Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ


5
cần thời gian để chuyển séc từ nơi này sang nơi khác, điều này đặc biẹt quan
trọng nếu bạn đang thanh tốn cho một người ở nơi khác mà người này cần
thamh tốn nhanh. Ngồi ra, nếu bạn có một tài khoản séc, bạn biết là cần một
vài ngày trước khi một ngân hàng ghi có cho tài khoản của bạn với một séc mà
bạn đã gửi vào. Nếu bạn cần ngay tiền mặt, đặc điểm nổi bật này của hệ thống
thanh tốn bằng séc làm bạn thất vọng. Thứ hai, tất cả những rắc rối phức tạp về
giấy tờ cần phải có đã làm cho việc sử dụng tài khoản séc khá tốn kém; người ta
ước tính gần đây số tiền chi phí cho tồn bộ số tiền viết ở Mỹ đã vượt qua 5 tỷ
đơla mỗi năm.
Với sự phát triển của computer và cơng nghệ viễn thơng tiên tiến dường
như sẽ có một phương pháp tốt hơn để tổ chức hệ thống thanh tốn của chúng ta.
Tất cả cơng việc giấy tờ có thể được loại bỏ bằng cách biến đổi tồn bộ sang
một hệ thống gọi là hệ thống chuyển khoản điện tử (Electronic funs transfer
system- EFST), tức là một hệ thống thanh tốn trong đó mọi cuộc thanh tốn
được thực hiện nhờ hệ thống thơng tin viễn thơng điện tử. Chúng ta hãy xem
một hệ thống như vậy có thể làm việc như thế nào.
Cửa hàng trong tương lai sẽ có một thiết bị ngoại vi computer (gọi một
cách điển hình là “hệ thống một điểm bán” (a poit-of –sale system POS), hệ
thống này cho phép mua sắm khơng cần tiền mặt hoặc séc. Khi bạn đã chọn
xong món hàng định mua, ví dụ một chiếc áo sơ mi, bạn chỉ cần ngồi xuống bên
thiết bị ngoại vi, ấn số mã bí mật của mình vào máy là có thể chuyển vốn từ tài
khoản ngân hàng của bạn tới tài khoản cửa hàng. Khi cửa hàng kiểm tra thấy
điều này đã xảy ra, bạn sẽ được trao chiếc áo sơ mi và ra về. Nếu bạn có một
giấy báo nợ cần thanh tốn, bạn sẽ chỉ cần bật máy tính cá nhân của bạn và quay
số nối vào một mạng lưới điện tử đặc biệt, tại đó bạn có thể chuyển vốn từ tài
khoản ngân hàng của bạn sang tài khoản của các nhân hay cơng ty mà bạn đang
nợ. Cơng việc giao dịch này sẽ xảy ra trong khoảnh khắc và khơng phải soạn
thảo hay viết bất cứ thứ giấy tờ gì.
Phải chăng hệ thống chuyển khoản điện tử xem có vẻ là một hệ thống
gượng gạo, thiếu tự nhiên? Khơng phải như vậy vì hệ thống loại này đã sẵn sàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
hoạt động trên một phạm vi rộng lớn. Cơ quan Dự trữ Liên bang có một hệ
thống thơng tin viễn thơng, gọi là Fedwire (chuyển khoản liên bang), hệ thống
này cho phép mọi tổ chức tài chính có tài khoản tiền gửi ở Dự trữ Liên bang
thực hiện chuyển khoản từ tỏ chức này sang tổ chức kia mà khơng phải chuyển
séc. Ngồi ra, CHIPS (Clearing House Interbank Payment System- Hệ thống
thanh tốn bù trừ liên ngân hàng), một hệ thống chuyển khoản điện tử tư nhân,
được dùng để chuyển khoản giữa các ngân hàng trên phạm vi quốc tế. Nay các
ngân hàng, thị trường tiền tệ, quỹ tương trợ, những người bn bán chứng khốn
và các cơng ty có thể chuyển khoản nhờ hệ thống này.
Chuyển khoản theo đường dây (Wire transfer) là đặc trưng cho việc
chuyển những khoản lớn hơn một triệu đơla, bởi vậy, tuy có dưới 1% số vụ giao
dịch dùng phương thức chuyển khoản điện tử (chuyển khoản theo đường dây) ,
trên 80% giá trị đơla giao dịch được chuyển theo phương thức này. Tuy thế, khi
chúng ta nói rằng một cơng ty đang thanh tốn cho một thứ gì đó với một séc,
thì cơng ty đó thường là đang thanh tốn bằng cách chuyển khoản điện tử.
Gần đây, EFTS đã và đang với tới đời sống của cơng chúng rộng rãi một
cách trực tiếp. Một số khoản nợ định kỳ nay có thể được thanh tốn một cách tự
động hàng tháng khơng cần phải đụng đến tài khoản séc. Nhiều cơng ty thanh
tốn lương bằng bằng cách chuyển trực tiếp nó vào tài khoản ngân hàng của
nhân viên. Một số ngân hàng mời chào một dịch vụ trong đó khách hàng có thể
nối máy tính cá nhân của họ vào một mạng lưới để thực hiện một số giao dịch,
ví dụ chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản séc.
Tuy đã có dự báo séc sẽ sớm biến mất trong nền kinh tế Mỹ,việc tiến tới
một xã hội khơng séc còn cần nhiều thời gian hơn là nhiều người đã tưởng.
Trong khi hệ thống chuyển khoản điện (EFTS) có thể là hiện hữu hơn Hệ thống
thnh tốn trên cơ sở giấy, có một số điều cản trở sự xố bỏ hệ thống giấy. Hệ
thống giấy có lợi vì nó tạo ra những biên nhận bằng giấy(reciept) và sự gian lận
khó thực hơn. Chúng ta thường đọc trên báo rằng mọt kẻ khơng được phép có
thể đã “nắm” được một cơ sở dữ liệu computer và có thể đã sửa đổi thơng tin
lưu trữ ở đấy. Thực tế, việc như vậy đã thường xảy ra thì có nghĩa là những kẻ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
bất lương đã có khả năng với tay tới tài khoản của ngân hàng trong một hệ thống
thanh tốn điện tử và lấy cắp vốn gửi bằng cách chuyển nó từ một tài khoản của
một người khác nào đó sang tài khoản của chúng. Ngăn ngừa hành động này
khơng phải là việc dễ làm, và có một nghành hồn tồn mới dang mở ra để cải
thiện sự an tồn computer. Một khó khăn khách đối với Hệ thống thanh tốn
điện tử là ở chỗ còn có nhiều vấn đề pháp rắc rối cần được xử lý. Ví dụ, liệu bạn
có thể ngừng thanh tốn đối với một chuyển khoản điện tử theo cách bạn có thể
làm với séc? Ai phải chịu trách nhiệm nếu, một người nào đó năm được mã số bí
mật của bạn và rút vốn từ tài khoản của bạn một cách bất hợp pháp?
Kết luận rút ra từ lập luận này có lẽ là chúng ta đang đi tới một hệ thống
thanh tốn trong đó việc sử dụng giấy tờ sẽ giảm thiểu, tuy rằng việc phát triển
các dạng mới của tiền điện tử (electronic money) có thể là một q trình từng
bước do có những trở ngại, ví dụ sự đảm bảo an tồn đầy đủ.
2.Vai trò của ngân hàng thương mại trong sự ra đời của các phương
tiện thanh tốn khơng dùng mặt
Các nhà kinh tế học đã thừa nhận ngân hàng thương mại là một trong
những phát minh tuyệt vời của nhân loại, được hình thành và phát triển cùng với
q trình phát triển của xã hội lồi người. Khơng ai có thể biết chính xác ngân
hàng thương ra đời khi nào, nhưng chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng, sự
phát sinh, phát triển của ngành ngân hàng được quyết định bởi q trình phát
triển của các mối quan hệ hàng hố- tiền tệ, bên cạnh những yếu tố khác như:
tình hình kinh tế- xã hội, chế độ pháp quyền, điều kiện chiến tranh và khủng
hoảng kinh tế… Đó là một ngành dịch vụ với tính cộng đồng và tính nhân văn
rất cao, chằng chịt vơ số các mối liên hệ với đơng đảo cơng chúng, khơng chỉ
trong phạm vi quốc gia mà còn trải rộng trên phạm vi quốc tế.
Lịch sự ra đời của ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi.
Từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ cho khách hàng
để nhận thù lao, ngân hàng trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi, nghĩa là
huy động tiền gửi khơng những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách
hàng gửi tiền và dùng số tiền đó làm vốn cho vay nhằm tối đa hố lợi nhuận.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
Trong q trình nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng đã thu hút được
các đơn vị kinh tế có quan hệ bn bán với nhau mở tài khoản tiền gửi thanh
tốn tại ngân hàng, tạo cơ sở cho ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh tốn
theo lệnh của chủ tài khoản. Với sự trợ giúp của hệ thống ngân hàng, quan hệ
thanh tốn trở nên đơn giản hơn, khơng gian sản xuất và kinh doanh được mở
rộng. Các hoạt động như vận chuyển, đo đếm, kiểm tra tiền để thanh tốn khơng
còn nữa mà thay vào đó các đơn vị chỉ cần mở một tài khoản ngân hàng và kí
lệnh thanh tốn khi cần thiết là mọi việc coi như đã hồn tất. Hơn nữa, số tiền
trong tài khoản ngân hàng được bảo quản rất an tồn và có thể mang về những
khoản lãi ngồi sản xuất cho các đơn vị.
Về mặt xã hội, ngân hàng làm trung gian thanh tốn đã giúp giảm lượng
tiền trong lưu thơng, từ đó giảm các chi phí giao dịch như: chi phí in ấn, bảo
quản, vận chuyển tiền… Thơng qua cơ chế thanh tốn khơng dùng tiền mặt,
ngân hàng tập trung được một khối lượng tiền nhàn rỗi để cho vay, phục vụ q
trình tái sản xuất, góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển.
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người cũng thay đổi
theo. Để phục vụ tốt nhất cho khách hàng, ngân hàng đã tạo ra những cơng cụ
tài chính có chức năng hoạt động như một phương tiện thanh tốn thay thế cho
tiền mặt như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, hối phiếu, thư tín dụng…Khi nền
kinh tế được thị trường phát triển nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, khi cơng
nghệ thơng tin được ứng dụng rộng rãi, hoạt động ngân hàng được mở rộng và
đa dạng hố, từ chỗ phục vụ cho một khối lượng khách hàng ít ỏi là các tổ chức
kinh tế và doanh nghiệp đến phục vụ cho tất cả các tầng lớp dân cư; từ khơng
gian địa lý bó hẹp trong phạm vi một vùng kinh tế, một quốc gia cho đến xu
hướng khu vực hố, tồn cầu hố. Sự phát triển này tạo nên yếu tố khách quan
buộc các ngân hàng phải khơng ngừng đổi mới, đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và ứng dụng cơng nghệ hiện đại để thay thế các phương tiện thanh tốn cổ
điển. Kết quả là một loạt các dịch vụ, phương tiện thanh tốn mới và hiện đại ra
đời như: thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử…ngày càng cho
chúng ta thấy rằng hoạt động ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế khơng thế
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
thiếu được trong xã hội phát triển vũ bão như hiện nay.
Có thể nói, sự ra đời và phát triển hoạt động thanh tốn của các ngân hàng
thương mại đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định đối với sự ra đời của
các phưong tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt trong nền kinh tế hiện đại ngày
nay. Nhìn vào sự phát triển của chúng tại một quốc gia trên thế giới, người ta có
thể biết được trình độ phát triển của quốc gia đó đã đạt đến mức độ nào.
3. Một số phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt hiện nay
Với sự phát triển rất đa dạng, diễn ra trong phạm vi khác nhau của các
phương tiện thanh tốn trong hoạt động ngân hàng nhằm phục vụ cho các đối
tượng khác nhau, các phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt cũng có nhiều
loại nhưng phổ biến nhất vẫn là những phương tiện thanh tốn sau đây:
Séc: Là một tờ mệnh lệnh vơ điều kiện, do chủ tài khoản ra lệnh cho ngân
hàng trích một số tiền nhất định tên tài khoản tiền gửi của mình ở tại ngân hàng
để trả cho người thụ hưởng.
Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền: Là lệnh chi tiền của chủ tài khoản cho ngân
hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân người được hưởng.
Uỷ nhiệm thu: Là phương tiện thanh tốn mà người được hưởng uỷ nhiệm
cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hố đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng.
Thư tín dụng (L/C): Là chứng từ thể hiện sự cam kết thanh tốn tiền hàng
hố- dịch vụ của ngân hàng bên mở L/C (ngân hàng người mua) đối với người
bán khi họ thực hiện giao hàng và xuất trình đầy đủ chứng từ theo đúng nội
dung ghi trong L/C. Hình thức này thường được sử dụng trong thanh tốn quốc
tế.
Thẻ thanh tốn: Là một phương tiện hiện đại do các ngân hàng( hoặc tổ
chức, cơng ty) phát hành cho khách hàng của mình để thanh tốn tiền hàng hố,
dịch vụ và ứng rút tiền mặt, thẻ thanh tốn đã và đang được sử dụng rộng rãi
trên tồn thế giới, tuy nhiên ở Việt nam dịch vụ này đang còn nhiều mới mẻ.
II. GIỚI THIỆU KHÁI QT VỀ THẺ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ
Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
khơng ngừng về kinh tế của nhiều quốc gia trong cơ chế thị trường, việc trao đổi
hàng hố khơng còn giới hạn trong phạm vi quốc gia, mà mở rộng trên phạm vi
quốc tế đòi hỏi các ngân hàng, các tổ chức kinh tế đòi hỏi các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng của các quốc gia phải liên kết với nhau, đưa ra các phương tiện
thanh tốn với nhu cầu đa dạng của khách hàng. Cũng trong thời gian này, các
thành tựu khoa học kỹ thuật trên các lĩnh vực như thơng tin, viễn thơng quốc tế,
và đặc biệt là sự ra đời của tin học, máy tính điện tử đã tạo điều kiện thuận lợi,
làm cơ sở cho các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hồn thiện các phương tiện
thanh tốn của mình từ đó đem lại sự tiện lợi nhất cho khách hàng.Trong thẻ là
phương tiện thanh tốn đang được ưa chuộng nhất trên thế giới.
Ngày nay, chúng ta biết thẻ ngân hàng như một phương tiện thanh tốn
khơng dùng tiền mặt hữu ích và hiện đại. Số lượng thẻ lưu hành hiện nay lên tới
550 triệu thẻ với doanh số thanh tốn hàng năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
Trong đó, thẻ chủ yếu là do ngân hàng phát hành.
Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20. Nó ra đời năm 1914, kho
đó tổng Cơng ty xăng dầu Caliornia (mà nay là cơng ty Mobil) cấp thẻ cho nhân
viên và một số khách hàng của mình. Thẻ chỉ khuyến khích bán sản phẩm của
cơng ty chứ khơng kèm theo một sự dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng.
Cho tới năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider,hai doanh nhân
người Mỹ, đồng thành lập ra Diner’s Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và qn
đem theo tiền mặt, hai ơng đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ
Diner’s Club. Thẻ này cho phép họ có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà
hàng, khách sạn ở NewYork và thanh tốn số tiền này định kỳ theo tháng mà
khơng giới hạn số tiền được phép chi tiêu.
Trong hệ thống ngân hàng, hình thức sơ khai của thẻ là charge it, một hình
thức mua bán chịu do ngân hàng Flatbush Nationnal lập ra. Hệ thống này mở
đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do ngân hàng Franklin National phát
hành.Tại đây, các khách hàng đệ trình đơn xin vay và được thẩm định khả năng
thanh tốn. Nếu khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ, dùng thanh tốn cho
các thương vụ bán lẻ hàng hố, dịch vụ. Các cơ sở này, khi nhận được giao dịch
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và
đòi tiền sau đối với ngân hàng. Với những tiện lợi của việc thanh tốn này, ngày
càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia. Đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới như
Trip charge, Golden Key, Guornet Club rồi đến Carte Blanche và American
Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên, để hình thức thanh tốn thẻ
có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh tốn lớn,
khơng chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi tồn
cầu. Đứng trước đòi hỏi đó, Interbank(Master Charge) và Bank of America
(Bank Americard) đã xây dựng nên một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong
xử lý, thanh tốn tồn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành VISA USA và
sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế VISA. NĂM 1979, Master Charge cũng trở
thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card.
Ngày nay, Master Card và Visa Card là hai loại thẻ được lưu hành phổ
biến nhất trên thế giới. Đến cuối năm 1990, có khoảng 257triệu thẻ Visa Card
được lưu hành với doanh thu khoảng 354 tỷ USD. Nhưng chỉ trong vòng 3 năm,
cuối năm 1993, doanh thu của Visa Card đã tăng lên mạnh mẽ đến 542 tỷ USD.
Hệ thống máy rút tiền tự động của Visa Card khoảng 164000 máy ở 65 nước
trên thế giới. Trong khi đó, đến cuối năm 1993, tổng doanh thu của Master Card
đến 32 tỷ và có khoảng 215,8 triệu thẻ đang lưu hành ở 22 nước, hệ thống rút
tiền tự động của Master Card cũng phát triển khoảng 162 00 máy ở 120 nước
trên thế giới. Cho đến nay, số lượng thành viên tham gia hiệp hội Master Card
đã lên tới 30000 thàmh viên, mạng lưới rút tền mặt đã triển khai ở 195000 chi
nhánh trên thế giới.
Do ngày nay thẻ được sử dụng rộng rãi, các ngân hàng và các cơng ty đã
liên kết với nhau để khai thác dịch vụ mang nhiều lợi nhuận này. Thẻ ngày càng
được xem như một cơng cụ thanh tốn văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao
dịch mua bán. Bên cạnh các loại thẻ như Master Card, Visa, Amex ra đời năm
1958, JCB xuất phát từ Nhật cũng vươn lên mạnh mẽ, được sử dụng rộng rãi
trên tồn cầu, và cùng chia những thị phần rộng lớn.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, thẻ vốn đã tiện lợi ngày càng tiện
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
lợi hơn. Để giữ vững và mở rộng thị phần các hiệp hội thẻ cạnh tranh với nhau
ngày càng quyết liệt dẫn đến thẻ sẽ có cơ hội phát triển nhanh chóng trên phạm
vi tồn cầu.
2. Những vấn đề cơ bản về thẻ tín dụng
2.1. Khái niệm
Thẻ – tiền điện tử là phương tiện thanh tốn hiện đại và tiên tiến nhất trên
thế giới hiện nay, ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nghành ngân
hàng và việc ứng dụng cơng nghệ tin học trong ngân hàng.
Thẻ là phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt do ngân hàng phát
hành, thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh tốn tiền hàng hố , dịch vụ
hoặc để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong
phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân
hàng phát hành và chủ thẻ. Hố đơn thanh tốn thẻ chính là giấy nhận nợ của
chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Cơ sở chấp nhận thẻ là đơn vị cung ứng
dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thơng qua ngân hàng phát hành thẻ và ngân
hàng thanh tốn thẻ.
2.2. Đặc điểm và cấu tạo của thẻ
* Đặc điểm của thẻ
Hiện nay, có rất nhiều loại thẻ ra đời thích ứng với mọi đối tượng khách
hàng. Mỗi loại thẻ có những đặc trưng riêng, tuy nhiên chúng có những đặc
trưng sau đây:
Tính tiện lợi: Là một phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt, thẻ
cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà cho đến nay khơng một phương tiện
thanh tốn nào có thể mang lại được. Đặc biệt đối với những người phải đi ra
nước ngồi để cơng tác hay đi du lịch, thẻ có thể giúp thanh tốn ở bất cứ lúc
nào, bất cứ nơi đâu mà khơng cần phải đem theo tiền mặt hay séc du lịch, khơng
phụ thuộc váo quy mơ số tiền cần thanh tốn. Thẻ là phương tiện thanh tốn ưu
việt nhất trong số các phương tiện thanh tốn phục vụ người tiêu dùng.
Tính linh hoạt: Với nhiều loại thẻ đa dạng, phong phú, thẻ thích hợp với
mọi đối tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp đến những
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
khách hàng có thu nhập cao, khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt cho tới nhu cầu
giải trí , thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả dụng tối đa thoả mãn nhu cầu
của tất cả các loại khách hàng.
Tính an tồn và nhanh chóng: Với những gì mà thẻ có thể đem lại cho
khách hàng, chủ thẻ hồn tồn n tâm trước nguy cơ bị mất cắp. Thậm chí, dù
thẻ có thể bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền của chủ thẻ bằng số pin, ảnh và
chữ ký trên thẻ, mã tài khoản thẻ nhằm tránh khả năng rut trộm tiền mặt. Hơn
thế nữa, hầu hết cac giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực
tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tưói ngân hàng thanh tốn,
ngân hàng phát hành và các tổ chức thẻ quốc tế.Việc ghi Nợ, Có cho các chủ thẻ
tham gia quy trình thanh tốn được thực hiện một cách tự động do đó q trình
thanh tốn rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng.
* Cấu tạo của thẻ.
Dù bất cứ loại thẻ nào, thẻ bao giờ cũng có những cấu tạo chung nhất là:
Nó được làm bằng Plastic, có tiêu chuẩn quốc tế là 5,5 cm x 8,5 cm. Trên thẻ có
in đầy đủ các yếu tố như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, số thẻ , tên chủ thẻ,
ngày hiệu lực , cơ sở phát hành thẻ. Và một số yếu tố khác theo quy định của các
tổ chức thẻ quốc tế hoặ hiệp hội phát hành thẻ.
Mặt trước của thẻ
Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng
của tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như là yếu tố an ninh chống lại sự giả
mạo.
VISA: Hình chữ nhật 3 màu: xanh, trắng, vàng có chữ VISA chạy ngang
giữa màu trắng, trên hình chữ nhật 3 màu là hình chim bồ câu in chìm.
MASTERCARD: Có 2 hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một
hình màu da cam, một hình màu đỏ) và dòng chữ MASTERCARD màu trắng
chạy ở giữa; trên 2 hình tròn lồng nhau là 2 nửa quả cầu lơng in chìm.
JCB: Biểu tượng 3 màu: xanh cơng nhân, đỏ, xanh lá cây, có chữ JCB
chạy ngang ở giữa.
AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
ATM: Hình chữ nhật, nền màu xanh tím.
Số thẻ : Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được
in lại trên hố đơn khi chủ thẻ thanh tốn bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại thẻ mà
chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.
Thời gian có hiệu lực của thẻ : la thời gian mà thẻ được phép lưu hành.
Tuỳ theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày
đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ .
Họ và tên chủ thẻ: In bằng chữ nổi, là tên cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên
của người được uỷ quỳên sử dụng nếu là thẻ cơng ty. Ngồi ra, còn có thẻ có cả
ảnh của chủ thẻ.
Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Mỗi loại thẻ ln có
ký tự an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực. Ví dụ thẻ Visa có chữ V
(hoặc CV,PV, RV,GV ), thẻ MASTERCARD có chữ M và chữ C lồng vào nhau.
Ngồi ra, thẻ AMEX còn in thêm mật mã cho từng đợt phát hành.
Mặt sau của thẻ
Dải băng từ: Có khả năng lưu trữ các thơng tin như: số thẻ, ngày hiệu lực,
tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành.
Dải băng chữ ký: Trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở
chấp nhận htẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh tốn.
2.3. Phân loại thẻ
Như chúng ta biết thẻ hiện nay cũng chỉ phổ biến mấy loại như trên ,
nhưng đứng trên nhiều giác độ khác nhau thì thẻ sẽ được phân chia như sau:
Phân loại theo chủ thể phát hành
Thẻ do ngân hàng phát hành.
Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh
động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp
tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, khơng chỉ trong
phạm vi một quốc gia mà còn trên phạm vi tồn cầu. Ví dụ như: Visa,
Mastercard, JCB
-Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét