Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Cuộc chiến Catfish xuất khẩu cá tra cá basa sang thị trường Mĩ

Cuộc chiến Catfish
Xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam
sang thị trờng Mỹ
1
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2002, Bộ Thơng mại Mỹ (DOC Department of Commerce) tuyên
bố tiến hành điều tra về cáo buộc của Hiệp hội các nhà nuôi cá catfish Mỹ (CFA) rằng các
doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã bán phá giá các sản phẩm cá
tra và basa philê đông lạnh vào thị trờng Mỹ, gây thiệt hại nặng cho các nhà nuôi cá catfish
trong nớc, và do vậy DOC cần áp dụng thuế chống phá giá đối với các doanh nghiệp này của
Việt Nam. Đây là vụ kiện bán phá giá đầu tiên giữa Mỹ và Việt Nam. Tranh chấp xảy ra
đúng vào giai đoạn triển khai thực hiện Hiệp định Thơng mại Song phơng Việt Mỹ (BTA) và
thời gian Việt Nam chuẩn bị các điều kiện để gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO).
Hơn thế nữa vụ kiện sẽ có tác động tới một hoạt động sản xuất đang đi lên với trên 200.000
lao động tại Vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
Vụ kiện cá basa, cá tra là vụ tranh chấp thơng mại lớn đầu tiên và cũng sẽ không phải là vụ
cuối cùng trong quá trình hội nhập của Việt Nam. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia đây là
một hiện tợng bình thờng trong thơng mại quốc tế và cha phải là thách thức lớn mà Việt Nam
thực sự gặp phải khi hội nhập. Những thách thức lớn hơn sẽ đến từ những cam kết phải mở
cửa thị trờng nội địa khi tham gia Tổ chức Thơng mại Thế giới. Ngày nào Việt Nam cha hội
nhập, Việt Nam còn phải chịu những thiệt thòi bởi sự phân biệt đối xử .
Vì Việt Nam cha phải là thành viên của WTO nên nếu quyết định của cuối cùng ủy ban Th-
ơng mại Quốc tế Mỹ (ITC) và DOC là bất lợi thì các doanh nghiệp của Việt Nam chỉ có thể
kháng án tại Tòa Thơng mại Quốc tế của Mỹ, chứ không thể đa ra kiện tại WTO nơi, theo cơ
chế giải quyết tranh chấp, một hội đồng trọng tài sẽ đợc thiết lập bởi các thành viên độc lập
thuộc các nớc thứ ba. Ngoài những lý do khác về thuế quan, hạn ngạch và tiếp cận thị trờng,
vấn đề ra nhập WTO càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam còn phải đối phó với nhiều vụ kiện
về bán phá giá và các tranh chấp khác từ các nớc đối tác, ví dụ vụ kiện bán phá giá tôm phía
Mỹ đang cân nhắc gần đây.
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2002, Bộ Thơng mại Mỹ (DOC Department of Commerce)
tuyên bố tiến hành điều tra về cáo buộc của Hiệp hội các nhà nuôi cá catfish Mỹ (CFA) rằng
các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã bán phá giá các sản phẩm
cá tra và basa philê đông lạnh vào thị trờng Mỹ, gây thiệt hại nặng cho các nhà nuôi cá catfish
trong nớc, và do vậy DOC cần áp dụng thuế chống phá giá đối với các doanh nghiệp này của
Việt Nam.
Đây là vụ kiện bán phá giá đầu tiên giữa Mỹ và Việt Nam. Tranh chấp xảy ra đúng vào giai
đoạn triển khai thực hiện Hiệp định Thơng mại Song phơng Việt Mỹ (BTA) và thời gian Việt
Nam chuẩn bị các điều kiện để gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Hơn thế nữa,
vụ kiện tác động tới một hoạt động sản xuất đang đi lên của trên 200.000 lao động tại Vùng
Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Chính vì tính chất nhạy cảm này mà vụ kiện đã thu
hút đợc sự chú ý đặc biệt của mọi ngời.
1
Bài viết của Nguyễn Xuân Thành, giảng viên Chơng trình Fulbright, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
1
Các trại nuôi và doanh nghiệp chế biến catfish của Mỹ lập luận rằng mục tiêu của họ là đảm
bảo thơng mại công bằng. Ngợc lại, phía Việt Nam cho rằng vụ kiện này thể hiện t tởng bảo
hộ sản xuất bằng rào cản thơng mại của các nhà sản xuất Mỹ, vốn không chỉ xuất hiện trong
vụ kiện bán phá giá mà thực ra là bắt đầu t những tranh chấp liên quan đến tên gọi catfish.
Bên cạnh việc phân tích tính pháp lý, còn có một loạt các vấn đề quan trọng khác xung quanh
vụ kiện cá basa catfish. Cần tìm hiểu ở mức độ nào thì các quy định về nhãn hiệu, chống trợ
giá xuất khẩu, chống bán phá giá, môi trờng, quản lý lao động, là những quy định hợp lý để
đảm bảo thơng mại bình đẳng và ở mức độ nào là các rào cản thơng mại trá hình? Chủ nghĩa
bảo hộ ở các nớc phát triển đối với các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế có tác động gì tới
chiến lợc hội nhập kinh tế của Việt Nam? Đâu là những căn cứ để xác định Việt Nam có phải
là nền kinh tế thị trờng hay cha và điều này có tầm quan trọng thế nào trong các vụ tranh chấp
thơng mại về bán phá giá hay trợ giá? Vụ kiện sẽ khác đi thế nào nếu Việt Nam là thành viên
của WTO?
Để tìm lời giải đáp cho những câu hỏi trên, chúng ta hãy đi theo dòng sự kiện.
Nuôi cá da trơn ở Đồng bằng sông Cửu Long
Họ cá da trơn Pangasius tập trung ở một số nớc Đông Nam á, nơi hoạt động nuôi cá lồng, cá
hầm trên sông, ao hồ hay đầm lầy theo quy mô nhỏ của nông dân ngày càng phát triển. Tại
Việt Nam, cá da trơn đợc nuôi chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phổ biến là cá
tra và cá basa. Trớc năm 1995, cá giống phụ thuộc vào nguồn vớt tự nhiên. Ngời nuôi cá phải
mua cá con do ng dân vớt trong mùa cá bột chảy theo sông Mê Công từ Lào và Campuchia.
Chi phí cá giống lúc đó cao, mà nguồn cung cấp lại bấp bênh và tỷ lệ hao hụt cao do thay đổi
môi trờng sống. Công nghệ tạo giống đợc đầu t phát triển và tháng 5 năm 1995 là lúc mẻ cá
sinh sản nhân tạo đầu tiên thành công.
2
Từ đó, con giống với số lợng lớn và chi phí thấp đợc
cung cấp thờng xuyên cho nông dân. Theo ớc tính của các cơ sở sản xuất giống, chi phí con
giống giảm 2/3 so với trớc. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về công nghệ nuôi cá bằng thức
ăn công nghiệp rút ngắn thời gian nuôi và giảm đợc lợng thức ăn cho 1 kg tăng trọng.
Hoạt động nuôi cá tra, cá basa bắt đầu phát triển dới hình thức bè cá và hầm cá, dọc hai bờ
sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Đồng Tháp. Nuôi cá bè, vốn đợc du nhập theo kinh nghiệm
của ng dân trên Hồ Tông-lê-sáp của Campuchia, nhanh chóng trở thành hình thức chủ yếu
nuôi cá tra và basa. Huyện Châu Đốc của An Giang là nơi tập trung chủ yếu của các bè cá và
cũng là nơi cung cấp cá giống chính cho cả vùng. Điều kiện tự nhiên ở các địa phơng này là
yếu tố then chốt đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động nuôi cá bè. Lu lợng nớc sông lớn giúp
nông dân có thể nuôi đợc cá với mật độ dày, cho năng suất cao. Trên 1m
3
nớc có thể đạt năng
suất 120-150 kg cá thơng phẩm. Nh vậy, trung bình một bè cá nhỏ cho sản lợng 30 tấn/vụ và
bè cá lớn cho sản lợng 50-60 tấn/vụ.
3
Khí hậu ấm áp quanh năm ở ĐBSCL cho phép có thể thả
giống cá nuôi vào bất kỳ thời gian nào trong năm. Thời gian nuôi mỗi vụ cá có thể kéo dài từ
6 đến 12 tháng. Sau vụ nuôi 8-10 tháng, cá tra có thể đạt cỡ 1-1,3kg còn cá basa có thể đạt cỡ
1,3-1,5kg/con.
Chi phí sản xuất thấp là yếu tố quan trọng làm sản lợng cá tăng nhanh chóng khi mở ra thị tr-
ờng đợc mở ra. Trong 5 năm lại đây, sản lợng cá tăng lên liên tục. Trong năm 2001, sản lợng
cá tra và cá basa của các tỉnh ĐBSCL lên tới 120.000 tấn, tăng gấp 6 lần so với năm 1997. Từ
2
Hoạt động nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra và basa đợc thực hiện trên cơ sở hợp tác giữa Đại học Cần Thơ,
Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp phục vụ phát triển (CIRAD) của Pháp và Agifish.
3
Một bè cá nhỏ có kích thớc khoảng 5m*10m*4m và một bè cá lớn có kích thớc 14m*7m*5m.
2
hai tỉnh đầu nguồn là An Giang, Đồng Tháp, nghề nuôi cá tra và basa đã lan nhanh đến Cần
Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long và Tiền Giang.

Chế biến cá tra và basa đông lạnh và xuất khẩu sang Mỹ
Hầu hết cá tra và basa đợc chế biến dới dạng đông lạnh trớc khi đến tay ngời tiêu dùng cuối
cùng. Các tỉnh nuôi cá tra và basa ở ĐBSCL đều có doanh nghiệp chế biến thủy sản gắn với
các làng bè nuôi cá. Trớc sự cạnh tranh trên thị trờng, hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy
sản đều nhập dây chuyền thiết bị đông lạnh từ nớc ngoài và áp dụng các quy định về vệ sinh
an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn của HACCP.
Hình 1: Quy trình chế biến cá tra và basa philê đông lạnh
Nguồn: Agifish, Bản cáo bạch Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang
(Agifish), 2002.
Một phần lớn sản lợng cá tra và basa philê đông lạnh đợc xuất khẩu. An Giang, tỉnh chủ lực
sản xuất cá tra, basa, là nơi tập trung những doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản lớn
nh Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish), Công ty xuất nhập khẩu
nông sản thực phẩm An Giang (Afiex) và Công ty TNHH Nam Việt. Các doanh nghiệp lớn ở
các địa phơng khác gồm Công ty Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp), Công ty Cataco (Cần Thơ) và
Công ty Cafatex (Cần Thơ). Các doanh nghiệp này hiện chiếm tới 95% kim ngạch xuất khẩu
cá philê đông lạnh của Việt Nam.
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá basa và cá tra sang Mỹ từ năm 1996 sau khi bãi bỏ cấm vận
kinh tế. Cá xuất khẩu vào thị trờng Mỹ là sản phẩm philê đông lạnh. Sau những năm đầu
không tiêu thụ đợc nhiều, sản lợng cá da trơn dạng philê không xơng đông lạnh nhập khẩu từ
Việt Nam vào Mỹ tăng mạnh từ năm 2000. Đến cuối năm 2001, sản lợng cá philê đông lạnh
xuất khẩu đã tăng lên gần 21.000 tấn, gấp hơn 20 lần sản lợng xuất khẩu năm 1998. Giá FOB
xuất khẩu dao động trong khoảng 1,2-1,5 USD/pao hay 40.000-50.000 đ/kg.
Hình 2: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu cá philê đông lạnh của Việt Nam theo doanh nghiệp,
năm 2000
3
Tip nhn cỏ tra v
basa nguyờn liu
Ra cỏ
Lng tht philờ
Lt da
Sa cỏ, loi b
ký sinh trựng v
kim tra
Ra bỏn thnh
phm
v phõn loi
Xp khuụn v
cp ụng
úng gúi v
bo qun kho lnh
u, xng,
tht vn v m
Phõn loi v s
ch
Xay khụ
Phi v xy khụ
Nghin thnh
bt cỏ
úng gúi
Nu thnh m cỏ
Agifish
(Cty CP)
40%
Cataco
(DNNN)
6%
Nam Việt
(Cty
TNHH)
5%
Afiex
(DNNN)
9%
Cafatex
(DNNN)
10%
Vĩnh
Hoàn (Cty
TNHH)
25%
Công ty
khác
5%
Hình 3: Lợng và kim ngạch xuất khẩu cá da trơn philê đông lạnh sang Mỹ
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
1000 USD
0
5000
10000
15000
20000
25000
1000 tấn
Lượng (tấn)
Giá trị (1000 USD)
Nguồn: Cơ sở dữ liệu trên mạng của ủy ban Thơng mại Quốc tế Hoa Kỳ (Dataweb).
Một thuận lợi là sản phẩm cá da trơn philê đông lạnh của Việt Nam xuất sang Mỹ chỉ phải
chịu thuế suất thuế nhập khẩu rất thấp. Mỹ áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu 0% đối với sản
phẩm cá da trơn phi lê đông lạnh nhập khẩu từ các nớc mà Mỹ có quan hệ thơng mại bình th-
ờng, nhng áp thuế 4,4 xen/kg đối với cá philê đông lạnh nhập khẩu từ các nớc không có quan
hệ thơng mại bình thờng. Nh vậy, cho đến thời điểm trớc khi Hiệp định Thơng mại Song ph-
ơng có hiệu lực (tháng 12 năm 2001), cá tra và basa philê đông lạnh của Việt Nam xuất sang
Mỹ chỉ phải chịu thuế suất khoảng 1,3% giá trị sản phẩm (suy ra từ mức thuế đơn vị 4,4
xen/kg và giá nhập khẩu trung bình 3,5 USD/kg). Còn từ tháng 12 năm 2001 đến nay, sản
phẩm cá tra và basa philê đông lạnh của Việt Nam không còn chịu thuế khi nhập khẩu vào
Mỹ.
Nghề nuôi cá da trơn và thị trờng cá da trơn ở Mỹ
Cho tới năm 1970, cá da trơn hay catfish theo tên tiếng Anh vẫn là một thứ đặc sản của một
số vùng ở Mỹ và nhu cầu đối với sản phẩm này rất hạn chế. Đối với nhiều ngời dân Mỹ, đi
câu cá mà bắt đợc catfish thì cũng để vứt đi chứ không mang về ăn. Hình ảnh này đã đợc dần
dần thay đổi bằng các chiến dịch tiếp thị của các trại nuôi cá catfish và doanh nghiệp chế biến
thủy sản. Thông điệp đa ra là cá catfish nuôi cho thịt trắng, ít mỡ, ít cholesterol, ít ca-lo, nhng
4
giàu protein, vitamin và khoáng; cá catfish nuôi còn hầu nh không có mùi tanh, ít xơng và có
thể chế biến thành nhiều loại món ăn. Kết quả là nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ
catfish tăng lên. Catfish giờ đây thành một món ăn chính ở rất nhiều nhà hàng thủy sản và
xuất hiện ở hầu hết các siêu thị. Mức tiêu dùng cá catfish bình quân đầu ngời ở Mỹ tăng từ
0,41 pao vào năm 1985 lên 1 pao vào năm 2001.
4
Nếu nh năm 1970, các nhà nuôi cá Mỹ chỉ sản xuất 2.580 tấn, thì vào năm 2001 con số này
đã tăng tới 271.000 tấn với doanh số trên dới nửa tỷ đô la. Các trại nuôi cá catfish đợc tập
trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Mississippi (ĐBSMI) tại các bang Mississippi, Alabama,
Arkansas và Louisiana. Khác với ĐBSCL, nơi cá đợc nuôi chủ yếu bằng cách thả bè trên
sông, cá catfish ở ĐBSMI đợc nuôi trong ao. Tổng diện tích ao hồ nuôi cá catfish ở các bang
miền Nam nớc Mỹ hiện là 76.000 hécta, trong đó chỉ riêng bang Mississippi đã chiếm tới
58% diện tích. Cá catfish đã trở thành sản phẩm quan trọng thứ t trong số các sản phẩm nông
lâm nghiệp tại bang Mississippi.
Tuy nhiên, thị trờng catfish ở Mỹ tăng đã hấp dẫn hàng nhập khẩu từ nớc ngoài nh từ Braxin,
Guyana, Trung Quốc và Việt Nam.
5
Sau một thời gian hởng sự gia tăng cả về sản lợng và giá,
các nhà nuôi cá catfish Mỹ bắt đầu phải chấp nhận giảm giá từ năm 2001. Giá bình quân cá
catfish giảm từ 75 xen năm 2000 xuống 66 xen năm 2001 và 50 xen năm 2002 một pao. Hiệp
hội các nhà nuôi cá catfish Mỹ (CFA) lập luận rằng giá bán hiện thấp hơn chi phí sản xuất tới
15 xen. Tổng doanh số cá catfish nội địa bán cho các đơn vị chế biến giảm 20% từ 446 triệu
USD năm 2000 xuống 385 triệu USD năm 2001. Các chủ trại nuôi cá catfish coi các sản phẩm
cá tra và basa nhập khẩu từ Việt Nam chính là nguyên nhân gây ra sự giảm sút này với lập
luận rằng sản phẩm của Việt Nam đang đợc bán tại Mỹ với giá thấp hơn 1 USD/pao so với sản
phẩm nội địa.
CFA nhận thấy rằng mình cần phải hành động và đòn tấn công đầu tiên là vào tên gọi catfish.
Cuộc chiến về tên gọi catfish
Lập luận của CFA
Sự thành công bất ngờ của Việt Nam trong xuất khẩu cá tra và basa, theo lời của các chủ trại
nuôi cá catfish, đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành nuôi cá nội địa của Mỹ và họ cho
rằng, cá Việt Nam thắng lớn chủ yếu nhờ sự thay đổi về chiến lợc tiếp thị. Những đợt cá đầu
tiên đợc mang những thơng hiệu khác nhau xoay quanh chữ basa hay tra. Việc tiêu thụ
không đợc thành công lắm. Năm 1996, sản lợng xuất khẩu cá da trơn dạng philê đông
lạnh của Việt Nam vào Mỹ là 59 tấn và đến năm 1998 thì cũng chỉ vỏn vẹn ở con số 260 tấn.
Các doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản Mỹ sau đó bắt đầu tiêu thụ sản phẩm cá basa và cá tra
của Việt Nam trên thị trờng với nhãn hiệu catfish. Sản lợng cá nhập khẩu từ Việt Nam kể từ
đó tăng vọt.
CFA còn đa thêm bằng chứng cho rằng bao bì đóng gói cũng giống với các nhà sản xuất trong
nớc; thậm chí nhiều hãng nhập khẩu cá của Mỹ sử dụng nhãn hiệu "Delta fresh" (tức là sản
phẩm tơi từ đồng bằng lu vực sông). CFA cho rằng nhãn hiệu này tạo ra sự nhầm lẫn vì ngời
tiêu dùng có thể hiểu rằng cá đợc nuôi từ ĐBSMI, trong khi trên thực tế là từ ĐBSCL.
Kết luận của CFA là phía Việt Nam đang lợi dụng thành quả tiếp thị của những ngời nuôi cá
Mỹ. Hugh Warren, chủ tịch của CFA, nói rằng CFA chỉ vận động ngăn chặn hoạt động thơng
4
Mức tiêu dùng cá và hải sản các loại bình quân đầu ngời ở Mỹ hiện nay là 15 pao. Do vậy, sản lợng tiêu thụ cá
catfish mới chỉ chiếm 3-4% tổng lợng cá và hải sản tiêu thụ và tiềm năng tăng sản lợng còn rất lớn.
5
Trên thực tế, sản phẩm cá da trơn đông lạnh của Việt Nam có tính cạnh tranh mạnh hơn, đẩy bật hàng nhập
khẩu từ các nớc khác và hiện chiếm tới 84% sản lợng nhập khẩu vào Mỹ.
5
mại và sử dụng nhãn hiệu không trung thực chứ không phải là nhằm bảo hộ sản xuất trong n-
ớc.
Bớc tiếp theo là CFA và các nhà vận động hậu trờng cho những chủ trại nuôi cá tìm cách
chứng minh rằng cá tra và basa của Việt Nam không phải là catfish và do vậy việc sử dụng
nhãn hiệu catfish trên bao bì là không đợc phép.
Carol Engle, Giám đốc Trung tâm Thủy sản Ng nghiệp thuộc Đại học Arkansas ở Pine
Bluff, vùng có nhiều chủ trại nuôi cá, lập luận rằng: Cá basa và tra hoàn toàn không phải là cá
catfish nuôi tại Bắc Mỹ. Cá catfish nuôi ở ĐBSMI thuộc họ Ictaluridae. Cá tra và basa nuôi ở
ĐBSCL thuộc họ Pangassiidae. Đúng là cá tra và basa đều không có vảy, có ria ở miệng và
mang nhiều đặc điểm nh catfish, nhng có nhiều loại cá với cùng đặc điểm nh vậy nhng không
đợc gọi là catfish.
6
Nghị sĩ ở các bang nuôi cá catfish cũng nhập cuộc và lên tiếng bảo vệ quan điểm của CFA.
Huchinson, Thợng nghị sĩ bang Arkansas, nói trớc Thơng viện rằng nhiều ngời trong số
12.000 lao động trong ngành sẽ mất việc nếu hàng nhập khẩu tiếp tục chiếm chỗ của cá nuôi
tại Mỹ.
7
Ngày 9/2/2001, 12 nghị sĩ Mỹ đại diện cho các bang nuôi cá catfish đã gửi th cho Đại
diện Thơng mại Hoa Kỳ (USTR) để yêu cầu Chính phủ Mỹ phải có biện pháp xử lý đối với
sản phẩm cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam.
Lập luận của phía Việt Nam
Catfish là một từ tiếng Anh thông dụng chỉ hàng trăm loại cá. Theo định nghĩa của từ điển
Webster thì catfish là bất kỳ loại cá nớc ngọt nào có da trơn, có ria gần miệng thuộc bộ
Siluriformes. Nh vậy thì rõ ràng cá tra và basa của Việt Nam là catfish. Cơ quản quản lý
Thực phẩm và Dợc phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cho rằng hoàn toàn có thể sử dụng các tên nh là
basa catfish cho sản phẩm của Việt Nam.
Ed Wiley, chuyên gia thủy sản thuộc Trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học của Đại học
Kansas, cũng khẳng định: coi cá da trơn Việt Nam không phải catfish là điều phi lý, bởi vì rõ
ràng đó là catfish. Nó không phải là cá catfish Bắc Mỹ. Nó là cá catfish châu á. Nhng nói
rằng nó không phải catfish là sai.
8
Theo Bộ Thủy sản của Việt Nam, thì trên tất cả các bao bì của sản phẩm thủy sản xuất khẩu
của Việt Nam đều ghi rõ dòng chữ tiếng Anh Product of Vietnam hay Made in Vietnam
và thực hiện việc ghi đầy đủ cả tên khoa học lẫn tên thơng mại theo đúng quy định của FDA.
Cụ thể, đối với cá ba sa - tên khoa học là pangasius bocourti, tên thơng mại là basa, bocourti,
bocourti fish, basa catfish, bocourti catfish; đối với cá tra - tên khoa học là pangasius
hypophthalmus, tên thơng mại là swai, striped catfish, sutchi catfish.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Chủ tịch Hiệp hội các nhà chế biến và xuất khẩu thủy sản
Vietnam (VASEP): vấn đề nhãn hiệu catfish đợc đa ra là để "bảo vệ quyền lợi của một nhóm
nhỏ các nhà sản xuất catfish giàu có, đi ngợc lại tinh thần thơng mại tự do và lợi ích của ngời
tiêu dùng Mỹ".
Hoạt động nuôi cá catfish ở ĐBSMI không có tính cạnh tranh là do chi phí cao. Bên cạnh chi
phí lao động cao, còn một số yếu tố khác góp phần làm tăng tổng chi phí sản xuất. Thứ nhất,
số vốn đầu t cần thiết cho một diện tích hồ để nuôi cá catfish không thấp hơn chi phí làm bè
cá. Thứ hai, chính vì nuôi cá trong ao hồ nên mật độ nuôi cá ở ĐBSMI không thể cao vì n ớc
6
Theo David Bennet, U.S., Vietnam in world battle over catfish, Delta Farm Press, 14/06/2002.
7
Carter Dougherty, One catch not fish of the day, The Washington Times, 28/12/2001.
8
Theo Eric Palmer, Catfish at center of U.S Vietnamese trade battle, The Kansas City Star, 22/04/2002.
6
đứng chứ không phải là nớc chảy nh nuôi cá bè; việc áp dụng công nghệ quậy nớc lại làm
tăng thêm chi phí. Thứ ba, ở Mỹ cá cũng chỉ lớn nhanh trong 7-8 tháng, còn trong những
tháng mùa đông thì cá ngủ đông và hoàn toàn không lớn hay chỉ lớn rất chậm. Thứ t, tỷ lệ
hao hụt do chim ăn lên tới 30% (trong khi tỷ lệ hao hụt trung bình tại ĐBSCL chỉ ở mức
10%).
Sau khi đổi tên
Sự vận động liên tục của CFA và các nghị sĩ ở những bang nuôi cá catfish đã có kết quả. Dự
luật HR 2964 của Hạ viện Mỹ thông qua vào tháng 10 năm 2001 ra lệnh cấm tạm thời tất cả
các loại cá không thuộc họ da trơn Ictaluridae đợc mang nhãn catfish khi tiêu thụ tại Mỹ. Mặc
dù lệnh cấm tạm thời này sẽ hết hiệu lực vào cuối tháng 9 năm 2002, nhng ngay lập tức CFA
và các nghị sĩ ở các bảng miền Nam đã tìm cách để đảm bảo lệnh cấm trở thành một quy định
vĩnh cửu trong một bộ luật nông nghiệp sắp đợc thông qua.
Và vào tháng 5/2002, Tổng thống Mỹ phê chuẩn Đạo luật An ninh trang trại và Đầu t nông
thôn HR 2646, trong đó có điều khoản 10806 quy định chỉ đặt tên, dán nhãn mác hoặc quảng
cáo ''catfish'' cho các loại cá da trơn họ Ictaluridae. Đạo luật này sẽ đợc thực hiện trong 5
năm, từ năm tài chính 2002 đến năm tài chính 2007 và có thể sẽ còn đợc kéo dài.
CFA hy vọng rằng thành công trong việc cấm sản phẩm cá da trơn của Việt Nam đợc sử dụng
tên catfish thì nhu cầu của ngời tiêu dùng nội địa đối với hàng nhập khẩu sẽ giảm hoặc chí ít
thì cũng buộc các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam và nhập khẩu của Mỹ phải chịu chi
phí để tiến hành tiếp thị cho nhãn hiệu mới.
Đúng là trong vòng 1-2 tháng sau khi có quy định sử dụng các nhãn hiệu mới, sản lợng xuất
khẩu cá tra và basa đông lạnh sang Mỹ có giảm. Nhng nguyên nhân là do các doanh nghiệp
chế biến thủy sản của Việt Nam phải in lại và thay nhãn hiệu mới nên phải tạm ngng xuất
hàng sang Mỹ. Theo quy định của Bộ Thủy sản Việt Nam, ba tên thơng mại để sử dụng là
hypo basa, sutchi basa và trasa.
Nhng điều mà CFA không ngờ tới là việc phơng tiện thông tin đại chúng đa tin về vụ tranh
chấp tên gọi đã làm cho cá tra và basa trở nên nổi tiếng. Với nhãn hiệu và chiến lợc tiếp thị
mới, giá cá tra và basa philê đông lạnh ở thị trờng Mỹ tăng lên tới 20-30% so với trớc khi đổi
tên. Các đơn đặt hàng từ Mỹ đến tới tấp. Cá tra và basa philê đông lạnh của Việt Nam xuất
sang Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2002 tăng tới 24% cả về lợng và giá trị so với cùng kỳ năm
năm 2001.
9
Một ví dụ của sự thành công sau đổi tên là Tập đoàn siêu thị thực phẩm ở Bắc Mỹ
SYSCO đã ký hợp đồng mua cá đông lạnh của Agifish và bán theo thơng hiệu của SYSCO.
Cũng sau vụ tranh chấp về tên gọi, không chỉ ngời tiêu dùng ở Mỹ mà ở nhiều nớc khác cũng
biết đến sản phẩm của Việt Nam. Sản phẩm cá tra và basa đợc xuất mạnh hơn sang các thị tr-
ờng châu Âu, Nhật, úc. Ngoài sản phẩm philê đông lạnh, nhiều dạng chế biến cá tra và basa
khác cũng xuất hiện nh khô cá ăn liền, xúc xích cá, cá chà bông, cá hun khói
Thực ra giai đoạn sau đổi tên đều dễ chịu đối với cả các chủ trại nuôi cá ở Mỹ, cơ sở chế biến
thủy sản ở Mỹ, nông dân nuôi cá ở ĐBSCL và các doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh
ở Việt Nam vì với t cách là ngời sản xuất thì họ đều có lợi khi giá tăng lên. Con ngời tiêu
dùng Mỹ thì sao? Tất nhiên, ngời tiêu dùng vẫn tiếp tục thởng thức cá tra và basa Việt Nam
cũng nh cá catfish Mỹ, nhng mức giá phải trả đã cao hơn.
9
Riêng trong tháng 7 năm 2002, các doanh nghiệp chế biến cá tra và basa philê đông lạnh ở An Giang đã xuất
khẩu đợc 11.000 tấn sản phẩm, tăng 126% so với cùng kỳ năm 2001.
7
Mặc dù thắng lợi về quy định về tên gọi catfish nhng rõ ràng quy định này không cản trở đợc
cá tra và basa của Việt Nam nhập vào Mỹ. Đứng trớc lo ngoại về thị phần cá Việt Nam ngày
càng gia tăng, các nhà nuôi cá và chế biến cá của Mỹ đa ra đòn tấn công thứ hai: cáo buộc các
doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam bán phá giá cá tra và basa philê đông lạnh trên
thị trờng Mỹ.
Vụ kiện bán phá giá
Vào ngày 28 tháng 6 năm 2002, Hiệp Hội chủ trại nuôi cá da trơn Mỹ (CFA) đã đệ đơn kiện
một số doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam lên Bộ Thơng mại Mỹ (DOC) và ủy Ban
Thơng Mại Quốc tế Mỹ (ITC) là các sản phẩm cá tra và basa philê đông lạnh đợc bán thấp
hơn giá trị hợp lý tại thị trờng Mỹ, gây thiệt hại về vật chất cho sản xuất nội địa. Phía nguyên
đơn trong vụ kiện là 500 trại nuôi cá catfish thuộc Hiệp hội Nuôi cá Catfish (CFA) và 8 doanh
nghiệp chế biến thuỷ sản Mỹ. Bên bị đơn là 53 doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh của
Việt Nam.
Trong đơn kiện, CFA đa ra hai đề xuất áp dụng thuế chống phá giá để DOC xem xét. Nếu
Việt Nam đợc xác định không phải là một nớc theo nền kinh tế thị trờng, thì mức thuế suất
thuế chống phá giá áp dụng sẽ là 190%. Còn nếu Việt Nam đợc xác định là có nền kinh tế thị
trờng, thì mức thuế suất thuế chống phá giá áp dụng sẽ là 144%.
Đây là vụ kiện bán phá giá đầu tiên xảy ra giữa Việt Nam với Mỹ, và cũng là vụ có tiềm năng
ảnh hởng lớn đến một khu vực kinh tế của Việt Nam (nuôi và chế biến thủy sản). Cho đến
nay, Việt Nam đã phải đối phó với tám vụ kiện bán phá giá đối với cả các sản phẩm nông
nghiệp lẫn công nghiệp chế biến, trong đó Việt Nam đều là bên bị đơn.
10
Theo thống kê của
WTO, Mỹ là nớc khởi xớng các vụ kiện bán phá giá nhiều nhất trên thế giới. Tính trong giai
đoạn 1995-2001, 255 vụ điều tra bán phá giá đã đợc Mỹ khởi xớng nhằm vào sản phẩm nhập
khẩu từ nớc ngoài, chiếm 14% tổng số vụ kiện phá giá trên thế giới. Cũng trong thời gian này,
Mỹ phải đối phó với 102 vụ các nớc khác kiện Mỹ đã bán phá giá ở nớc họ.
10
Cho đến nay, Việt Nam cha có luật hay quy định về chống bán phá giá.
8
Thế nào là bán phá giá?
Bán phá giá (dumping) đợc định nghĩa là hoạt động bán sản phẩm ra nớc ngoài ở mức giá thấp
hơn giá trị hợp lý (fair value) của sản phẩm. Giá trị hợp lý là giá bán ở thị trờng nớc nhà.
Trong trờng hợp giá bán ở nớc nhà không tồn tại hay thị trờng nớc nhà quá nhỏ thì giá trị hợp
lý là giá bán cao nhất của sản phẩm xuất sang một nớc thứ ba hay là chi phí sản xuất ở nớc
nhà cộng với một mức chi phí bán hàng và lợi nhuận nhất định.
Nếu chứng minh đợc hành vi bán phá giá và hành vi này gây ra các thiệt hại vật chất
(material injury) cho ngành sản xuất trong nớc thì thuế chống bán phá giá (antidumping duty)
sẽ đợc áp dụng. Mức thuế suất bằng với mức độ bán phá giá (dumping margin), đợc tính bằng
tỉ lệ chệnh lệch giữa giá xuất khẩu và giá trị hợp lý của sản phẩm khẩu.
Các vụ kiện bán phá giá trên thế giới và các vụ liên quan tới Mỹ
Tính từ 1/1/1995 đến 31/12/2001, trên thế giới có tất cả 1.845 vụ kiện bán phá giá, trong đó
1.066 trờng hợp cuối cùng bị áp dụng các biện pháp chống phá giá (chiếm 58% tổng số vụ).
Các nớc mới công nghiệp hóa (kể cả Trung Quốc và ấn Độ) là đối tợng bị kiện nhiều nhất
(chiếm 39% tổng số vụ), kế đó là EU (19%).
Cũng trong giai đoạn 1995-2001, Mỹ đã tiến hành điều tra 255 vụ bán phá giá chống lại các
nớc khác, trong đó 169 trờng hợp bị Mỹ áp đặt các hình thức chống bán phá giá (chiếm tỷ lệ
66% tổng số vụ). Trung Quốc là nớc bị Mỹ kiện nhiều nhất với 33 trờng hợp (trong đó 29 tr-
ờng hợp bị áp thuế chống phá giá). Những nớc khác cũng bị Mỹ kiện nhiều là Nhật, Hàn
Quốc và Đài Loan. Cũng trong thời gian trên, Mỹ phải chịu 102 vụ các nớc kiện Mỹ bán phá
giá, trong đó biện pháp chống phá giá đợc áp dụng cho 57 vụ.
Các vụ kiện Việt Nam bán phá giá
Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá đầu tiên xảy ra vào năm 1994 khi Côlômbia
cho rằng các nhà xuất khẩu gạo của Việt nam bán gạo với giá thấp hơn 9% so với giá trị hợp
lý. Tuy nhiên những cáo buộc về bán phá giá sau cùng đợc loại bỏ do phía Côlômbia không
tìm thấy tác động tiêu cực của gạo xuất khẩu Việt Nam đối với gạo của Côlômbia.
Trong vụ kiện thứ hai vào năm 1998, EU cáo buộc Việt Nam bán phá giá mì chính trên thị tr-
ờng EU và áp thuế chống phá giá với thuế suất 16,8% đối với sản phẩm của Việt Nam. EU
trong năm 1998 cũng điều tra khả năng bán phá giá các sản phẩm giày dép nhập khẩu từ
Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia và Việt Nam. Việt Nam sau đó đợc loại khỏi doanh sách do
thị phần còn nhỏ so với các nớc xuất khẩu khác.
Vào năm 2000, Ba Lan xác định Việt Nam bán phá giá bật lửa ga và áp đặt thuế chống phá
giá ở mức 0,09 euro trên một sản phẩm nhập khẩu.
Vào năm 2001, Canada cáo buộc các nhà xuất khẩu tỏi của Việt Nam bán phá giá tỏi trên thị
trờng Canada và áp thuế chống phá giá 1,48 USD/kg.
Còn trong năm 2002, Việt Nam phải chịu ba cáo buộc bán phá giá và cả ba vụ đều đang trong
quá trình điều tra. Vụ thứ nhất là Hiệp hội Giày dép Canada kiện các doanh nghiệp sản xuất
giày Việt Nam bán phá giá giày chống thấm nớc. Vụ thứ hai là EU cáo buộc các nhà xuất
khẩu bật lửa ga Việt Nam bán phá giá trên thị trờng EU. Vụ thứ ba là cá tra và basa philê
đông lạnh.
9
Lịch trình vụ kiện bán phá giá cá tra và basa philê đông lạnh (sau nhiều lần hiệu
chỉnh)
28/06/2002
CFA đệ đơn lên ủy ban Thơng Mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) và Bộ Thơng mại Hoa Kỳ
(DOC) kiện một số doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra, basa.
24/07/2002
DOC đa ra kết luận có khởi xớng điều tra hay không dựa trên thông tin do bên nguyên đơn
cung cấp sơ khởi.
08/08/2002
ITC đa ra kết luận sơ khởi. Nếu kết luận là không có thiệt hại vật chất thì vụ kiện đợc kết
thúc. Nếu kết luận là có thiệt hại thì vụ kiện đợc chuyển sang DOC.
24/01/2002
Theo kế hoạch ban đầu, DOC sẽ công bố kết quả điều tra ban đầu về cáo buộc bán phá giá
vào ngày 5/12, nhng sau đó đã công bố hoãn đến 24/1/2003.
16/06/2003 (dự kiến ban đầu là 8/02/2003)
DOC công bố kết quả điều tra cuối cùng về cáo buộc bán phá giá. Vụ kiện đợc kết thúc
nếu kết luận là không có bán phá giá. Còn nếu có, vụ kiện đợc chuyển lại ITC.
31/07/2003 (dự kiến ban đầu là 04/04/2003)
ITC công bố kết quả điều tra cuối cùng về cáo buộc ngành chế biến catfish philê đông
lạnh của Mỹ có bị thiệt hại vật chất hay không.
7/08/2003 (dự kiến)
Lệnh áp thuế chống phá giá.
Luận điểm của các bên về cáo buộc bán phá giá cá tra và basa
Phía các trại nuôi cá catfish và các doanh nghiệp chế biến catfish Mỹ
Về khía cạnh thứ nhất ngành sản xuất nội địa và thiệt hại vật chất:
Bên nguyên đơn (bao gồm 500 trại nuôi và 8 doanh nghiệp chế biến catfish) lập luận cho
rằng sản phẩm của họ chiếm khoảng 86% sản lợng sản xuất nội địa. Hơn thế nữa, các trại
nuôi cá bán hầu hết sản phẩm của mình cho các đơn vị chế biến và đơn vị chế biến phụ
thuộc toàn bộ vào cá nguyên liệu của nông dân nuôi cá. Quyền lợi của ngời nuôi và ngời
chế biến còn trùng nhau ở chỗ có sở hữu chéo giữa hai bên. Do vậy, cả trại nuôi lẫn cơ sở
chế biến cộng lại có thể đại diện cho phía sản xuất trong ngành để kiện phía Việt Nam.
Mặc dù ở Mỹ không hề có sản phẩm đồng nhất với cá tra và basa của Việt Nam, nhng cá
catfish, tra và basa đều là cá nớc ngọt có thịt trắng và trong nhiều món ăn chế biến các
loại cá philê này có thể đợc dùng thay thế cho nhau. Do vậy, catfish philê đông lạnh là sản
phẩm ở Mỹ có những đặc điểm giống nhất với cá tra và basa philê đông lạnh.
Hàng nhập khẩu của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng từ năm 1999 và chiếm tới 20%
thị phần vào năm 2001. Để tăng thêm sức mạnh cho nhận định này, phía CFA đa ra các
con số trong đó tăng sản lợng hàng Việt Nam nhập khẩu và giảm sản lợng sản xuất nội
địa.
Thứ nhất, sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam không chỉ nằm trong hạng mục cá
catfish philê đông lạnh (theo Biểu thuế nhập khẩu hài hòa HTS), mà còn ở cả ba
hạng mục khác (cá nớc ngọt philê đông lạnh khác, cá bơn philê đông lạnh và cá
philê đông lạnh cha phân loại), vì một số loại cá tra và basa đông lạnh đợc nhập
vào dới các hạng mục này. Với lập luận nh vậy thì sản lợng nhập khẩu từ Việt
Nam trong năm 2001 lên tới 13.500 tấn.
11
11
Hình 2 trình bày số liệu xuất khẩu cá philê đông lạnh của Việt Nam sang Mỹ khi cả bốn hạng mục sau đều đ-
ợc tính: 0304.20.60.30 (cá catfish philê đông lạnh), 0304.20.60.43 (cá nớc ngọt philê đông lạnh khác),
10
Thứ hai, sản phẩm bị cạnh tranh trong nớc chỉ bao gồm catfish philê, chứ không
bao gồm các sản phẩm cá thịt trắng khác. Tổng lợng tiêu dùng catfish philê ở
trong năm 2001 Mỹ thấp hơn 70.000 tấn.
Trong tất cả các quý mà hai bên có sản lợng bán ra, sản phẩm cá tra và basa philê đông
lạnh nhập khẩu luôn có giá thấp hơn các sản phẩm catfish nội địa (với mức chênh lệch vào
khoảng 0,8-1 USD/pao) mặc dù nhu cầu và mức tiêu dùng rõ ràng là tăng lên. Giá catfish
giảm liên tục trong thời gian qua nguyên nhân chính là do sản phẩm của Việt Nam nhập
vào với số lợng ngày càng tăng và đợc bán phá giá trên thị trờng Mỹ. Hành động này đã
gây ra thiệt hại lớn cho ngành catfish Mỹ.
Về khía cạnh thứ hai bán phá giá:
Trong đơn kiện nhằm khởi xớng điều tra bán phá giá, CFA cung cấp các tính toán về mức
độ bán phá giá trên cả cơ sở kinh tế thị trờng và phi thị trờng.
Trong trờng hợp kinh tế thị trờng, CFA cho rằng thị trờng cá tra và basa philê đông lạnh ở
Việt Nam quá nhỏ nên không thể căn cứ vào giá nội địa ở Việt Nam để tính giá trị hợp lý.
Do CFA cũng không tìm thấy đợc số liệu về giá xuất khẩu của sản phẩm Việt Nam ở một
nớc thứ ba, nên trong tính toán của mình, CFA tự xây dựng chi phí sản xuất.
Giá cá nguyên liệu, lao động, điện, nớc của Việt Nam đợc sử dụng.
Đối với những số liệu về giá của Việt Nam khác mà CFA không có đợc, thì CDF
dùng chí phí sản xuất của một cơ sở chế biến của Mỹ.
Bằng cách so sánh giá trị hợp lý tự xây dựng và giá xuất khẩu, CFA đi đến mức độ
bán phá giá là 143,7%.
Trong trờng hợp kinh tế phi thị trờng, CFA chọn ấn Độ làm nớc có khả năng so sánh vì
ấn Độ là nền kinh tế thị trờng, có cùng mức độ phát triển kinh tế nh Việt Nam và có sản
xuất đáng kể cá trê trắng (torpedo-shaped catfish) giống cá tra và basa.
Giá nguyên liệu chế biến cá philê đông lạnh ở ấn Độ đợc sử dụng để tính giá trị hợp lý.
Đối với số lợng các nhân tố sản xuất, CFA trình bày rằng không thu thập đợc thông tin tin
cậy của Việt Nam. Với lập luận rằng quy trình chế biến cá philê đông lạnh gần nh giống
nhau ở mọi nơi trên thế giới, CFA tính toán dựa vào số liệu về lợng nhân tố sản xuất của
một cơ sở chế biến của Mỹ, sau khi đã hiệu chỉnh cho những khác biệt đợc biết ở Việt
Nam.
Theo tính toán của CFA, giá trị hợp lý của cá tra và basa philê đông lạnh là 4,19 USD/pao, trong
khi giá xuất khẩu là 1,44 USD/pao. Do vậy, mức độ bán phá giá là 190,20%.
Bảng 1: Tính toán mức độ bán phá giá của CFA trong trờng hợp kinh tế phi thị tr-
ờng
Nhân tố sản xuất
Tỉ lệ sử dụng
đầu vào
Giá đầu vào so sánh (/lb) Chi phí (/lb)
Cá nguyên liệu 4 0,53 2,12
Thu hồi phụ phẩm 3 0,01 (0,03)
Chi phí khác 0,41
Chi phí đơn vị ròng 2,50
Tỷ lệ % so với chi phí đơn vị ròng
Chi phí cố định 20,4% 0,51
Lãi vay + khấu hao 46,0% 1,15
Lợi nhuận 1,2% 0,03
0304.20.60.57 (cá bơn philê đông lạnh) và 0304.20.60.96 (cá philê đông lạnh cha phân loại).
Tuy nhiên, nếu chỉ tính hạng mục thứ nhất là cá catfish philê đông lạnh, thì số liệu sẽ nh sau:
199619971998199920002001Volume (tấn)59552619033.1917.765Value (USD)
260.847233.8461.156.5504.052.52410.695.97421.509.704Nguồn: Cơ sở dữ liệu trên mạng của ủy ban Thơng mại Quốc tế
Hoa Kỳ (DataWeb).
11
Giá trị hợp lý 4,19
Nguồn: Ví dụ số do DOC đa cho các doanh nghiệp chế biến cá tra và basa của Việt nam vào
tháng 10/2002 trên cơ sở của thông tin do phía nguyên đơn cung cấp.
Phía các doanh nghiệp chế biến cá tra và basa philê đông lạnh của Việt Nam
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phản đối đơn kiện của CFA
trên cả hai bình diện: (i) thiệt hại vật chất đối với ngành chế biến catfish Mỹ và (ii) cá tra và
basa philê đông lạnh của Việt Nam đợc bán phá giá trên thị trờng Mỹ.
Về khía cạnh thứ nhất ngành sản xuất nội địa và thiệt hại vật chất:
Việc quy định về tên gọi vừa qua chứng tỏ rằng không có một sản phẩm nào ở Mỹ là đồng
nhất với cá tra hay basa của Việt Nam. Do vậy, vụ kiện phải dựa vào sản phẩm sản xuất ở Mỹ
giống nhất với cá tra hay basa philê đông lạnh. Theo quan điểm của phía Việt Nam, các sản
phẩm giống nhất không chỉ bao gồm cá catfish philê đông lạnh mà cả sản phẩm philê đông
lạnh từ các cá thịt trắng khác. Hơn nữa, sản phẩm bị cạnh tranh bao gồm cả philê cùng với các
sản phẩm lăn bột và tẩm xốt. Nh vậy, thị phần của sản phẩm Việt Nam chỉ là 2% chứ không
phải là 20% nh phía CFA cáo buộc. Và với thị phần nhỏ nh vậy, thì sản phẩm Việt Nam
không thể gây thiệt hại vật chất cho ngành chế biến catfish đông lạnh của Mỹ.
Ngành kinh tế đợc xem xét là chế biến cá philê đông lạnh và do vậy các chủ trại nuôi cá
catfish không đủ t cách để đại diện cho các nhà sản xuất sản phẩm chế biến.
Ngành chế biến catfish philê đông lạnh của Mỹ không bị thiệt hại vật chất do cả sản lợng nội
địa lẫn nhập khẩu đều tăng và không có cạnh tranh trực tiếp về giá giữa hai loại. Hơn thế nữa,
các chỉ số tài chính của ngành sản xuất nội địa thực ra đợc cải thiện trong thời gian vừa qua
mặc dù nền kinh tế hiện đang đi xuống. Những khó khăn (nếu có) mà ngành sản xuất của Mỹ
gặp phải là do đầu t quá mức.
12

Hoàn toàn cũng không có nguy cơ về thiệt hại trong tơng lai do các nhà sản xuất Việt Nam
còn xuất khẩu sang nhiều thị trờng khác nh EU và các nớc châu á. Trong thời gian qua, xuất
khẩu của Việt Nam sang các thị trờng này cũng tăng mạnh. Các cơ sở chế biến thủy sản của
Việt Nam không chỉ chế biến cá tra và basa, mà còn chế biến nhiều loại thủy sản khác. Điều
này cho thấy các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam còn có nhiều cơ hội mở rộng
sản xuất khác thay vì chỉ tăng sản lợng xuất khẩu cá tra và basa đông lạnh sang Mỹ.
Về khía cạnh thứ hai bán phá giá:
Việt Nam lập luận mạnh mẽ cho t cách kinh tế thị trờng. Tài liệu 110 trang của Chính
phủ Việt Nam gửi cho DOC tấn công tất cả các luận điểm mà CFA đa ra. Báo cáo viết:
Việt Nam đã từ bỏ hệ thống kế hoạch hóa tập trung và đã đạt nhiều kết quả trong việc tự
do hóa kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế và do vậy phải đợc coi là một nền kinh tế thị
trờng theo luật thơng mại Hoa Kỳ. Mặc dù thừa nhận rằng còn nhiều yếu tố gây biến
dạng thị trờng trong nền kinh tế, nhng Chính phủ Việt Nam đã đa ra bằng chứng cho thấy
tất cả những biến dạng này đều tồn tại ở nhiều nền kinh tế thị trờng.
VASEP cũng lập luận tơng tự bằng cách so sánh Việt Nam với Kazakhstan, một nớc mới
đợc DOC thừa nhận là có kinh tế thị trờng vào tháng 3 năm 2002. Dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau, Việt Nam đạt hay vợt mức độ cải cách kinh tế của Kazakhstan.
Các doanh nghiệp của Mỹ và các nớc khác hoạt động ở Việt Nam cũng gửi văn bản cho
DOC ủng hộ Việt Nam có kinh tế thị trờng, nh Citibank, Cargill, American Standard, New
York Life International, Vedan, và Chinfon.
12
Phía Việt Nam còn lấy dẫn chứng từ Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ để lập luận rằng
nguyên nhân chủ yếu gây nên việc giảm giá cá catfish ở Mỹ không phải là do sản phẩm cá tra và basa đông lạnh
nhập khẩu từ Việt Nam. Giá giảm sút xuất phát từ những nguyên nhân nội tại, trong đó quan trọng nhất là việc
các chủ trại nuôi cá catfish của Mỹ đầu t quá mức vào các ao nuôi để gia tăng sản lợng. Xem Nguyễn. Hữu
Dũng, Catfish - Thử thách đầu tiên đối với Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ, VASC Orient, 30/11/2001.
12
Với t cách kinh tế thị trờng, giá cá philê trong thị trờng nội địa của Việt Nam có thể đ-
ợc dùng để tính giá trị hợp lý. Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá xuất khẩu sang Mỹ.
Thậm chí nếu thị trờng nội địa đợc coi là quá nhỏ, thì giá trị hợp lý có thể đợc xây dựng
trên cơ sở các chi phí sản xuất. Kết quả sẽ cho thấy Các doanh nghiệp chế biến thủy sản
của Việt Nam không hề bán phá giá.
Mức giá cạnh tranh của cá tra và basa philê đông lạnh chủ yếu là do chi phí cho cá nguyên
liệu thấp. Nông dân nuôi cá chịu chi phí theo giá thị trờng trong tất cả các khâu giống,
thức ăn, điện, xăng dầu. Một số đầu vào thậm chí còn bị chịu thuế. Đối với vốn đầu t đóng
bè và vốn lu động, một số hộ vay đợc vốn u đãi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, nhng nhiều hộ khác phải vay theo lãi suất thị trờng từ doanh nghiệp chế biến
hoặc từ t nhân và có hộ phải vay nặng lãi. Lãi suất bình quân 1%/tháng là hoàn toàn
không có yếu tố trợ giá và thậm chí còn cao hơn lãi suất của các khoản cho vay doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp ở TP.HCM. Nông dân nuôi cá thu lãi đáng kể với chi phí sản
xuất 10.500đ/kg và giá bán cho các cơ sở chế biến ở mức 11.000-13.000 đ/kg.
13
Chi phí nguyên liệu cá chiếm tới 82% tổng chi phí chế biến philê đông lạnh. Phần chi phí
còn lại bao gồm lao động, điện, nớc, hóa chất, bao bì, khấu hao, lãi vay, thuê đất. Chi phí
về lao động, điện, nớc và bao bì hoàn toàn đợc xác định theo thị trờng. Phần trợ giá nếu có
thể chỉ xuất hiện ở lãi vay và tiền thuê đất. Tỷ lệ trợ giá nếu có cũng không thể v ợt quá
1% giá trị sản phẩm chế biến.
14
Ngay cả khi vẫn coi Việt Nam là cha có kinh tế thị trờng thì đề xuất chọn ấn Độ là n-
ớc thứ ba để so sánh giá thành cá tra, basa Việt Nam xuất sang thị trờng Mỹ vẫn là vô lý.
Thứ nhất, cá trê trắng ấn Độ, mặc dù cũng thuộc họ catfish, nhng khác với cá tra ba sa
Việt Nam. Thứ hai, kỹ thuật nuôi cá, quy trình chế biến philê và chi phí sản xuất của
ngành cá hai nớc cũng hoàn toàn khác biệt.
Bảng 2: So sánh cá trê ấn Độ với cá tra Việt Nam
Các yếu tố khác biệt Cá trê ấn Độ Cá tra Việt Nam
Giá cá giống
31.258 đ/100 gam
(45 xen/pao)
18.667 đ/100 gam
(1.400 đ/con)
Hệ số tiêu tốn thức ăn 3,5/1 3/1
Giá cá nguyên liệu bán ra 18.000-19.000 đ/kg 13.000-14.000 đ/kg
Giá cá philê đông lạnh xuất khẩu 3,33 USD/pao 1,3 USD/pao
Nguồn: VASC Orient tổng hợp qua thông tin cung cấp từ Công ty Afiex, 31/07/2002.
Quy trình chế biến cá là quy trình khép kín từ nuôi cá đến chế biến philê đông lạnh. Các
doanh nghiệp chế biến đều trực tiếp đầu t vào các bè cá. Trong một số trờng hợp, bè đợc
trực tiếp doanh nghiệp quản lý, còn trong một số trờng hợp khác, bè đợc giao cho nông
dân. Nếu chỉ tính công đoạn chế biến, thì sản phầm đầu vào là cá tơi. Còn đối với trờng
hợp quy trình khép kín, thì phải tính tới cả công đoạn nuôi cá lẫn chế biến cá và sản phầm
đầu vào là cá giống con. Nh vậy, ngay cả trong trờng hợp Việt Nam bị coi là có kinh tế
phi thị trờng và sử dụng giá đầu vào ở nớc thứ ba (trong trờng hợp này là cá giống) thì
cũng không hề có bán phá giá.
Kết quả điều tra sơ khởi của ITC về khả năng gây thiệt hại đối với sản xuất catfish nội
địa
Đúng theo lịch trình, ITC đã đa ra kết quả điều tra sơ khởi vào tháng 8 năm 2002. Về sản
phẩm bị kiện, tất cả các mặt hàng philê đông lạnh chế biến từ cá tra hay basa đều đợc bao
13
Xem phần nuôi cá da trơn ở Đồng bằng sông Cửu Long.
14
Xem phần chế biến cá tra và basa đông lạnh và xuất khẩu sang Mỹ.
13
gồm cho dù đợc áp mã gì trong biểu thuế. Về sản phẩm sản xuất tại Mỹ bị cạnh tranh, sản
phẩm giống với cá tra hay basa philê đông lạnh là cá catfish philê đông lạnh (kể cả sản phẩm
đã lăn bột và tẩm xốt), nhng không bao gồm các loại cá thịt trắng khác nh phía Việt Nam lập
luận.
15
Bảng 6 dới đây trình bày các số liệu về sản lợng do ITC công bố.
Bảng 3: Thị phần sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam tại thị trờng Mỹ
1999 2000 2001
Sản lợng tiêu dùng cá da trơn phi lê đông lạnh ở Mỹ
(tấn)
63.969 67.056 71.278
Sản lợng cá tra, basa philê đông lạnh NK từ Việt Nam
(tấn)
2.179 5.357 11.078
Thị phần của sản phẩm Việt Nam (%) 3,4 8,0 15,5
Nguồn: ủy ban Thơng mại Quốc tế Hoa Kỳ, Một số sản phẩm cá philê đông lạnh từ Việt
Nam, Điều tra số 731-TA-1012 (Sơ khởi), Washington DC - 8/2002.
Về vấn đề đại diện cho ngành sản xuất nội địa, Luật Thơng mại và Cạnh tranh Omnibus 1988
(the 1988 Omnibus Trade and Competitiveness Act) của Hoa Kỳ có điều khoản quy định
nông dân sản xuất sản phẩm nông nghiệp thô đợc coi là ngời sản xuất trong ngành chế biến từ
sản phẩm nông nghiệp nếu:
(i) Sản phẩm nông nghiệp chế biến đợc sản xuất từ sản phẩm nông nghiệp thô qua một
dây chuyền sản xuất liên tục, với định nghĩa về dây chuyền sản xuất liên tục nh sau:
sản phẩm nông nghiệp thô đợc sử dụng chủ yếu hay toàn bộ cho chế biến.
sản phẩm nông nghiệp chế biến đợc sản xuất chủ yếu hay toàn bộ từ sản phẩm
nông nghiệp thô.
(ii) Nông dân và đơn vị chế biến có cùng quyền lợi về kinh tế.
Đối với điều kiện thứ nhất, kết quả điều tra của ITC cho thấy khoảng 54% lợng cá catfish tơi
đợc chế biến thành catfish philê đông lạnh. Số liệu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cũng cho
thấy catfish philê đông lạnh chiếm khoảng 44% trọng lợng của tất cả các loại catfish do các
cơ sở sản xuất trong nớc bán ra. Những con số này không thỏa mãn điều kiện sản phẩm nông
nghiệp thô đợc sử dụng chủ yếu hay toàn bộ cho chế biến.
16
Đối với điều kiện thứ hai, ITC nhận thấy có sở hữu chéo giữa các trại nuôi và doanh nghiệp
chế biến. Do vậy, các trại nuôi và doanh nghiệp chế biến catfish có cùng quyền lợi về kinh
tế. Nhng do điều kiện thứ nhất không đợc thỏa mãn nên ITC kết luận rằng ngành sản xuất
nội địa ở Mỹ chịu cạnh tranh của cá tra và basa phi lê đông lạnh nhập khẩu chỉ bao gồm các
doanh nghiệp chế biến catfish philê đông lạnh, chứ không bao gồm các chủ trại nuôi cá
catfish. Do vậy, điều kiện và tình hình kinh doanh của nông dân nuôi cá catfish ở Mỹ không
đợc xem xét trong quá trình phân tích sơ khởi về thiệt hại vật chất.
Xét về tình hình sản xuất của ngành chế biến catfish philê đông lạnh của Mỹ, ITC thấy một số
chỉ số thống kê chứng tỏ trạng thái đi xuống của ngành, nhng cũng có những chỉ số lại cho
thấy điều kiện tài chính đợc cải thiện. Ví dụ, mặc dù thị phần giảm, nhng sản lợng của ngành
chế biến catfish của Mỹ lại tăng trong năm 2000, sau đó giảm vào năm 2001 và tăng lại trong
những tháng đầu năm 2002; số lợng lao động và số giờ làm việc giảm, nhng năng suất, lơng
15
Trong đợt đánh giá sau cùng, ITC sẽ xem xét lại vấn đề này.
16
Đối với phần hai của điều kiện thứ nhất, catfish tơi nguyên con chiếm khoảng 70,4% chi phí sản xuất catfish
philê đông lạnh (số liệu năm 2001). Do vậy, sản phẩm catfish chế biến đợc coi là sản xuất chủ yếu hay toàn bộ
từ cá catfish nguyên liệu thô. Tuy nhiên, do không thỏa mãn phần một của điều kiện thứ nhất nên toàn bộ điều
kiện thứ nhất cũng không đợc thỏa mãn.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét