dạng hóa.
I là chỉ số thị trường.

i
C
là sai số, được xem là đại diện cho phần rủi ro có thể đa dạng hóa.
Hai nghiên cứu trên đã giúp phát triển các lý thuyết cũng như thực nghiệm
sau đây, mà Luận văn này dựa vào đó để nghiên cứu, đó là:
- Nghiên cứu của John L. Evans và Stephen H. Archer với tựa đề là
“Diversification And The Reduction Of Dispersion: An Empirical Analysis”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét