Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tài liệu Đề tài " THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM " ppt

giàu như Mỹ chỉ trích có 0,17% GNP, Nhật Bản là 0,33% GNP, (1)
Những năm gần đây, không chỉ có các nước công nghiệp phát triển mà còn có một số nước
đang phát triển cũng bắt đầu cung cấp ODA như Ả Rập Xê út, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài
Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,
Nhìn chung, ODA đã giúp nhiều nước kém phát triển có được những bước tiến rõ rệt và
vững chắc. Điển hình là Nhật Bản, sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế Nhật Bản
kiệt quệ vì chiến tranh, nhưng cho đến nay Nhật Bản đã trở thành một trong số những nước
có nền kinh tế phát triển nhất thế giới và vốn ODA chính là một yếu tố quan trọng đóng góp
cho thành công của Nhật Bản. Nguồn vốn này còn phát huy hiệu lực ở nhiều quốc gia khác
trên thế giới như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore,
Không nằm ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam cũng đang cố gắng thu
hút vốn ODA để phát triển nền kinh tế đất nước và coi đây là một nguồn lực quan trọng đặc
biệt cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nhằm đưa nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc. Do đó,
chúng ta cần tìm hiểu rõ bản chất của ODA, ưu điểm và nhược điểm của nó để có thể thu
hút và sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Vậy, hỗ trợ phát triển chính thức ODA là gì?

1.2 Định nghĩa ODA và đặc điểm
1.2.1 Định nghĩa ODA:
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, dưới đây là một số định
nghĩa mà chúng ta có thể tham khảo:
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc vay với điều
kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ của các cơ quan chính thức thuộc các
nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ.
Viện trợ phát triển chính thức là hình thức chuyển giao vốn (tiền tệ, vật chất, công nghệ, )
từ các tổ chức tài chính quốc tế, từ các nước công nghiệp phát triển cho các nước đang phát
triển và chậm phát triển.
Hỗ trợ phát triển chính thức là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ
có hoàn lại (cho vay dài hạn với một số thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của chính phủ, các
hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc
tế (như Ngân hàng thế giới - WB, Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế
– IMF ) dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.
Đặc điểm của ODA:
Tuy nhiên dù hiểu theo bất cứ định nghĩa nào, ODA cũng có những đặc điểm chung sau:
+ Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều
hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên
gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nhưng thông thường danh mục
dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ.
+ Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi. Tuy
vậy, nếu quản lí, sử dụng vốn ODA không hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại gánh nặng nợ nần
trong tương lai.
+ Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được nhận
tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc từng nhà tài trợ.
+ Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư và cơ sở hạ tầng như GTVT, giáo dục
y tế
+ Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ đa phương (gồm các tổ chức thuộc Tổ
chức Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các tổ chức phi chính phủ IMF, WB, ADB) và các
tổ chức viện trợ song phương như các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
OECD, các nước đang phát triển như Ả Rập xê-út, Tiểu vương quốc Arập, Hàn Quốc, Đài
Loan, Trung Quốc. Các nước cung cấp viện trợ nhiều nhất hiện nay là Mỹ, Nhật, Pháp,
Anh, Australia, Thuỵ Điển
Các tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA
Tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA thường được xác định trên cơ sở tình hình phát triển
kinh tế xã hội của từng quốc gia, trong đó các tiêu chuẩn cơ bản chủ yếu nhất là GDP tính
theo đầu người và khả năng trả nợ của quốc gia đó. Thông thường những nước đang phát
triển có mức thu nhập bình quân đầu người một năm thấp hơn mức tối thiểu mới có đủ tiêu
chuẩn để vay ODA. Mức tối thiểu này được điều chỉnh theo thời gian và tuỳ vào chính sách
của từng tổ chức tài trợ. Ví dụ năm 1996 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) quy định
mức thu nhập bình quân tối thiểu là 851 USD/người, đối với Ngân hàng Thế giới, con số
này là 1.305 USD/người (2),
Các điều kiện và thời hạn vay ODA
Các khoản vay ODA dành cho các nước nghèo, kém phát triển thường có lãi suất thấp,
thậm chí không có lãi suất, thời hạn trả vốn lâu, thời gian ân hạn dài. Ví dụ như thời gian
hoàn trả vốn của Nhật Bản là 30 năm, của ADB và WB là 40 năm, lãi suất của ADB là
1%/năm, của WB là 0,75%/năm, thời gian ân hạn là 10 năm, Nếu cán cân thanh toán và
tình hình kinh tế của nước đi vay được cải thiện một cách đáng kể thì thời hạn các khoản
vay có thể được điều chỉnh nhằm thể hiện những thay đổi to lớn trong tình hình kinh tế của
từng nước. Tuy nhiên, nếu sự điều chỉnh đó làm nền kinh tế của quốc gia vay vốn bị bất ổn
thì có thể điều chỉnh lại.

1.3 Phân loại ODA

1.3.1 Phân loại ODA theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận
Phân loại theo nguồn cung cấp
Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có thể chia làm 2 loại:
+ ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nước này dành cho
chính phủ nước kia. Hiện nay, trong số các nước cung cấp ODA song phương, Nhật Bản và
Mỹ là những nước dẫn đầu thế giới.
+ ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế (như Ngân
hàng phát triển Châu Á, Liên minh Châu Âu, ) hoặc của chính phủ một nước dành cho
chính phủ một nước khác nhưng được thực hiện thông qua các tổ chức phương như
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
(UNICEF),
Phân loại theo nước tiếp nhận
Nếu phân loại theo nước tiếp nhận ODA, có thể chia ODA làm hai loại:
+ ODA thông thường: là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu người thấp.
+ ODA đặc biệt: là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn, lãi suất
cao hơn so với ODA thông thường.
Phân loại ODA theo tính chất
Thông thường ODA gồm hai phần: phần không hoàn lại và phần hoàn lại với điều kiện ưu
đãi (lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài, ) Phần không hoàn lại lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào
khả năng tài chính và hảo tâm của chủ tài trợ, thông thường chiếm khoảng 15% tổng số
ODA. Phần hoàn lại với điều kiện ưu đãi chiếm phần lớn ODA. Như vậy, nếu phân loại
theo tính chất, ODA có thể chia thành hai loại chính: Viện trợ không hoàn lại và viện trợ có
hoàn lại. Ngoài ra, còn có một phần nhỏ ODA được thực hiện dưới dạng viện trợ hỗn hợp,
nghĩa là ODA một phần cấp không, phần còn lại thực hiện theo hình thức vay tín dụng, có
thể ưu đãi hoặc bình thường.
Viện trợ không hoàn lại
Viện trợ không hoàn lại là viện trợ cấp không, không phải trả lại và thường được thực hiện
dưới hai dạng sau đây:
+ Hỗ trợ kỹ thuật (Technical Assistance - TA): là việc chuyển giao công nghệ hoặc truyền
đạt những kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật cho nước nhận ODA nhờ sự trợ giúp của
các chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên, trong hình thức viện trợ này thì lương của các chuyên
gia quốc tế lại chiếm phần đáng kể trong tổng giá trị viện trợ.
+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật như
lương thực thực phẩm, thuốc men, vải vóc Tuy nhiên, đơn giá tính cho những hàng hoá
này thường tương đối cao. Chính vì thế, rất khó huy động những hàng hoá này vào mục
đích đầu tư phát triển. Hơn nữa cũng cần nhận thấy rằng các khoản viện trợ không hoàn lại
thường kèm theo một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá mà nếu nước chủ nhà có tiền
chủ động thực hiện thì chưa chắc đã cần đến những hàng hoá hay kỹ thuật đó, hay ít nhất
cũng áp dụng một đơn giá thấp hơn nhiều lần. Đây chính là lý do tại sao tỉ trọng viện trợ
không hoàn lại trong tổng số hỗ trợ phát triển chính thức có xu hướng ngày càng giảm.
Viện trợ có hoàn lại
Viện trợ có hoàn lại thực chất là vay tín dụng với điều kiện ưu đãi. Tính chất ưu đãi của các
khoản viện trợ được thể hiện ở những mặt sau:
- Lãi suất thấp: lãi suất áp dụng cho các khoản vay tín dụng ưu đãi của WB là 0,75%/năm,
của ADB là 1%/năm, của Nhật Bản dao động trong khoảng 0,75-2,3%/năm,
- Thời hạn vay dài hạn: Nhật cho Việt Nam vay trong 30 năm, Ngân hàng thế giới cho Việt
Nam vay trong 40 năm,
- Thời gian ân hạn (thời gian từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên) dài: ADB, Nhật Bản
cho Việt Nam thời gian ân hạn 10 năm,
Chính vì những tính chất ưu đãi này nên ở các nước, ODA dưới dạng các khoản vay ưu đãi
thường được sử dụng để đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tạo
điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống.
Phân loại ODA theo điều kiện
ODA có hai loại: không điều kiện và có điều kiện. Trên thực tế, chỉ có Thuỵ Điển là nước
duy nhất cấp ODA không điều kiện. Còn lại các nước viện trợ khi cấp ODA thường gắn với
những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị,… Ngoài ra, còn có loại ODA ràng buộc một
phần, tức là một phần ở cấp viện trợ, phần còn lại có thể chi tiêu ở các cấp khác tuỳ theo
nước nhận tài trợ.
ODA không ràng buộc
ODA không ràng buộc nghĩa là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử
dụng hay mục đích sử dụng mà có thể chi tiêu ở bất kỳ lĩnh vực nào hay khu vực nào.
ODA có ràng buộc
ODA có ràng buộc nghĩa là bắt buộc phải chi tiêu ở cấp, ở lĩnh vực viện trợ. Nước nhận
ODA có thể bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc mục đích sử dụng.
ODA bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng: nghĩa là việc mua sắm hàng hoá hay trang thiết bị
hay dịch vụ bằng ODA đó chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc
kiểm soát (đối với tài trợ song phương), hoặc công ty của nước thành viên (đối với viện trợ
đa phương).
ODA bị ràng buộc bởi mục đích sử dụng: nghĩa là nguồn ODA cung cấp chỉ được sử dụng
cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể.
Phân loại ODA theo hình thức
Hỗ trợ cán cân thanh toán
Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp nhưng đôi khi cũng có thể là
hiện vật thông qua hỗ trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển
vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thể được chuyển hoá thành hỗ
trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được bán trên thị
trường trong nước, và số thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ.
Tín dụng thương mại
ODA có thể thực hiện dưới dạng tín dụng thương mại với các điều khoản "mềm" như lãi
suất thấp, hạn trả dài,
Viện trợ chương trình
Viện trợ chương trình (còn gọi là hỗ trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt được một hiệp định
với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát trong
một thời hạn nhất định, mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng
như thế nào.
Hỗ trợ dự án
Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, có thể liên quan đến hỗ
trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, và thông thường các dự án phải được chuẩn bị rất kỹ lưỡng
trước khi thực hiện.
Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là các dự án về xây dựng (đường xá, cầu cống, đê đập, điện năng,
viễn thông, trường học, bệnh viện, ). Thông thường các dự án này có kèm theo một bộ
phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt
động nhất định nào đó của dự án hoặc để soạn thảo xác nhận các báo cáo cho đối tác viện
trợ.
Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu là các dự án tập trung vào chuyển giao tri thức (know-how) hoặc
tăng cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản trước khi đầu tư.
1.4 Nguồn và đối tượng của ODA
1.4.1 Nguồn cung cấp ODA
Như đã đề cập trong định nghĩa về ODA, nguồn cung cấp ODA có thể đến từ các chính
phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ. Như vậy, hiện nay, nguồn viện
trợ ODA đối với các nước đang phát triển gồm các loại sau:
+ Chính phủ nước ngoài và các cơ quan đại diện cho hợp tác phát triển của chính phủ nước
ngoài ví dụ như: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA, Ngân hàng hợp tác quốc tế
Nhật Bản - JBIC, Cơ quan phát triển quốc tế Australia - AUSAID, Hội đồng viện trợ hải
ngoại Australia ACFOA; Cơ quan viện trợ chính thức Nauy - NORAD,
+ Các tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (LHQ), bao gồm: Chương trình Phát triển Liên
hiệp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF); Chương trình Lương thực
Thế giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO); Quỹ Dân
số Liên hiệp quốc (UNFPA); Quỹ Trang thiết bị của Liên hiệp quốc (UNCDF); Tổ chức
Phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO); Cao uỷ Liên hiệp quốc về Người tị
nạn (UNHCR); Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế
(IAEA); Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của LHQ (UNESCO);
+ Các tổ chức Liên chính phủ, bao gồm: Liên minh Châu Âu (EU), Tổ chức hợp tác kinh tế
và phát triển (OECD), Hiệp hội các nước ASEAN
+ Các tổ chức Tài chính quốc tế bao gồm: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Phát triển
Châu Á (ADB); Quỹ các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC); Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu
(NIB) và Quỹ Phát triển Bắc Âu (NID); Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD),
(trừ Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF).
Đối tượng của ODA
ODA của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới chỉ tập trung vào những nước có thu
nhập bình quân đầu người thấp, đặc biệt là những nước ở dưới mức 220 USD/người, năm.
Mặc dù vậy, việc xem xét một quốc gia có đủ điều kiện để được viện trợ ODA hay không
còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác trong đó quan trọng nhất lại là chính sách ngoại
giao, tiếp đến là mức độ ổn định chính trị- kinh tế -xã hội và lộ trình cam kết phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia đó. Do đó, một quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao
hơn 220 USD/ người, năm vẫn có thể thu hút lượng ODA lớn hơn nhiều lần so với một
nước có thu nhập thấp hơn 220 USD/người, năm. Điều kiện về thu nhập luôn luôn được
nhắc đến trong việc cấp ODA nhưng đó chỉ là điều kiện cần chứ không hẳn là điều kiện đủ
để một quốc gia trở thành nước được nhận viện trợ. Do vậy, năng lực của bộ máy lãnh đạo
của một quốc gia cũng chính là điều kiện quyết định khả năng thu hút ODA của quốc gia đó
vì đôi khi việc tăng hoặc giảm quyết định viện trợ cũng do các lý do chính trị chứ không
phải lý do viện trợ kinh tế theo đúng nghĩa của nó.
Sau khi đã ký các cam kết viện trợ, để được tiếp nhận nguồn viện trợ ODA, các nước phát
triển phải tuân theo các điều kiện của nguồn hỗ trợ và từng dự án, chương trình.
Một yêu cầu nữa đối với nước nhận viện trợ là uy tín của nước đó và những tiến bộ đạt
được thông qua quá trình sử dụng vốn viện trợ của các nước này. Đây là tiền đề quan trọng
tạo thuận lợi cho nước tiếp nhận ODA có được sự tin tưởng từ phía các nhà tài trợ qua đó
tiếp tục và nhận được nhiều sự ủng hộ hơn nữa.
Ngoài những yêu cầu được đặt ra ở trên, nước nhận viện trợ, thường là những nước đang
phát triển còn gặp một khó khăn không nhỏ đó là nguồn vốn đối ứng theo yêu cầu của từng
dự án, từng giai đoạn của dự án. Khi các nước đó gặp phải khó khăn về kinh tế hoặc do sự
yếu kém của các cơ quan thi hành, việc không đáp ứng đủ nguồn vốn đối ứng sẽ làm chậm
tiến độ giải ngân, làm chậm thời gian đưa công trình vào sử dụng, tăng chi phí thực hiện dự
án và làm giảm sút uy tín đối với nhà tài trợ.
2. Vai trò của ODA đối với các quốc gia trên thế giới

2.1 Vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận
2.1.1 Những tác động tích cực
Các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng muốn đẩy mạnh nền
kinh tế thì phải có một lượng vốn lớn để tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực đặc biệt là cơ
sở hạ tầng còn ở mức rất thấp. Do đó không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước mà còn
phải biết tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài. Một thực tế là muốn phát triển kinh tế, các nước
đều phải có một khoản đầu tư tương xứng (ví dụ như muốn đạt được tốc độ tăng trưởng
kinh tế khoảng 10% như Việt Nam thì cần đầu tư một lượng tiền vốn khoảng 30% GDP).
Mà thực tế các nước này chỉ có mức tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế chỉ dưới 10% GDP.
Đáp ứng yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đặc thù là lãi suất vay
thấp, thời hạn dài (thường từ 15 - 40 năm lại thêm thời gian ân hạn từ 10 đến 20 năm),vốn
đầu tư tập trung lớn, có thể lên tới hàng trăm triệu USD cho một dự án. Bên cạnh đó nguồn
vốn này nhằm hỗ trợ các nước nghèo giải quyết các vấn đề trên, điều mà nguồn vốn tư bản
(đầu tư trực tiếp) không bao giờ làm được.
Tuy xét về mối quan hệ thì ODA và tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn tỉ lệ thuận tức là
không phải cứ viện trợ tăng lên thì tăng trưởng kinh tế cũng tăng lên. Tăng trưởng kinh tế
còn phụ thuộc vào khả năng quản lý tốt của nước nhận viện trợ. Trong điều kiện quản lý
tốt, thêm 1% viện trợ trong GDP thì tăng trưởng kinh tế tăng thêm là 0.5%.
ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng phúc lợi và mức sống cho
người dân từ đó thúc đẩy phát triển. Ví dụ vào năm 1966, Thái Lan là nước nghèo với thu
nhập dưới mức 1 USD/ngày (theo thời giá 1985), tỷ lệ tử vong sơ sinh năm 1967 là 0,84%.
Tuy nhiên nước này đã có những biến đổi mạnh mẽ, nhất là những năm cuối thập kỷ 80 và
đầu thập kỷ 90. Những thành tựu này được đánh giá là có vai trò quan trọng của viện trợ
ODA.
ODA giúp đầu tư vào con người mà vấn đề quan trọng nhất là các dự án liên quan đến phổ
cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết vì theo
thống kê gần đây của WB trong số gần 5 tỷ người sống ở các nước đang phát triển là thành
viên của WB thì có:
3 tỷ người sống dưới mức 2 USD/ngày và khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức 1 USD/ngày.
Mỗi ngày có 40.000 người chết do các bệnh liên quan đến hô hấp.
130 triệu trẻ em trong độ tuổi không có cơ hội đến trường.
1,3 tỷ người không có cơ hội tiếp cận với nguồn nước sạch.
ODA cũng có vai trò đối với công cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ các nước đang phát
triển qua các dự án, chương trình hỗ trợ năng lực, cải tổ cơ cấu các tổ chức, các cơ quan
chức năng của chính phủ.
Hơn nữa việc sử dụng ODA còn mang lại nhiều thuận lợi khác cho các quốc gia đang phát
triển trong công cuộc cải cách kinh tế nhờ những ưu điểm sau:
Vốn ODA sẽ giúp nước nhận tài trợ có cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và
công nghệ trên thế giới. Tuy các nước công nghiệp phát triển không muốn chuyển giao
công nghệ cao cho các nước nhận viện trợ nhưng những công nghệ được chuyển giao cũng
tương đối hiện đại so với trình độ của các nước này. Trong quá trình thực hiện, nước viện
trợ thường cử chuyên gia sang hướng dẫn thực hiện dự án do đó cán bộ của nước nhận viện
trợ có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm đáng quý.
Vốn ODA cũng giúp nước nhận viện trợ có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước
mình. Khi thực hiện các dự án có vốn nước ngoài, các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cũng
như công nhân sẽ có cơ hội tiếp thu công nghệ mới, làm quen với các quy trình làm việc
khoa học và hiện đại, đồng thời rèn luyện được tác phong làm việc công nghiệp.
Tóm lại, ODA đóng một vai trò hết sức qua trọng đối với việc phát triển kinh tế của các
nước đang phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do
tính chất ưu đãi đặc thù của nguồn vốn này. Tuy vậy, việc sử dụng nguồn vốn này không
phải là không có hạn chế.
ODA và nguy cơ phụ thuộc của các nước tiếp nhận
Tuy nhiên, đối với nước tiếp nhận, nguồn hỗ trợ song phương tạo điều kiện giúp tăng
trưởng và phát triển kinh tế đồng thời họ cũng phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc
rất chặt chẽ từ phía các nước tài trợ. Những ràng buộc này có thể xuất phát từ lý do kinh tế
cũng có thể là ràng buộc về chính trị. Ví dụ năm 2003 này Mỹ sẵn sàng viện trợ và cho Thổ
Nhĩ Kỳ vay một khoản tiền lớn để đổi lấy việc Thổ Nhĩ Kỳ cho phép Mỹ đóng quân trong
cuộc chiến tranh tấn công I-rắc.
Kinh nghiệm phát triển 50 năm qua của thế giới cho thấy. Những nước tiến hành phát triển
dựa trên việc tăng cường và sử dụng nguồn vốn trong nước tiết kiệm được đồng thời hạn
chế tối thiểu vay nợ nước ngoài là những nước đã đạt được kết quả phát triển tốt và bền
vững. Trái lại, một số nước đang phát triển trông cậy quá nhiều vào viện trợ tài chính của
nước ngoài, đặc biệt là các khoản vay nợ, hiện vẫn đang nằm trong danh sách những nước
mất cân đối và lệ thuộc vào nước ngoài.
Trong xu hướng phát triển hiện nay, toàn cầu hoá là một xu hướng không thể tránh khỏi,
các nước phát triển hay các nước đang phát triển cũng đều muốn thúc đẩy quá trình này vì
về bản chất nó đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia. Nếu xem xét một cách cụ thể, các
nước đang phát triển đều phải trả giá cho tiến trình hội nhập vì đều phải chấp nhận các điều
kiện để được nhận viện trợ. Các điều kiện này đôi khi không thể thực hiện được hoặc nếu
thực hiện được thì hậu quả về mặt xã hội mà nó gây ra còn to lớn hơn lợi ích mà nó mang
lại. Có các yêu sách để viện trợ đi ngược lại với lợi ích quốc gia hoặc không phù hợp với
đường lối phát triển kinh tế của quốc gia đó. Chính điều này đã khiến chính phủ nhiều nước
từ chối các khoản viện trợ do sức ép từ bên trong.
Với các lý do nêu trên, các nước đang phát triển luôn phải cân nhắc để vừa có thể tận dụng
tối đa các nguồn viện trợ lại không bị rơi vào nguy cơ lệ thuộc. Các nước đang phát triển
phải luôn có chính sách mềm dẻo và linh hoạt để tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ không
hoàn lại đồng thời sử dụng có hiệu quả nhất các khoản vay.
Các nước đang phát triển cần chọn lọc đúng các dự án có hiệu quả kinh tế, đảm bảo hoàn
vốn để có thể xây dựng lộ trình trả nợ hợp lý. Đồng thời đẩy mạnh các hình thức đầu tư
khác nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu thu ngoại tệ để trả nợ vì đôi khi lãi
suất vay thấp không đủ để bù lại những thiệt hại do sự thay đổi tỷ giá.
Vai trò của ODA đối với việc mở rộng thị trường của các nước cung cấp
Xu thế đầu tư quốc tế trong những năm cuối của thế kỷ đã cho thấy các khu vực thu hút đầu
tư mạnh mẽ không còn là các nước tư bản phát triển, thay vào đó là các nước đang phát
triển, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy việc cải tạo, đổi mới cơ sở hạ tầng
cũng như kiến trúc thượng tầng lên một trình độ phát triển cao hơn, tạo điều kiện cho đầu
tư có hiệu quả không còn là nhu cầu của riêng các nước đang phát triển mà nó đã trở thành
mong muốn của cả các nước phát triển, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá.
Nhu cầu mở rộng thị trường của các nước phát triển đang thúc đẩy các nước này đầu tư
mạnh mẽ vào các nước đang phát triển hơn bao giờ hết. Khi các nước đang phát triển có
một cơ sở hạ tầng phát triển ở một mức độ nhất định, một kiến trúc thượng tầng hoạt động
có hiệu quả thì các nhà đầu tư mới có thể yên tâm với các quyết định đầu tư trong tương lai
của mình. Để thúc đẩy đầu tư trực tiếp, các nước đang phát triển cần phải phát triển cơ sở
hạ tầng và hoàn thiện kiến trúc thượng tầng nhưng việc này lại rất khó thực hiện với nguồn
vốn hạn hẹp của các nước đang phát triển, đặc biệt là đầu tư cho cơ sở hạ tầng.
Ngoài ra, nguồn hỗ trợ ODA song phương tạo điều kiện thuận lợi cho nước viện trợ trong
việc củng cố vị thế chính trị cũng như kinh tế. ODA giúp các nước phát triển dễ dàng tìm
hiểu thị trường của các nước đang phát triển, vươn ra để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường,
khai thác tài nguyên phong phú và nhân lực dồi dào từ nước nhận viện trợ, tiêu thụ được
hàng hoá thông qua các điều kiện ràng buộc như buộc các nước nhận viện trợ phải mua
hàng, thiết bị, công nghệ có khi với giá cao hơn so với giá trên thị trường thế giới, ràng
buộc về tỷ lệ tham gia trong tổng trị giá dự án Ví dụ như Nhật bản, một đối tác song
phương lớn nhất thế giới về ODA, thì 1/2 kim ngạch ngoại thương năm 1997 là buôn bán
với các nước đang phát triển là những nước nhận ODA từ Nhật bản. Viện trợ ODA chính là
sự mở đường cho các loại hình đầu tư trực tiếp khác.
3. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
Từ sau năm 1990, kinh tế xã hội nước ta bắt đầu thay đổi, công cuộc xây dựng phát triển
kinh tế của chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp phải không ít khó khăn.
Trong bối cảnh như vậy, chúng ta đã biết phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua
những khó khăn và đã thu được thắng lợi trên tất cả các lĩnh vực. Những sự kiện nổi bật
của quan hệ đối ngoại có ý nghĩa quan trọng đối với hợp tác phát triển trong thời gian này
là:
Tháng 10 năm 1993, Việt Nam nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng
Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
Tháng 11 năm 1993, Hội nghị lần thứ nhất các nhà tài trợ cho Việt Nam họp tại Pari mở ra
giai đoạn hợp tác phát triển giữa nước ta với cộng đồng các nhà tài trợ. Từ đó đến nay đã có
6 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam được tổ chức.
Tháng 12 năm 1993, Hội nghị các nước thành viên Câu lạc bộ Pari ra khuyến nghị xoá và
giảm nợ cho Việt Nam.
Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mỹ xoá bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Tháng 8 năm 1994,
Thượng nghị viện Mỹ bãi bỏ lệnh cấm viện trợ cho Việt Nam áp dụng từ hơn hai thập kỷ
qua.
Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Ngày 7 tháng 4 năm 1997, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định về việc xử lý và cơ cấu lại số nợ
của Việt Nam với Mỹ và cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID). Đây là văn bản song
phương cuối cùng về xử lý nợ của Việt Nam với các nước trong khuôn khổ biên bản thoả
thuận khung tại Câu lạc bộ Pari
Tháng 4 năm 1999, Hội thảo quốc tế về quan hệ đối tác được tổ chức tại Hà Nội.
Do có sự đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư cùng với những chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước về việc cải thiện môi trường đầu tư, chúng ta đã thu hút được một lượng lớn
cả vốn đầu tư trực tiếp và vốn ODA vào Việt Nam. Những nguồn vốn này chủ yếu được
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nhà xưởng và máy móc thiết bị phục vụ cho việc
sản xuất, trong đó vốn ODA chủ yếu dành cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và chính là
biện pháp hiệu quả để thu hút đầu tư trực tiếp.
Sơ lược về tình hình vận động, cam kết và giải ngân ODA dành cho Việt Nam
Trong khi khẳng định nguồn nội lực giữ vị trí quyết định, Việt Nam hết sức coi trọng các
nguồn vốn nước ngoài. Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI, nguồn vốn hỗ trợ phát
triển chính thức ODA là đã đóng góp một nguồn vốn ngoại lực bổ sung hết sức quý báu góp
phần thay đổi mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, có những đóng góp quan trọng trong

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét