Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Phát triển mạng lưới phân phối bán lẻ G7 Mart của Trung Nguyên theo mô hình nhượng quyền thương mại

- Phí nhượng quyền ban đầu: Đây là khoản phí hành chính, đào tạo, bán thương hiệu,
chuyển giao công thức kinh doanh cho bên mua nhượng quyền. Phí này chỉ được tính một
lần.
- Phí hàng tháng: Phí này là phí mà bên mua nhượng quyền phải trả cho việc duy trì sử
dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên bán nhượng quyền và những dịch vụ hỗ trợ mang tính
chất tiếp diễn liên tục như đào tạo huấn luyện nhân viên, tiếp thị, quảng bá, nghiên cứu phát
triển sản phẩm mới… Phí này có thể là một khoản phí cố định theo thoả thuận của hai bên
hoặc tính theo phần trăm trên doanh số của bên mua nhượng quyền, thường dao động trung
bình từ 3-6% tuỳ vào loại sản phẩm, mô hình hay lĩnh vực kinh doanh.
- Bán các nguyên liệu đặc thù : Nhiều chủ thương hiệu yêu cầu các đối tác mua nhượng
quyền của mình phải mua một số nguyên liệu đặc thù do mình cung cấp, vừa để đảm bảo
tính đồng bộ của sản phẩm hay mô hình kinh doanh, vừa mang lại một nguồn lợi nhuận phát
triển song song với tình hình kinh doanh của bên mua nhượng quyền.
- Tiết giảm chi phí: Các doanh nghiệp có áp dụng hình thức nhượng quyền đều có ưu thế
mua hàng giá rẻ hơn do mua với số lượng lớn hơn (để phân phối cho các cửa hàng nhượng
quyền trong một số trường hợp). Ngoài ra, các chi phí về tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết
giảm nhờ ưu thế có thể chia nhỏ ra cho nhiều đơn vị cùng mang một nhãn hiệu chia sẻ với
nhau thông qua phí nghĩa vụ hàng tháng của bên mua nhượng quyền.
1.2.2. Lợi ích của bên mua nhượng quyền
Đây là hình thức đầu tư an toàn và khôn ngoan : Thành công của các doanh nghiệp mua
nhượng quyền cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp mới bắt đầu thử nghiệm mô hình
kinh doanh lần đầu và nhãn hiệu thì chưa ai biết đến. Thật vậy, thương hiệu hay uy tín nhãn
hiệu đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với khách hàng khi họ quyết định chọn mua
sản phẩm nào. Nhiều cuộc thử nghiệm đã chứng minh rằng người tiêu dùng bị ảnh hưởng
quá nhiều bởi thương hiệu, thậm chí hơn cả chất lượng thực sự của sản phẩm.
Dễ vay tiền ngân hàng: Do xác suất thành công cao hơn nên các ngân hàng thường tin
tưởng và cho các doanh nghiệp mua nhượng quyền vay tiền. Nói đúng ra, hầu như tất cả các
doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền trên thế giới đều chủ động đàm phán, thuyết phục
ngân hàng ủng hộ các đối tác mua nhượng quyền tiềm năng của mình bằng cách cho vay với
lãi suất ưu đãi.
Được chủ thương hiệu giúp đỡ: Người mua nhượng quyền lúc nào cũng nhận được sự
giúp đỡ, hỗ trợ từ phía chủ thương hiệu trước và sau khi cửa hàng nhượng quyền khai
trương. Đây là một lợi thế lớn, đặc biệt đối với những người mới tự kinh doanh lần đầu.
Trong thời gian trước khai trương, đối tác mua nhượng quyền thường được hỗ trợ về đào
tạo, thiết kế, chọn địa điểm cửa hàng, nguồn hàng, tiếp thị, quảng cáo…Sau khai trương, họ
tiếp tục được hỗ trợ nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là khâu tiếp thị, quảng cáo và tái đào
tạo
1.2.3. Lợi ích đối với xã hội
- Lợi ích với người tiêu dùng: Nhờ có Nhượng quyền Thương mại mà hệ thống mạng
lưới cung cấp sản phẩm dịch vụ mới được mở rộng. Người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận
nhiều hơn với những sản phẩm chất lượng cao, thương hiệu nổi tiếng. Mặt khác, các cửa
hàng theo mô hình Nhượng quyền Thương mại thường có sự giám sát chặt chẽ của chủ
thương hiệu nên chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụu khách hàng luôn được đảm bảo.
Do đó, độ thoả dụng của người tiêu dùng được tăng lên, lợi ích tiêu dùng tăng lên.
- Lợi ích xã hội: tạo thêm được nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Mỗi cửa hàng
nhượng quyền mở ra lại cần thêm lao động: như người quản lý, nhân viên phục vụ…Điều
đó làm tăng cầu về lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp. Từ đó giảm bớt
được các tệ nạn xã hội. Thêm vào đó, mô hình Nhượng quyền Thương mại đòi hỏi người lao
động phải có trình độ và kỹ năng nhất định. Đây chính là động lực thúc đẩy sự phát triển
năng lực, trình độ người lao động, từ đó giúp cho xã hội ngày càng phát triển.
- Tăng ngân sách nhà nước: mỗi cửa hàng nhượng quyền mở ra sẽ đóng góp thêm vào
Ngân sách Nhà nước một khoản thuế. Điều đó sẽ giúp cho Ngân sách Nhà nước có thêm
điều kiện để thực hiện tốt vai trò phân phối lại thu nhập cũng như trợ cấp giúp đỡ cho người
nghèo, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế, xã hội.
2. Thực trạng việc phát triển mạng lưới phân phối bán lẻ G7 Mart của Trung
Nguyên tại Việt Nam
2.1. Thực trạng ngành hàng bán lẻ tại Việt Nam
2.2.1 Đặc điểm thị trường bán lẻ tại Việt Nam
Là một thị trường tiềm năng: Hiện nay Việt Nam được xếp thứ tám trong số 30 thị trường bán lẻ nhanh nhất toàn
cầu. (Theo đánh giá của công ty nghiên cứu thì trường ATK EARNEY). Với 83 triệu dân trong đó hơn 50% số người dưới độ
tuổi 30 và đang thích mua sắm, Việt Nam đang là một trong những thị trường hấp dẫn với các tập đoàn siêu thị quốc tế.
Theo tổng cục thống kê, tổng doanh thu bán lẻ năm 2005 đạt 335.383 tỉ đồng,
tương đương 20,93 tỉ USD. Theo Bộ Thương mại, mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ bình
quân đầu người năm 2005 đạt 5,7 triệu đồng, so với 5 năm trước đó chỉ là 2,8 triệu
đồng. Trong giai đoạn 2001-2005, doanh thu bán lẻ tại thị trường Việt Nam tăng bình quân 18%/năm, cao gấp khoảng hai lần
so với mức tăng trưởng bình quân của GDP cùng kỳ. Cả nước hiện có 200 siêu thị; 30 trung tâm thương mại, khoảng 1.000 cửa hàng
tự chọn, 9.063 chợ, 165 chợ đầu mối cấp vùng và cấp tỉnh. Với sự phát triển nhanh chóng như vậy, thị trường Việt Nam đang thu
hút sự chú ý của các nhà phân phối nước ngoài. Wall-Mart (Mỹ), Carrefour (Pháp), Tesco (Anh), Lotte Shopping
(Hàn Quốc), Dairy Farm (Hồng Kông), South Asia Investment PTE (Singapore) đã lần lượt "đánh tiếng" với cơ
quan chức năng Việt Nam, thậm chí có công ty đã lập văn phòng đại diện và tiến hành nghiên cứu thị trường chờ thời
cơ bước vào thị trường Việt Nam.
Hiện nay, tại thị trường bán lẻ của Việt Nam, một số tập đoàn phân phối nước
ngoài đã có mặt và hoạt động rất thành công như: Big C, Metro Cash & Carry. Còn
các doanh nghiệp Việt Nam gần như vẫn đứng ngoài cuộc. Hệ thống phân phối của
ta còn yếu kém, lạc hậu và thiếu. Trình độ quản lý, công nghệ, thiết bị kỹ thuật và
kể cả phương thức kinh doanh đều chưa theo chuẩn mực quốc tế. Ngoài hệ thống
Saigon Co.opMart và Maxi Mark, chưa có hệ thống siêu thị nào mạnh hơn. Một
cuộc chiến không cân sức đang chờ đợi các nhà phân phối trong nước khi Việt Nam
gia nhập WTO và thị trường phân phối bán lẻ được mở cửa.
Sự chênh lệch giữa kênh phân phối hiện đại và kênh phân phối truyền thống.
Hiện nay hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ
(khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập, cửa hàng truyền thống
(khoảng 44%), qua hệ thống phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, cửa
hàng tự chọn ) mới chỉ chiếm khoảng 10%. Còn lại 6% do nhà sản xuất trực tiếp
bán thẳng. Riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh lượng hàng lưu
thông qua kênh phân phối hiện đại đã tăng từ 18% năm 2004 lên 23% trong năm
2005. Trong khi đó ở vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh phía nam, miền trung và
miền bắc, tiểu thương, tư thương đảm nhận vai trò phân phối hàng hóa là chủ yếu.
Một nghiên cứu gần đây cho thấy, các cửa hàng theo kênh phân phối hiện đại như
siêu thị hiện nay không chỉ tập trung ở T.P Hồ Chí Minh và Hà Nội, mà đang mở
rộng dần đến các tỉnh có tiềm năng. Xu hướng này cho thấy nhu cầu mua sắm ở các
hệ thống phân phối hiện đại đã lan toả và thu nhập của người tiêu dùng ngày càng
được nâng cao.
Thị trường bán lẻ của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế: Dù thị trường bán lẻ của nước ta
trong thời gian qua đã phát triển sôi động, nhưng vẫn ẩn chứa những điều đáng lo
ngại. Trong đàm phán về mở cửa lĩnh vực dịch vụ. dịch vụ phân phối là một trong
những yêu cầu mà cả Mỹ, EU, ASEAN lẫn WTO đều đòi hỏi không khoan nhượng.
Nếu gia nhập WTO, sẽ phải mở cửa thị trường bán lẻ trong nước, rất có thể còn xuất
hiện thêm điều đáng lo khác. Với tình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém và cơ cấu lạc hậu
như hiện nay, nếu không có sự cải thiện thì chỉ trong một vài năm tới, dịch vụ phân
phối Việt Nam khó có thể trở thành lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế, không thể
cạnh tranh được với sự “đổ bộ” của các nhà phân phối nước ngoài.
Hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Nam vẫn còn lạc hậu theo kiểu "ăn xổi ở thì". Hàng có bao nhiêu bán bấy nhiêu. Việc
không có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối đã tạo nên một hệ thống phân phối trung gian nhiều tầng, nấc đẩy
chi phí và giá hàng hóa cao "ngất ngưởng", gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Thực tế cho thấy phân phối đã tự phát thì không thể
quản lý được giá cả, chất lượng, số lượng hàng hóa bán ra.
Ngành bán lẻ của nước ta hiện còn nhỏ bé, phát triển tự phát và thiếu tính ổn định. Đứng trước tình hình này, các
nhà phân phối, bán lẻ Việt Nam đang tìm mọi cách để giữ vững và mở rộng thị phần trên chính sân nhà. Theo các
chuyên gia, hệ thống bán lẻ của Việt Nam đã và đang bộc lộ rõ 3 điểm yếu rất cơ bản cần phải khắc phục ngay, đó là:
Tài chính, hậu cần và tính chuyên nghiệp. Nguồn vốn của hầu hết các nhà phân phối trong nước hiện nay rất yếu.
Ngoài đòi hỏi về vốn, còn phải có một hệ thống hậu cần chuyên nghiệp nhập hàng, dự trữ và bảo quản). Trong khi đó,
các tập đoàn nước ngoài mạnh về tài chính, dày dạn về kinh nghiệm quản lý (Metro Cash & Carry, Big C, Bourbon,
Dairy Farm, Wall Mart ) đã và sẽ vào Việt Nam, rốt ráo triển khai kế hoạch xây dựng những điểm kinh doanh mới.
Hệ thống siêu thị chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân. Theo các chuyên gia ngành phân phối các trung tâm siêu
thị lớn ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội mới chỉ đáp ứng được 20-30% nhu cầu tiêu dùng của khách hàng có mức sống trên trung bình
70-80% còn lại vẫn phải vào các chợ và các cửa hàng nhỏ lẻ mua sắm (ở các tỉnh 95% mua sắm ở chợ).
2.2.2 Một số về mô hình bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam
2.1.2.1.Chuỗi siêu thị Metro
Metro là một tập đoàn chuyên về bán sỉ của Đức, đã có 40 năm kinh doanh trong
lĩnh vực siêu thị. Tuy là một mô hình chuyên về bán sỉ nhưng Metro lại là một đối
thủ cạnh tranh có tầm cỡ đối với các siêu thị cũng như các mô hình bán lẻ khác. Sở
dĩ như vậy vì: Ở Metro, chủng loại hàng hóa đa dạng phong phú, khách hàng có thể
mua tất cả các loại hàng tiêu dùng tại một nơi. Thêm vào đó, giá cả của Metro có
tính cạnh tranh, cộng với dịch vụ bán hàng và hậu mãi chuyên nghiệp
Hiện nay Metro có 6 trung tâm bán sỉ tại Việt Nam: TP HCM: 2; Hà Nội: 1; Hải
Phòng: 1; Đà Nẵng: 1; Cần Thơ: 1. Dự định sẽ mở thêm 1 trung tâm tại TPHCM
trong năm nay và 1 trung tâm tại Hà Nội trong năm 2007. Tổng diện tích của mỗi
trung tâm vào khoảng 11.000 m
2
, trong đó diện tích trưng bày hàng hóa và kho chứa
hàng khoảng 6.000 m
2
. Có khoảng 15.000 chủng loại hàng hóa được bán tại trung
tâm Metro, trong đó khoảng 80% là hàng sản xuất trong nước.
2.1.2.2.Chuỗi siêu thị Big C
Big C hiện là một trong những tập đoàn siêu thị hàng đầu thế giới. Công ty TNHH Siêu trung tâm thương mại Big
C hiện điều hành 40 siêu thị Big C tại Thái Lan và 4 tại Việt Nam, tính cả Big C Thăng Long sau khi mở cửa. Với hơn
1.000 người lao động đang làm việc trong hệ thống Big C Việt Nam, doanh thu ước tính của tập đoàn tại Việt Nam
trong năm 2005 khoảng 800 tỷ đồng.
Sự xuất hiện của chuỗi siêu thị Big C, đặc biệt là sự xuất hiện của Big C Thăng
Long tại Hà Nội đã đánh dấu một bước ngoặt mới đối với ngành hàng bán lẻ tại Việt
Nam. Big C Thăng Long sẽ là sự kết hợp của hệ thống cửa hàng bán lẻ với gian bán thực phẩm lấy thẳng từ nhà sản
xuất nhằm cung cấp hàng hóa chất lượng cao với giá cả hợp lý.
Big C Thăng Long được chia làm 2 tầng. Tầng trệt gồm các cửa hàng cho thuê chuyên bán các sản phẩm đã có
thương hiệu. Tầng trên là một siêu thị với hơn 1.000 chủng loại hàng hoá gồm thực phẩm tươi sống, đồ dùng cá nhân,
hàng may mặc, đồ nội thất, đồ ăn khô, các loại gia vị, đồ uống, bánh, rượu, hóa chất, thực phẩm, đồ ăn cho vật nuôi,
mỹ phẩm, hàng điện máy, đồ gia dụng, dụng cụ thể thao, đồ chơi, hàng văn phòng phẩm và các dụng cụ sửa
chữa Đáng chú ý, Big C Thăng Long sẽ tập trung vào phân phối các sản phẩm nội địa của Việt Nam với 90% hàng
hóa có mặt tại đây. Ông Guy Lacombe - Tổng giám đốc của Big C Việt Nam - cho biết: ''Chiến lược của chúng tôi là
đẩy mạnh sự phát triển của hệ thống lưu thông phân phối nội địa bằng cách sử dụng sản phẩm và nhân lực tại chỗ.
Hầu hết hàng hoá chúng tôi phân phối có nguồn gốc từ nội địa và người Việt cũng chiếm 99% số lao động trong hệ
thống Big C Việt Nam''.
Hệ thống siêu thị SaiGon Co.op Mart:
Có thể nói, hiện nay SaiGon Co.op Mart là chuỗi siêu thị
2.2. Quá trình hình thành và phát triển mô hình G7 Mart của Trung Nguyên
tại Việt Nam
2.2.1. Mục đích của hệ thống G7 Mart
Mục đích và phương châm hoạt động của G7 Mart chính là liên kết, nâng cấp
mạng lưới phân phối truyền thống thành một hệ thống phân phối hiện đại nhằm thực
hiện một bước đột phá mạnh mẽ các doanh nghiệp phân phối trong nước, tạo nên
một lực đối trọng với các tập đoàn phân phối nước ngoài.
Tuy nhiên G7 Mart không chỉ dừng lại ở mục đích như vậy. Tham vọng của G7 là tạo
ra các Việt Town- các Khu trung tâm thương mại Việt Nam ở nước ngoài, đưa hàng hoá và văn hoá Việt ra thị
trường thế giới một cách hiệu quả nhất, bền vững nhất. Với Việt Town, các hàng hoá, thương hiệu Việt sẽ không
đơn lẻ khi đi ra bên ngoài mà là một sự đoàn kết hợp lực. Việt Town sẽ phát triển các giá trị Việt lên tầm mức cạnh
tranh toàn cầu, để thương hiệu Việt phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên thế giới.
2.2.2. Phương thức kinh doanh của G7 Mart:
2.2.2.1. Chiến lược kinh doanh bước đầu của G7 Mart
Ngay từ ban đầu, G7 Mart đã xác định rõc chiến lược kinh doanh của mình. Đó là phát triển mạnh mạng lưới
phân phối dựa trên nền tảng các đại lý sẵn có trong khắp cả nước, liên kết tất cả những nhà phân phối nhỏ, lớn
trong nước lại sẽ tạo nên sức mạnh, xây dựng hệ thống quản lý và hậu cần mạnh mẽ; hợp sức với nhà sản xuất
Ngành hàng kinh doanh chủ yếu của G7 Mart: là thực phẩm ngọt, thực phẩm mặn, hoá mỹ phẩm, rượu bia
nước giải khát, thuốc lá; thuốc tây, báo chí, thẻ điện thoại trả trước; quảng cáo, tư vấn, dịch vụ thanh toán hoá đơn,
máy ATM, điện thoại công cộng
2.2.2.2. Cách thức kinh doanh của chuỗi cửa hàng G7 Mart
Mô hình kinh doanh:
Điều đặc biệt của hệ thống G7 Mart đó chính là nó được xây dựng theo mô hình nhượng quyền thương mại. Đây
là một bước đột phá đối với ngành hàng bán lẻ tại Việt Nam. Thực chất những cửa hàng G7 Mart là những cửa hàng
tạp hoá sẵn có. Chỉ có điều bây giờ nó đã mang thương hiệu G7 Mart. Tất cả các cửa hàng của chuỗi G7 Mart sẽ xây
dựng một cách đồng bộ đúng theo tiêu chí đặt ra về cách bài trí, biển hiệu, đồng phục nhân viên cũng như giá cả. Điều
này giúp tạo nên sự chuyên nghiệp hoá trong hoạt động, khiến người tiêu dung yên tâm hơn về chất lượng hàng hoá,
giá cả.
Cách thức kinh doanh:
G7 Mart hình thành trên cơ sở tập hợp các cửa hàng tạp hóa, với mục tiêu là trang bị nâng cấp, thay đổi phương
thức quản lý, cung cách phục vụ để hướng các cửa hàng này chuyển thành chuỗi cửa hàng tiện lợi theo mô hình phân
phối hiện đại. Theo Công ty G7, các cửa hàng tạp hóa hiện hữu khi gia nhập hệ thống G7 Mart sẽ được thiết kế, trang
trí lại cửa hàng, tổ chức lại cách trưng bày hàng hóa, chuẩn hóa dịch vụ thông qua việc huấn luyện kỹ năng bán hàng,
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sử dụng phần mềm có khả năng điều phối quản lý trong cả hệ thống.
Anh Đặng Thanh Hùng, Trưởng phòng Đối ngoại Công ty G7, nói rằng cách xây dựng G7 Mart có một số đặc
điểm khác với một vài mô hình chuỗi cửa hàng tiện lợi đã làm trước đó. Công ty G7 không chủ trương hình thành
những cửa hàng được trang bị quá hiện đại. Bởi theo G7, việc xây dựng mới cửa hàng, tự tổ chức nhân sự, trang bị vật
chất tốn kém (máy lạnh, nội thất đắt tiền ) làm cho suất đầu tư tăng cao nhưng lại không phù hợp với mức sống, tập
quán mua sắm của người tiêu dùng khi đến các cửa hàng tạp hóa, dẫn đến khó đạt hiệu quả kinh doanh. Cách làm của
G7 là hình thành cửa hàng tiện lợi trên nền cơ sở vật chất đã có (cửa hàng hiện hữu), nhân sự tại chỗ (chủ và gia đình
chủ cửa hàng), chỉ thay đổi thông qua nâng cấp, điều chỉnh lại một số bất cập về mặt hoạt động, như vậy sẽ giảm bớt
được chi phí đầu tư. Suất đầu tư mà G7 đưa ra, bao gồm thiết kế lại cửa hàng, cung cấp quầy kệ, bảng hiệu vào
khoảng 100-150 triệu đồng/cửa hàng.
Theo đúng kế hoạch, G7 Mart đã ra mắt, với 500 cửa hàng G7 Mart chuẩn, 9.500
cửa hàng thành viên và 70 trung tâm phân phối trải khắp trên cả nước. Được biết,
G7 Mart đã đầu tư khá lớn để nâng cấp cửa hàng tạp hoá thành cửa hàng G7 Mart.
Tổng số vốn đầu tư cho giai đoạn đầu lên đến 395 triệu USD. Hàng loạt máy móc
chuyên dụng hiện đại đã được nhập về cung cấp cho các trung tâm phân phối ở các
địa phương. Theo ông Vũ, trong số 300.000 cửa hàng tạp hoá trên cả nước, G7 Mart
chọn 10.000 cửa hàng có ưu thế nhất về địa điểm, về doanh thu bán hàng để hợp tác
thì không có lý gì sau khi được nâng cấp, các cửa hàng này lại không thành công.
Lợi ích mà G7 Mart đem lại cho người tiêu dùng là mua hàng đúng giá, với mức giá
cạnh tranh do G7 Mart mua hàng từ nhà sản xuất, nhà cung cấp đưa đến tận cửa
hàng bán lẻ. G7 Mart không thu lời trên từng sản phẩm bán ra, mà hưởng phần trăm
chiết khấu từ nhà sản xuất trên doanh số bán hàng. Nhà sản xuất cũng được hưởng
lợi khi phân phối sản phẩm qua hệ thống G7 Mart. Một số nhà sản xuất trước kia
không thống nhất được giá bán sản phẩm trên thị trường do các đại lý phân phối
hàng đến từng khu vực phải quyết định giá bán dựa trên chi phí vận chuyển. Với G7
Mart, Phó giám đốc kinh doanh G7 Mart Nguyễn Duy Vũ cho biết, sẽ thống nhất
một giá trong hệ thống G7 Mart. Trước mắt, thống nhất giá cho nhóm thực phẩm
mặn, hoá mỹ phẩm và thực phẩm ngọt.
Không chỉ dừng lại ở những cửa hàng bán lẻ, G7 Mart còn hướng tới những
mục tiêu xa hơn. Ngoài việc là một cửa hàng bán lẻ theo đúng tiêu chuẩn của G7,
các cửa hàng G7Mart còn tiếp tục cung cấp các dịch vụ tiện ích dành cho người
tiêu dùng lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam. Đó là các loại hình như dịch vụ
“Thẻ tiện lợi” dùng để mua sắm, “Dịch vụ thanh toán tiện lợi” dành cho các khách
hàng không có thời gian cho những công việc như thanh toán điện thoại, điện,
nước, internet…, dịch vụ “Bán hàng qua cataloge”… vv. Dự kiến các dịch vụ này
sẽ bắt đầu được giới thiệu tại hệ thống cửa hàng G7Mart từ đầu năm 2007. Ngoài ra,
G7 cũng sẽ xây dựng những siêu thị và đại siêu thị tại nước ngoài mang tên "Việt Town".
Cùng với cửa hàng bán lẻ, Công ty G7 cho biết cũng đầu tư các trung tâm phân phối, hỗ trợ cung ứng hàng hóa
cho chuỗi G7 Mart. Tương tự như cách làm với chuỗi bán lẻ, chuỗi trung tâm phân phối với trước mắt là 100 trung
tâm được hình thành trên nền các đại lý bán sỉ đang hoạt động. Các đại lý này được mời gia nhập hệ thống, được trang
bị nâng cấp lại và chuẩn hóa theo tiêu chuẩn của G7. Ngoài việc tổ chức trung tâm phân phối, G7 cho biết họ cũng
đầu tư thêm một số kho hàng với quy mô diện tích từ năm trăm đến vài ngàn mét vuông.
Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ G7 cũng có kế hoạch xây dựng tổng cộng 6 trung tâm thương mại G7
trong vòng từ năm 2007 đến 2010. G7 sẽ phối hợp cùng các nhà sản xuất trong và ngoài nước sản xuất thêm các
mặt hàng chỉ dành riêng cho các kênh phân phối của G7 mart với thương hiệu “G7”. Trong năm 2006 này, ngoài
500 cửa hàng G7Mart chuẩn, sẽ có 9.500 cửa hàng G7mart thành viên và 60 trung tâm phân phối G7mart đi vào
hoạt động.
Đến năm 2010, kế hoạch đặt ra là ở trong nước sẽ có 35.000 cửa hàng tạp hoá và
cửa hàng thành viên tham gia dự án G7Mart. G7 sẽ xây dựng được 200 trung tâm
phân phối, 100 Tổng kho phân phối, 7 Trung tâm thương mại và 7 Đại siêu thị.
2.2.4. Điều kiện tham gia vào hệ thống chuỗi cửa hàng G7 Mart
Những cửa hàng tạp hóa mà Công ty G7 nhắm mời vào hệ thống G7 Mart thật ra
cũng là những cửa hàng vốn đang kinh doanh thuận lợi. Để trở thành cửa hàng chính
thức của hệ thống G7 Mart, các cửa hàng phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Cửa hàng đang hoạt động có doanh thu: >200Triệu/tháng. Trường hợp chưa kinh
doanh bán lẻ hoặc mở mới thì cửa hàng phải khang trang, trên trục đường/khu
vực đông dân cư , trung tâm đô thị mới trong phạm vi bán kính 02 km.
- Mặt tiền đường nội bộ, hẻm lớn khu chung cư, trục lộ chính của ngã tư, ngã ba.
- Gần các bệnh viện, bến xe, chợ, trường học, sân bay, nhà ga xe lửa, khu công
nghiệp, ký túc xá…
- Diện tích mặt bằng kinh doanh, tối thiểu : 4,0m(ngang) x 8,0m(sâu).
- Mặt bằng mới xây hoặc đã xây dưới 10 năm, có lề đường để xe, chủ sở hữu hoặc
hợp đồng thuê dài hạn trên 03 năm.
Theo kế hoạch của G7, mục tiêu trước mắt là khai trương 500 cửa hàng G7 Mart và trong những năm tới cố gắng
tập hợp dần đến 10.000 cửa hàng. Trong số này, có những cửa hàng do điều kiện hạn chế về vị trí, mặt bằng, doanh
thu sẽ hình thành ở dạng cửa hàng thành viên, không đạt chuẩn như các cửa hàng gắn thương hiệu G7 Mart.
2.3. Đánh giá
2.3.1. Những thành công
Dự án G7 Mart của Trung Nguyên tuy mới hoạt động chưa được lâu nhưng đã có những thành công nhất định.
Nhân rộng được qui mô: Mô hình G7 Mart của Trung Nguyên là một bước đi tiên phong đối với ngành hàng bán
lẻ tại Việt Nam. Hiện nay, trong kênh phân phối bán lẻ tại Việt Nam mới chỉ có Công ty Trung Nguyên theo mô hình
nhượng quyền thương mại. Việc G7 Mart hoạt động theo mô hình nhượng quyền thương mại đã giúp chuỗi cửa hàng
G7 Mart nhanh chóng được nhân rộng. Nhờ có mô hình nhượng quyền thương mại nên số lượng cửa hàng G7 Mart đã
nhanh chóng đạt được con số lớn như vậy (500 cửa hàng chuẩn và 10000 cửa hàng thành viên)
Liên kết được các nhà bán lẻ với nhau: Mô hình G7 Mart đã góp phần giải quyết bài toán khó trong việc phát triển
thị trường bán lẻ của Việt Nam. G7 Mart đã giúp liên kết được các nhà bán lẻ với nhau, tạo điều kiện giúp G7 Mart
giữ vững động mạch chủ của hệ thống bán lẻ trong nước, giữ thị trường bán lẻ trong nước không bị thôn tính bởi các
công ty nước ngoài. Là một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng, Việt Nam hiện nay đang được rất nhiều các tập đoàn lớn
của nước ngoài quan tâm. Trong khi đó, thực trạng của thị trường bán lẻ của Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam chưa đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài. Trước tình hình đó, việc
ra đời hệ thống G7 Mart đã giúp giải quyết được bài toán khó này. G7 Mart đã cùng liên kết với các nhà bán lẻ trong
nước để tạo ra một hệ thống bán lẻ làm đối trọng với các tập đoàn nước ngoài khác.
Tận dụng được cơ sở vật chất sẵn có của các cửa hàng tạp hoá. Thông qua mô hình và cách thức kinh doanh của
G7 Mart, có thể thấy rằng việc lựa chọn đối tượng tham gia hệ thống G7 Mart của công ty Trung Nguyên là hoàn toàn
đúng đắn. Với đặc điểm thị trường bán lẻ của Việt Nam, Trung Nguyên xác định công việc đầu tiện của G7 Mart là tập
trung vào các cửa hàng bán lẻ đã có sẵn. Điều này đã giúp Trung Nguyên có thể tận dụng được sẵn cơ sở vật chất, tận
dụng được mối quan hệ có sẵn giữa cửa hàng đó với khách hàng, tiếp cận với khách hàng một cách dễ dàng hơn. Đây
là con đường ngắn nhất khiến khách hàng quen với mô hình G7 Mart - một mô hình kinh doanh còn khá mới mẻ ở
Việt Nam.
G7 Mart tạo giúp nâng cao lợi ích người tiêu dùng. Trước đây, khi các cửa hàng tạp hoá chưa tham gia vào mô
hình G7 Mart, thì giá cả mỗi cửa hàng cũng như chủng loại hàng hoá lại có sự chênh lệch khác nhau. Điều đó đã làm
giảm lợi ích của người tiêu dùng. Nhưng giờ đây, khi đã có hệ thống G& Mart, giá cả các sản phẩm được thống nhất
chung trong cả hệ thống. G7 Mart còn tạo được mối liên kết với các nhà sản xuất trong nước. Điều đó giúp cho giá
thành sản phẩm rẻ hơn, người tiêu dùng cũng tiện lợi hơn khi họ được tự chọn lựa sản phẩm. Chính nhờ những điểm
tiến bộ đó mà lợi ích người tiêu dùng được nâng cao.
2.3.2. Những hạn chế:
Là một đơn vị đi tiên phong trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại ngành hàng bán lẻ nên G7 Mart không thể
tránh được những hạn chế.
Có thể thấy, chủng loại mặt hàng ở mỗi cửa hàng G7 Mart vẫn còn khác nhau do qui mô của mỗi cửa hàng
cũng khác nhau. Đặc biệt, công ty Trung Nguyên chỉ có thể đảm bảo tính đồng bộ về mặt hàng với những hàng sản
xuất trong nước (do G7 Mart liên kết trực tiếp với nhà sản xuất trong nước), chứ những mặt hàng nhập khẩu thì Trung
Nguyên không kiểm soát được tính đồng bộ. Thêm vào đó, sự bài trí hàng hoá cũng như trang phuc của nhân viên
chưa có một sự đồng bộ. Rất nhiều cửa hàng nhân viên không hề mặc đồng phục của G7 Mart. Điều này ảnh hưởng
khá nhiều đến hình ảnh của chuỗi cửa hàng G7 Mart. Nếu không có được sự đồng bộ, sự thống nhất giữa các cửa hàng
thì rất dễ dẫn đến làm giảm lòng tin người tiêu dùng, giảm hiệu quả của hệ thống.
Mặt khác, do số lượng các cửa hàng của hệ thống là khá lớn nên việc kiểm tra giám sát hệ thống các cửa hàng khá
khó khăn. Công ty Trung Nguyên cần phải có được một chính sách giám sát chặt chẽ và hợp lý để có thể thực hiện tốt
những mục tiêu công ty đề ra.
3. Một số giải pháp phát triển hệ thống G7 Mart nói riêng và của các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ nói chung.
3.1. Một số giải pháp để phát triển hệ thống G7 Mart nói riêng và của các
doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ nói chung.
3.1.1. Tăng cường việc kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống cửa hàng nhượng
quyền
Đối với mô hình nhượng quyền thương mại nói chung, và đặc biệt với hệ thống
cửa hàng G7 Mart nói riêng thì việc thẩm định, kiểm tra, giám sát hệ thống cửa
hàng nhượng quyền là rất khó khăn, nhưng lại là một công việc có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Với đặc điểm của nhượng quyền thương mại cho nên mỗi một cửa hàng
đều là đại diện cho cả hệ thống G7 Mart, và do đó, bất kỳ hoạt động nào của từng
cửa hàng thành viên đều ảnh hưởng đến uy tín của cả hệ thống. Vì vậy, G7 Mart
cần phải chú trọng vào công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của từng cửa hàng
thành viên.
Để tăng cường hiệu quả của công tác kiểm tra, G7 Mart nói riêng cũng như các
doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ nói chung có thể thực
hiện một số giải pháp sau:
- Phân cấp và chia tách nhỏ hệ thống giám sát quản lý: Do đặc điểm của G7 Mart
là mạng lưới cửa hàng dày đặc nên việc giám sát rất khó khăn. G7 Mart nên chia
tách hệ thống ra thành những khu vực nhỏ để tiện quản lý và giám sát chặt chẽ.
- Thường xuyên kiểm tra giám sát hệ thống cửa hàng G7 Mart xem có thực hiện
đúng theo những qui định đã cam kết hay không. Cần phải coi đây là công việc định
kỳ, có kế hoạch cụ thể. Tuy nhiên, để việc kiểm tra được khách quan, G7 Mart cũng
nên có những lần kiểm tra bất ngờ, có như vậy mới đánh giá chính xác được sự hoạt
động của các cửa hàng thành viên.
3.1.2. Tăng cường quảng bá thương hiệu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét