Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014
456 Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing tại Công ty TNHH Xây Dựng Hoà Thành
Mô hình 1.1 : Thị trờng của công ty kinh doanh
Tóm lại: "thị trờng là sản phẩm của sự phân công lao động xã hội cùng
với chuyên môn hoá sản xuất. Khi mà sự phân công lao động phát triển đến
trình độ cao, các quan hệ mua bán, trao đổi ngày càng phong phú, đa dạng
thì thị trờng ngày càng phát triển trở lên hoàn thiện và phức tạp hơn". Vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau về thị trờng, nhng trong giai đoạn hiện nay khái
niệm: thị trờng của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng và cung ứng hiện
thực và tiềm năng của doanh nghiệp có thể coi là đúng đắn vì hiện nay yếu tố
nhu cầu của khách hàng rất đợc đề cao.
1.2. Các đặc trng của thị trờng.
Mặc dù có rất nhiều những quan niệm khác nhau về thị trờng, dới nhiều
giác độ, nhiều cách hiểu, cách nhìn nhận khác nhau. Nhng khi nói đến thị trờng
thì thị trờng luôn có các đặc trng sau:
Phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn liền với địa điểm xác
định.
Trong nền kinh tế tự nhiên, ngời sản xuất sẽ là ngời tiêu dùng những sản
phẩm do chính mình làm ra, do vậy không diễn ra các hoạt động trao đổi các
sản phẩm làm ra, không có khách hàng vì vậy cũng không có khái niệm thị tr-
ờng.
Khi phân công lao động xã hội phát triển, mỗi ngời sản xuất chỉ sản xuất
một hay một số mặt hàng nhất định do đó xuất hiện nhu cầu về những hàng hoá
khác, tức là xuất hiện khách hàng và thị trờng hình thành chính là chiếc cầu nối
giữa ngời sản xuất với ngời tiêu dùng. Ban đầu hoạt động mua bán, trao đổi
hàng hoá thờng đợc diễn ra tại những địa điểm xác định, do đó ngời ta thờng
hiểu rằng thị trờng chính là cái chợ. Sau này, khi sản xuất và lu thông phát triển
thì hoạt động mua bán trao đổi không chỉ diễn ra tại một địa điểm nh trớc nữa
mà nó có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi. Do vậy khi nói đến thị trờng thì chúng
ta hiểu rằng thị trờng không nhất thiết phải gắn với một địa điểm xác định.
Khách hàng phải có nhu cầu cha đợc thoả mãn, đây chính là cơ sở
thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá dịch vụ.
Khi nói đến khách hàng cho một loại hàng hoá dịch vụ nào đó tức là ta
nói đến những nhu cầu có khả năng thanh toán nhng cha đợc thoả mãn, bởi vì
nếu nh khách hàng không có nhu cầu hoặc nhu cầu đợc thoả mãn thì cũng đồng
Thị trờng ở 1 mức
giá bán xác định
nghĩa với việc không có khách hàng hay không có thị trờng cho hàng hoá dịch
vụ đó. Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay thì những nhu cầu cha đợc thoả
mãn của khách hàng chính là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, là động cơ thúc đẩy khách hàng mua hàng. Do đó muốn hoạt
động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì đòi hỏi các nhà sản xuất phải
tìm hiểu và nắm bắt đợc những nhu cầu cha đợc thoả mãn của khách hàng để đa
ra các hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu đó.
Khách hàng phải có khả năng thanh toán, tức là khách hàng phải có
khả năng trả tiền đủ mua hàng.
Nhu cầu của con ngời rất đa dạng và phong phú, song nó không hoàn
toàn đợc đảm bảo về khả năng thanh toán. Nhu cầu về một loại hàng hoá nào đó
sẽ trở thành cầu khi nó có tiền bảo đảm. Trên thị trờng với rất nhiều các loại
nhu cầu nh nhu cầu âm tính, nhu cầu khống , do đó việc xác định nhu cầu thì
rất dễ nhng để xác định cầu thì lại rất khó. Vì vậy để xác định cầu thì yếu tố thu
nhập là một trong những nhân tố quan trọng cần phải quan tâm.
2. Vai trò và chức năng của thị trờng đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hàng hoá, thị trờng có một vai trò rất quan trọng trong
việc kết hợp cung và cầu lại với nhau. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển cao
thì vai trò của thị trờng lại càng trở nên quan trọng. Mọi hoạt động của ngời sản
xuất và ngời tiêu dùng đều thông qua và đợc thể hiện qua thị trờng. Nền kinh tế
thị trờng cho phép thị trờng thể hiện vai trò và chức năng của nó.
2.1. Vai trò của thị trờng.
Thị trờng có vai trò rất quan trọng với nền kinh tế cũng nh hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó thể hiện ở các điểm sau:
Thị trờng đảm bảo sự tồn tại và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ không phải để thoả mãn
nhu cầu của chính mình, mục tiêu chủ yếu của các doanh nghiệp chính là lợi
nhuận, muốn đạt đợc mục tiêu này thì doanh nghiệp phải nghiên cứu, tìm hiểu
và thoả mãn đợc tối đa nhu cầu của ngời tiêu dùng bằng việc cung cấp hàng hoá
dịch vụ của mình cho khách hàng thông qua thị trờng. Do đó thị trờng chính là
nơi để các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình.
Trong thời gian trớc, khi sản xuất còn kém phát triển thì hầu hết các sản phẩm
đợc sản xuất ra đều có thể đợc thị trờng chấp nhận. Tuy nhiên khi sản xuất phát
triển tới một trình độ cao, hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều thì không phải
tất cả các sản phẩm sản xuất ra đều đợc thị trờng chấp nhận mà chỉ có những
sản phẩm nào vợt lên trên các sản phẩm khác cùng loại, đáp ứng đợc tốt hơn
yêu cầu của ngời tiêu dùng thì mới có khả năng tồn tại trên thị trờng. Nếu các
doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm không đợc thị trờng chấp nhận mà
doanh nghiệp cũng không có biện pháp gì để tạo ra thị trờng cho sản phẩm của
mình thì doanh nghiệp đó không thể tồn tại trên thị trờng.
Thị trờng là môi trờng của kinh doanh, nó tồn tại khách quan chính vì vậy
các doanh nghiệp không có khả năng làm thay đổi thị trờng mà ngợc lại họ phải
tiếp cận để thích ứng với thị trờng. Trong nền kinh tế thị trờng phát triển nh
ngày nay, cạnh tranh trên thị trờng diễn ra hết sức khốc liệt do đó doanh nghiệp
nào yếu kém thì thị trờng sẽ bị thu hẹp dần và có nguy cơ bị phá sản. Thị trờng
đang và sẽ là một vấn đề ảnh hởng tới sự sống còn của doanh nghiệp .
Nh vậy có thể nói, thị trờng là môi trờng sống của doanh nghiệp Đối với
các doanh nghiệp để có đợc thị trờng đã là một vấn đề hết sức khó khăn, song
để giữ vững và mở rộng thị trờng lại là vấn đề khó khăn hơn nhiều.
Thị trờng định ra phơng hớng kinh doanh cho doanh nghiệp.
Thị trờng định ra phơng hớng kinh doanh cho doanh nghiệp thông qua
hoạt động nghiên cứu thị trờng mà doanh nghiệp thực hiện. Hoạt động nghiên
cứu thị trờng của doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp phát hiện ra những
khe hở thị trờng, thị trờng tiềm năng cho doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có
những quyết định kinh doanh hàng hoá, dịch vụ gì sao cho phù hợp, đáp ứng đ-
ợc nhu cầu thị trờng. Nghiên cứu thị trờng còn giúp cho doanh nghiệp đa ra các
chỉ tiêu, mục tiêu cần thực hiện trong các chiến lợc ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn, đồng thời đa ra các kế hoạch, giải pháp để đạt đợc các chỉ tiêu đó.
Thị trờng sẽ điều tiết hàng hoá từ nơi thừa đến nơi thiếu, hớng doanh
nghiệp chuyển hớng kinh doanh từ các nghành, lĩnh vực kinh doanh có tỷ suất
lợi nhuận thấp sang các nghành, lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
Các yếu tố của thị trờng không phải là cố định mà nó luôn biến động do
sự ảnh hởng của nhiều nhân tố nh: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội cùng với
sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trờng nó làm cho quan hệ cung cầu bị phá vỡ,
giá cả thờng xuyên biến động. Do vậy, hoạt động nghiên cứu thị trờng của
doanh nghiệp cần phải xác định đợc sự biến động thờng xuyên của sự biến động
và đa ra các biện pháp để thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp .
Thị trờng có tác dụng thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng.
Nhu cầu của ngời tiêu dùng rất đa dạng và phong phú, nó luôn có xu h-
ớng ngày càng hoàn thiện, đòi hỏi của ngời tiêu dùng đối với sản phẩm của
doanh nghiệp ngày càng cao.
Trên thị trờng thờng tồn tại nhiều công ty cùng sản xuất kinh doanh một
mặt hàng (mà dung lợng thị trờng thì có hạn), vì vậy mức độ cạnh tranh trên thị
trờng là rất lớn và có xu hớng tăng do nhu cầu phát triển của mỗi công ty. Bên
cạnh đó còn có rất nhiều sản phẩm thay thế có thể đe doạ tới sự suy giảm thị
phần của công ty trên thị trờng .
Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển đã thúc đẩy các doanh nghiệp
không ngừng cải tiến quá trình sản xuất của mình. Nhu cầu của ngời tiêu dùng
và sự cạnh tranh mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp ứng dụng thành tựu khoa
học kỹ thuật mới trong sản xuất kinh doanh giúp tăng năng suất lao động, cải
tiến và tung ra các sản phẩm mới có chất lợng cao hơn, phù hợp với nhu cầu của
khách hàng hơn.
Ngợc lại, sản xuất phát triển cũng có tác dụng kích thích tiêu dùng. Khi
các sản phẩm luôn đợc cải tiến và sự ra đời của nhiều sản phẩm mới với nhiều
tính năng mới sẽ hấp dẫn ngời tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Sản xuất và
tiêu dùng luôn đi kèm với nhau và có tác dụng bổ trợ cho nhau cùng phát triển .
Thị trờng là nơi phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh .
Thị trờng là nơi phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
một cách chính xác nhất. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có
đạt hiệu quả hay không, có thực hiện đợc mục tiêu đề ra hay không đều đợc thể
hiện qua sự phản ứng lại của thị trờng. Khi doanh nghiệp quyết định sản xuất
kinh doanh một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó để tung ra thị trờng, hiệu quả của
hoạt động tiêu thụ hàng hoá đợc thể hiện thông qua số lợng khách hàng mua
sản phẩm của doanh nghiệp hay thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng.
Thông qua thị phần của doanh nghiệp ngời ta có thể thấy đợc quy mô và hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng đợc thể hiện thông qua thị
trờng, thông qua thị phần của doanh nghiệp chiếm lĩnh đợc so với các doanh
nghiệp khác. Thông qua sự phản ứng lại của thị trờng đối với sản phẩm mà
doanh nghiệp đa ra nh mức độ chấp nhận sản phẩm của ngời tiêu dùng, sự phản
ứng của đối thủ cạnh tranh trớc các sản phẩm của doanh nghiệp cộng với sự
biến động của các yếu tố trong môi trờng kinh doanh có thể cho thấy đợc thực
trạng và triển vọng phát triển trong tơng lai của doanh nghiệp .
Một doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả không chỉ đơn thuần
dựa vào tiềm lực sẵn có của mình mà cần phải thờng xuyên xác định đợc thực
trạng của thị trờng sản phẩm, những xu hớng biến động của thị trờng không chỉ
ở hiện tại mà ở cả trong tơng lai, từ đó đa ra các biện pháp để nâng cao khả
năng kinh doanh, từng bớc tạo đợc một chỗ đứng cho sản phẩm của mình trên
thị trờng .
Thị trờng là nơi sàng lọc các chủ trơng chính sách của nhà nớc.
Thị trờng là nơi sàng lọc, kiểm nghiệm, chứng minh tính đúng đắn của
các chủ trơng, chính sách, biện pháp kinh tế của nhà nớc và các chiến lợc, mục
tiêu của doanh nghiệp.
Thị trờng phản ánh các quan hệ xã hội, hành vi giao tiếp của con ngời,
đào tạo và bồi dỡng cán bộ quản lý, nhà kinh doanh và đào thải các cán bộ
không có năng lực
Sự năng động của cơ chế thị trờng, hiệu quả của nền kinh tế thị trờng thể
hiện sự đúng đắn của các chủ trơng, chính sách kinh tế của quốc gia.
Thông qua kết quả kinh doanh, doanh nghiệp đã đợc kiểm chứng bởi thị
trờng để khẳng định chiến lợc phát triển của doanh nghiệp có phù hợp với thị tr-
ờng hay không. Sản phẩm sản xuất ra đợc bán trên thị trờng, việc bán hay
không bán cũng phần nào nói lên hay chứng minh cho chúng ta thấy tính đúng
đắn của các chiến lợc và khả năng đánh giá, nhìn nhận thị trờng của doanh
nghiệp.
2.2. Chức năng của thị trờng.
Chức năng thừa nhận.
Hàng hoá đợc sản xuất ra, ngời sản xuất mang bán nó, việc bán hàng đợc
thực hiện thông qua chức năng của thị trờng. Hàng hoá đợc bán trên thị trờng,
có nghĩa là nó đã đợc ngời mua chấp nhận, đợc thị trờng thừa nhận, điều đó
giúp hoàn thành quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá.
Chức năng thực hiện.
Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trờng, thực
hiện hoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc thực
hiện các quan hệ và hoạt động khác.
Thị trờng thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện cung cầu hàng
hoá, thực hiện giá trị và trao đổi giá trị Thông qua chức năng thực hiện của thị
trờng, hàng hoá hình thành nên giá trị trao đổi của mình. Giá trị trao đổi là cơ
sở vô cùng quan trọng để hình thành nên các quan hệ về kinh tế trên thị trờng.
Chức năng thông tin.
Mọi hoạt động của ngời sản xuất và ngời tiêu dùng đều đợc thể hiện
thông qua thị trờng, thông qua thị trờng mà ngời sản xuất có thể nhận biết đợc
nhu cầu cha đợc thoả mãn của xã hội, thị trờng cũng phản ánh và đánh giá hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, từ đó giúp
cho doanh nghiệp có đợc những quyết định sản xuất kinh doanh mặt hàng gì,
chất lợng nh thế nào, giá cả là bao nhiêu Đối với ngời tiêu dùng, những thông
tin họ thu đợc trên thị trờng sẽ giúp họ tìm kiếm, lựa chọn đợc những hàng hoá
và dịch vụ đáp ứng đợc nhu cầu của mình một cách tốt nhất.
Chức năng điều tiết kích thích.
Thị trờng là tập hợp các hoạt động của các quy luật kinh tế, do đó thị tr-
ờng vừa là mục tiêu, vừa tạo động lực để thực hiện các mục tiêu đó. Đó là cơ sở
quan trọng để chức năng điều tiết và kích thích của thị trờng phát huy tác dụng.
Thông qua nhu cầu thị trờng về các loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, các
nhà sản xuất kinh doanh chủ động di chuyển vốn, t liệu sản xuất, t liệu lao động
từ ngành này qua ngành khác để thu đợc lợi nhuận cao hơn.
Thông qua quá trình sản xuất, thị trờng chỉ chấp nhận những sản phẩm có
chi phí sản xuất, lu thông thấp hơn các sản phẩm cùng loại hoặc ở mức trung
bình của xã hội. Do đó thị trờng có vai trò quan trọng đối với việc kích thích tiết
kiệm chi phí sản xuất, nâng cao năng xuất lao động.
Tóm lại, vai trò và chức năng của thị trờng là không thể phủ nhận đối với
sự vận hành của nền kinh tế, cũng nh đối với hoạt động của doanh nghiệp. Cùng
với sự phát triển của nền sản xuất xã hội thì thị trờng cũng ngày càng phát triển
và hoạt động với đầy đủ vai trò chức năng của mình.
3. Tầm quan trọng của hoạt động mở rộng thị trờng ở công ty sản
xuất kinh doanh.
Mở rộng thị trờng là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp.
Đất nớc chuyển sang nền kinh tế mở, giờ đây các doanh nghiệp không
còn đợc nhà nớc bao cấp và tìm kiếm thị trờng cho nữa, các doanh nghiệp có
quyền độc lập trong hoạt động kinh doanh của mình dới sự quản lý vĩ mô của
nhà nớc.
Trong nền kinh tế sản xuất hiện đại, sự xuất hiện ngày càng nhiều những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, quá trình cạnh tranh diễn ra trên phạm vi toàn cầu, do
vậy các doanh nghiệp đang đứng trớc những thử thách to lớn trong việc nắm bắt
thích nghi với môi trờng kinh doanh. Bất kỳ doanh nghiệp nào cho dù đang
đứng trên đỉnh cao của sự thành đạt cũng có thể bị lùi lại phía sau nếu không
nắm bắt đợc thị trờng một cách kịp thời. Ngợc lại, cho dù doanh nghiệp đang
đứng trên bờ vực của sự phá sản cũng có thể vơn lên chiếm lĩnh và làm chủ thị
trờng nếu họ nhạy bén, phát hiện ra xu thế của thị trờng hay những kẽ hở thị tr-
ờng mà mình có thể len vào đợc.
Với nền kinh tế thị trờng nhanh nhạy trên mọi lĩnh vực kinh doanh sẽ làm
thay đổi rất nhanh vị thế của cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trờng.
Doanh nghiệp nào không sớm nhận thức đợc điều này, không nỗ lực tăng trởng
sẽ nhanh chóng bị tụt lại phía sau trong lĩnh vực kinh doanh của mình.
Muốn thành công trong kinh doanh thì một doanh nghiệp không chỉ dành
đợc một thị phần thị trờng mà hơn thế nữa nó phải vơn lên đứng trong nhóm các
doanh nghiệp dẫn đầu thị trờng trong lĩnh vực mà mình tham gia. Để làm đợc
điều này thì bắt buộc doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trờng của
mình và có đợc chỗ đứng vững chắc trên thị trờng.
Việc mở rộng thị trờng nhằm giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ
tiêu thụ sản phẩm, khai thác mọi tiềm năng của thị trờng một cách triệt để, hiệu
quả của hoạt động sản xuất kinh doanh đợc nâng cao, tăng lợi nhuận và khẳng
định đợc vai trò, vị trí của doanh nghiệp trên thị trờng. Do vậy việc mở rộng thị
trờng là một hoạt động có tầm quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào,
nó góp phần không nhỏ vào việc thành công hay thất bại trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Mở rộng thị trờng là điều kiện để doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận.
Có nhiều cách để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp nh nâng giá trong
diều kiện bán ra không đổi nhng những cách đó rất khó thực hiện khi nhiều
sản phẩm cạnh tranh nhau trên thị trờng. Do đó muốn gia tăng lợi nhuận thì
cách tốt nhất là doanh nghiệp phải tiêu thụ đợc thêm nhiều hàng hoá, nghĩa là
phải mở rộng đợc thị trờng, thu hút đợc thêm nhiều khách hàng mua và tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Hoạt động mở rộng thị trờng của doanh
nghiệp có thể thực hiện theo hai hớng: thâm nhập sâu hơn vào thị trờng (mở
rộng theo chiều sâu) hoặc mở rộng và thâm nhập vào thị trờng mới (mở rộng
theo chiều rộng).
Mở rộng thị trờng giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, tăng thị
phần, nâng cao vị thế của mình trên thị trờng trong nớc và thế giới.
Trong diều kiện nền kinh tế trong nớc, khu vực và trên thế giới có nhiều
biến động nh hiện nay, tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh
nghiệp luôn phải đơng đầu với các đối thủ cạnh tranh tầm cỡ trong nớc cũng nh
trên thế giới. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển ổn định thì đòi hỏi các doanh
nghiệp phải không ngừng củng cố và phát triển thị trờng của mình. Khi sản
phẩm của doanh nghiệp đợc nhiều ngời tiêu dùng lựa chọn thì uy tín của sản
phẩm cũng nh của doanh nghiệp sẽ ngày càng tăng và điều này lại tạo thuận lơi
cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Nh vậy, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển ổn định thì phải tìm
mọi cách, mọi giải pháp nhằm tìm kiếm, tận dụng tối đa các cơ hội và tiềm
năng sẵn có để không ngừng củng cố và mở rộng thị trờng cho sản phẩm của
mình.
II. Hệ thống marketing của doanh nghiệp và ảnh hởng
của nó tới sự vận động của thị trờng
1.Hệ thống marketing của doanh nghiệp và chức năng của nó.
1.1.Kháiniệm, chức năng của marketing tại doanh nghiệp.
Khái niệm marketing
Marketing là một dạng hoạt động của con ngời nhằm thoả mãn những
nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi.
Dới góc độ của các nhà kinh doanh thì: marketing thơng mại là một môn
khoa học kinh tế chuyên ngành nghiên cứu các tính quy luật hình thành và động
thái chuyển hoá nhu cầu thị trờng thành các quyết định mua của khách hàng
tiềm năng và nghệ thuật đồng quy các hoạt động, ứng xử kinh doanh trong
khuôn khổ các chơng trình, giải pháp công nghệ và quản trị hỗn hợp các khả
năng, nỗ lực chào hàng, chiêu khách và điều khiển các dòng phân phối - bán
hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu tập khách hàng và tối u hoá
hiệu quả mục tiêu của công ty trong mối quan hệvới các thị trờng của nó.
Chức năng của marketing trong doanh nghiệp.
+ Chức năng làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trờng.
Marketing chỉ ra cho các bộ phận kỹ thuật sản xuất biết cần phải sản xuất
cái gì, sản xuất nh thế nào, sản xuất với khối lợng là bao nhiêu và bao giờ thì đa
nó ra thị trờng. Nh vậy marketing đã giúp cho sản phẩm đáp ứng một cách tốt
nhất nhu cầu thị trờng, nói cách khác marketing làm cho sản phẩm luôn thích
ứng với nhu cầu thị trờng.
+ Chức năng phân phối.
Marketing giúp cho việc tổ chức sự vận động hàng hoá từ sau khi nó kết
thúc quá trình sản xuất cho đến khi nó đợc giao cho những cửa hàng bán buôn
và bán lẻ, hoặc dợc giao trực tiếp cho ngời tiêu dùng một cách tối u nhất.
+ Chức năng tiêu thụ hàng hoá.
Marketing chỉ ra các nghiệp vụ và nghệ thuật bán hàng, đồng thời nó còn
đa ra các mức giá tối u trong các điều kiện khác nhau.
+ Chức năng yểm trợ.
Marketing có nhiều hoạt động phong phú, trong đó nó bao gồm cả những
hoạt động yểm trợ cho việc phân phối-bán sản phẩm nh: quảng cáo, xúc tiến
bán
Dòng giao tiếp - khuyếch trương bán
Dòng bán hàng hoá và dịch vụ
Dòng thanh toán (tiền ,tín dụng)
Công ty
Các thị trường
của công ty
Mô hình 1.2 : Mô hình hệ thống marketing của công ty.
1.2. Môi trờng marketing của doanh nghiệp.
Môi trờng marketing là tổng hợp tất cả các yếu tố, những lực lợng bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt
động hoặc ra các quyết định của bộ phận marketing trong doanh nghiệp, đến
khả năng thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng.
Môi trờng marketing là tập hợp của môi trờng marketing vi mô và môi
trờng marketing vĩ mô, trong đó:
Môi trờng marketing vi mô bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến
doanh nghiệp và nó ảnh hởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ
khách hàng. Đó là các nhân tố nội tại của công ty, thị trờng khách hàng, ngời
cạnh tranh, ngời cung cấp
Môi trờng marketing vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lợng mang tính
chất xã hội rộng lớn, chúng có tác động ảnh hởng đến toàn bộ môi trờng
marketing vi mô và tới các quyết định của doanh nghiệp. Môi trờng marketing
vĩ mô là tập hợp tất cả các yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát và thay
đổi đợc, đó là những yếu tố thuộc về nhân khẩu học, kinh tế, công nghệ-kỹ
thuật, chính trị -xã hội
+ Môi trờng kinh tế: đây là nhóm nhân tố có vai trò quyết định, bởi vì
chúng tác động trực tiếp tới các yếu tố cấu thành thị trờng nh: cung - cầu, giá
cả, tiền tệ với thay đổi về thu nhập, tỷ lệ lạm phát, đầu t nớc ngoài đều ảnh
hởng đến thị trờng, mọi sự chuyển dịch dù lớn hay nhỏ của chúng cũng đều gây
nên những tác động thuận hay nghịch trên thị trờng. Bất cứ một sự chuyển dịch
lợng cung hay lợng cầu trên thị trờng đều sẽ kéo theo sự chuyển dịch về giá cả,
tạo nên sự cân bằng mới cho mọi loại hàng. Một sự gia tăng, giảm bớt cơ cấu,
chủng loại, số lợng sản phẩm cải tiến, nâng cao chất lợng hay đa sản phẩm mới,
xuất hiện sản phẩm thay thế đều sẽ làm cho quan hệ cung cầu trên thị trờng
biến đổi, dẫn đến việc đa ra các quyết định kinh doanh là hết sức khó khăn.
+Các nhân tố về chính trị-pháp luật: mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia
đều mang đậm bản chất chính trị của quốc gia đó, thông qua việc xem xét, phân
Dòng thông tin
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét