Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Lạm phát nguyên nhân và giải pháp

Lời nói đầu
Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ đối với một nền kinh tế hàng hoá
và hầu hết quảng đại quần chúng đã có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ
lạm phát ở những mức độ khác nhau, nhng để hiểu một cách chính xác lạm
phát là gì thì thật là không rễ. ở đây ta có thể hiểu một cách nôm na rằng lạm
phát là: lạm phát trong lĩnh vực lu thông tràn ngập khối lợng tiền thừa làm
cho tiền tệ ngày càng mất giá so vời toàn bộ các sản phẩm hàng hoá, vàng và
để lại những hậu quả hết sức trầm trọng cho nền kinh tế. Để có thể hiển sâu
hơn về lạm phát nên em đã chọn đề tài: "Lạm phát nguyên nhân và giải
pháp". Trong bài có gì còn thiếu sót mong các thầy cô giao xem xét và giúp
đỡ để em có thể hiểu thêm nhiều hơn về vấn đề này.
1
Chơng I
Khái niệm và nguyên nhân của lạm phát
I. Khái niệm lạm phát.
Lạm phát là một hiện tợng của tiền tệ, đợc biểu hiện ở sự mất giá
(giảm giá) của tiền tệ, mà sự mất giá của tiền tệ lại biểu hiện rõ rệt nhất ai
cũng thấy đợc là sự tăng giá bình quân của tất cả mọi thứ hàng hoá. Lạm phát
xảy ra khi giá cả mọi thứ hàng hoá, dịch vụ và chi phí đều tăng tuy với tốc độ
và tỷ lệ không đồng đều, thứ tăng nhanh, thứ tăng chậm, thứ tăng nhiều, thứ
tăng ít, nhng nói chung mọi thứ đều tăng giá.
Trong nền kinh tế thị trờng dù là tiền vàng hay tiền giấy đều có thể bị
mất giá. Tiền vàng (tiền đúc bằng vàng hay tiền giấy đổi đợc lấy vàng theo
tiêu chuẩn giá cả đã đợc Nhà nớc quy định làm đơn vị tiền tệ) bị mất giá
vàng hạ xuống và lên giá khi giá vàng cao lên.
Tiền giấy không đổi đợc lấy vàng nếu bằng số lợng vàng cần thiết cho
lu thông






=
V
PQ
M
thì giá trị đại diện vàng của tiền giấy không thay đổi, giá
cả hàng hoá vẫn ổn định, sức mua của tiền giấy vẫn ổn định. Nếu Nhà nớc
phát hành ra một lợng tiền giấy lớn hơn lợng vàng cần thiết cho lu thông






>
V
PQ
M
thì giá trị đại diện vàng của mỗi đơn vị tiền giấy nhỏ đi, phải có
một lợng tiền giấy nhiều hơn trớc mới mua đợc một lợng hàng hoá nh trớc.
Trên thế giới từ xa đến nay chỉ có lạm phát tiền giấy, không hề có lạm
phát tiền vàng. Bởi vì, trong chế độ lu thông tiền vàng nếu khối lợng tiền
vàng vợt quá nhu cầu lu thông thì phần thừa sẽ tự động rút ra khỏi lu thông
để làm phơng tiện cất trữ. Tiền vàng không mất giá trong trờng hợp này.
2
Trong chế độ lu thông tiền giấy, thì mỗi khi phát hành nó vào lu thông quá
mức, nó không tự động rút ra khỏi lu thông đợc.
Trớc năm 1971 loại tiền giấy đổi đợc lấy vàng của những nớc giàu có
nh Đô la Mỹ, bảng Anh, yên Nhật Bản, Frăng Pháp đợc coi nh tiền vàng,
quan hệ giữa các loại tiền này với nhau đều tính theo tỷ giá cố định bằng
vàng. Từ năm 1950 trở đi, các đồng tiền này đợc phát hành quá mức, dự trữ
vàng của các Chính phủ phát hành ra chúng không tơng xứng, các đồng tiền
mạnh kể trên bị phá giá (hạ tiêu chuẩn giá cả) hàng loạt, cuối cùng đến năm
1971, đô la mỹ phải đình chỉ đổi ra vàng trên toàn thế giới và trong mọi giao
dịch. Những đồng tiền này trở thành tiền giấy nh mọi đồng tiền giấy khác.
Tóm lại lạm phát là hiện tợng phát hành thừa tiền giấy so với lợng tiền
cần thiết cho lu thông làm cho giá cả, mọi thứ hàng hoá tăng lên. Lạm phát
càng cao thì đồng tiền càng bị mất giá nhiều.
Khi giả cả nói chung đều hạ xuống thì có nghĩa là lạm phát giảm, gọi
tắt là giảm phát.
II. Phân loại
Ngời ta phân biệt có ba mức khác nhau: lạm phát vừa phải, lạm phát
phi mã và siêu lạm phát.
2.1. Lạm phát vừa phải.
Khi giả cả tăng chậm, dới 10%/năm. Còn gọi là lạm phát một con số
(từ 1% đến 9%/năm).
Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tơng đối không khác mức
bình thờng bao nhiêu; lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa chênh lệch nhau
không đáng kể, tiền giữ đợc phần lớn giá trị của nó từ năm này qua năm
khác, những kế hoạch dự đoán tơng đối ổn định không bị xáo trộn. Dân
chúng yên tâm không lo tiền mất giá, không mất nhiều thời gian tìm cách
3
tiêu tiền đi vì lãi suất thực tế không quá thấp hơn lãi suất danh nghĩa và số
chênh lệch giữa lãi suất thực tế với lãi suất danh nghĩa gần bằng nhau.
2.2. Lạm phát phi mã.
Là loại lạm phát khi giá cả tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số nh 20%,
100%, 300% một năm. Khi lạm phát phi mã kéo dài sẻ nảy sinh những biến
dạng nghiêm trọng cho nền kinh tế. Đồng tiền mất giá nhanh chóng, nhân
dân tránh giữ nhiều tiền mặt mà tích trữ hàng tiêu dùng, cho vay với lãi suất
cao hơn bình thờng, hoặc không cho vay mà đem mua vàng đô la, nhà, đất.
Đồng tiền mất giá nhanh chóng, nên các hợp đồng ký kết đều tính bằng hiện
vật hay ngoại tệ mạnh. Trong khi lãi suất danh nghĩa rất cao thì lãi suất thực
tế xuống tới âm 50% hoặc âm 100%.
2.3. Siêu lạm phát.
Siêu lạm phát là thời kỳ có mức lạm phát rất lớn. Nếu trong lạm phát
phi mã, nền kinh tế có vẻ còn sống sót đợc (mặc dù không ổn định) thì trong
siêu lạm phát, nền kinh tế xem nh đang đi dần vào cõi chết. Khi mua sắm lặt
vặt ngời ta phải mang tiền trong những chiếc xe đẩy. Bọn kẻ cắp thờng lấp
cắp xe đẩy và vứt tiền lại không thèm nhặt.
Trong thời kỳ siêu lạm tốc độ chu chuyển tiền tăng nhanh ghê gớm. ở
Đức cuối thời kỳ siêu lạm phát tốc độ chu chuyển tiền tăng 30 lần so với trớc.
III. Nguyên nhân
3.1. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát
- Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến lạm phát, song dù có
những sự khác nhau nh thế nào đi nữa thì cấc cuộc lạm phát đều có những
nguyên nhân có tính chất chung đó là:
+ Những nguyên nhân có liên quan đến chính sách của nhà nớc nh:
Chính sách tiền tệ và tài chính của nhà nớc, phát hành tiền đáp ứng các nhu
4
cầ chi tiêu của nhà nớc quá mức, định mức cho vay và lãi suất thấp hơn mức
lạm phát, chính sách thuế không hợp lý, không đảm bảo đợc các nguồn thu
chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý khuyến khích các ngành có chi phí
cao kém hiệu quả phát triển.
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các chủ thể kinh doanh làm
tăng chi phí tiền lơng, nguyên nhiên liệu
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện quốc tế: Chiến
tranh, giá dầu mỏ tăng
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện tự nhiên: Thiên
tai, động đất
Tuỳ theo các điều kiên cụ thể mà có thể có những cuộc lạm phát bắt
nguồn từ một hoặc hai nguyên nhân.
3.2. Những hậu quả của lạm phát
Qua thực tế của lạm phát ta thấy rằng hậu quả của nó để lại cho nền
kinh tế là rất trầm trọng, nó thể hiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là
một số hậu quả sau:
- Xã hội không thể tính toán hiệu qủa hay điều chỉnh các hoạt động
kinh doanh của mình một cách bình thờng đợc do tiền tệ không còn giữ đợc
chức năng thớc đo giá trị hay nói đúng hơn là thớc đo này bị co giãn thất th-
ờng.
- Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nớc điều tiết
nền kinh tế đã bị vô hiệu hoá, vì tiền mất giá nên không ai tin vào đồng tiền
nữa, các biểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm
phát và do vậy tác dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế, ngay cả trờng hợp
nhà nớc có thể chỉ số hoá luật thuế thích hợp với mức lạm phát, thì tác dụng
điều chỉnh của thuế cũng bị hạn chế.
5
- Phân phối lại thu nhập làm cho một số ngời nắm giữ các hàng hoá
có giá cả tăng đột biến giầu lên nhanh chóng và những ngời có các hàng hoá
mà giá cả của chúng không tăng hoặc tăng chậm và ngời giữ tiền bị nghèo đi.
- Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạc
gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thờng và lãng phí.
- Xuyên tạc, bóp méo các yếu tố của thị trờng làm cho các điều kiện
của thị trờng bị biến dạng. hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá
cả hàng hoá, giá cả tiền tệ, giá cả lao động một khi những giá cả này tăng
hay giảm đột biến và liên tục , thì các yếu tố của thị trờng không thể tránh
khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo.
- Sản xuất phát triển không đều, vốn chạy vào những ngành nào có
lợi nhuận cao.
- Ngân sách bội chi ngày càng tăng trong khi các khoản thu ngày
càng giảm về mặt giá trị.
- Đối với ngân hàng, lạm phát làm cho hoạt động bình rhờng của
ngân hàng bị phá vỡ, ngân hàng không thu hút đợc các khoản tiền nhàn rỗi
trong xã hội.
- Đối với tiêu dùng: làm giảm sức mua thực tế của nhân dân về hàng
hoá tiêu dùng và buộc nhân dân phải giảm khối lợng về hàng hoá tiêu dùng,
đặc biệt là đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng khó khăn.
Chính vì các tác hại trên của lạm phát nên việc kiểm soát lạm phát và
giữ lạm phát ở mức độ vừa phải đã trở thành một trong những mục tiêu lớn
của mọi nền kinh tế hàng hoá. Và nó là một công cụ đắc lực giúp điều tiết và
phát triển kinh tế một cách hiệu quả.
6
Chơng II
Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về
lạm phát ở việt nam qua một số thời kỳ
I. Giải pháp đối phó với lạm phát.
Các giải pháp đối phó với lạm phát nói chung cúng chỉ nhằm hai mục
tiêu chính đó là rút bớt lợng tiền thừa trong lu thông và gia tăng số lợng hàng
hoá để đáp ứng nhu cầu của dân chúng. Những giải pháp mà các nớc thờng
áp dụng để đối phó với lạm phát là:
- Chính sách tiền tệ.
Chính sách này đợc thực hiện theo hớng thắt chạt cung ứng tiền tệ.
- Chính sách chi - thu ngân sách.
+ Tiết kiệm chi ngân sách, nâng cao hiệu quả thu ngân sách và hạn chế
tình trạng bội chi ngân sách.
- Chính sách giá cả.
Nhà nớc thực hiên chính sách kiểm soát giá cả đối với các lĩnh
vực:nông sản, công nghiệp, thơng nghiệp, nhập khẩu và dịch vụ.
- Chỉ số hoá tiết kiệm.
ở biện pháp này có hai ý kiến đối lập nhau. Một ý kiến cho rằng chỉ số
hoá tiền để dành có thể coi là một vũ khí chống lạm phát có hiệu lực. ý kiến
khác lại cho rằng biện pháp này làm cho lạm phát bùng nổ mạnh mẽ hơn. để
khắc phục nhợc điểm các nàh kinh tế đa ra các kiến nghị sau:
+ Không nên chỉ số hoá tất cả các khoản nợ, mà chỉ nên chỉ số hoá các
khoản nợ có tính chất ổn định.
7
+ Các khoản nợ không ổn định, từng định kỳ đợc đánh giá lại cả vốn
và lãi theo tỷ lệ diễn biến giá sinh hoạt.
- Chính sách thu nhập.
Bao gồm các loại sau.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất quy định, tức là nhà nớc tham
gia tối đa vào việc xác định các khoản thu nhập một cách đơn phơng.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất hợp đòng dựa trên sự thoả thuận
giữa các thành phần xã hội.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất hớng dẫn.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất khuyến khích, đang có xu hớng
áp dụng xuấng tận xí nghiệp, cho quyền chủ và công nhân tự ra quyết định về
chính sách thu nhập.
- Chính sách tỷ giá.
Việc áp dụng chính sách tỷ giá có sự kiểm soát chặt chẽ, đợc hỗ trợ
bằng cánh tung dự trữ ngoại hối ra để duy trì tỷ giá ngày càng CM tính hữu
hiệu của nó tronh việc kiềm chế lạm phát. tuy nhiên cần phải phục hồi ngay
dự trữ ngoại hôi sau mỗi cuộc khủng hoảng.
- Nhập khẩu
Biện pháp này có tính cấp thời để đa vào thị trờng trong nớc các mặt
hàng đang thiếu hay lên gíatuy nhiên nó có một số tác hại.
+Số vàng và ngoại tệ dự trữ của QG bị hoa hụt.
+Vay nợ nớc ngoài nhiều do kinh tế kiệt quệ.
+Tạo cho dân chúng thói quen tiêu thụ hàng ngoại nhập.
- Gia tăng sản xuất các mặt hàng trong nớc.
Biện pháp này là biện pháp cơ bản trong chiến lợc chống lạm phát,
nhằm tăng hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế.
8
II. Thực tế lạm phát ở việt nam
ởViệt Nam xét dới góc độ quan điểm và chính sách đối với vấn đề
lạm phát có thể chia diễn biến quá trình này ở việt nam thành bốn thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất , từ năm 1976 đến năm 1980: là thời kỳ đợc coi là
không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến trong các nớc xã
hội chủ nghĩa đơng thời và không đợc phản ánh trong các thống kê chính
thức .Tuy nhiên, trên thực tế ở việt nam khi đó vẵn có lạm phát, thể hiện ỏ sự
khan hiếm hàng hoá ,dịch vụ và sự giảm sút của chúng, đồng thời đợc hi
nhận trong sự diễn biến gia tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng
trên thị trờng xã hội trên dới 20% trên một năm và đó là lạm phát của nền
kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế , nơi độc
quyền nhà nớc còn mang đậm tính chất phi kinh tế và đợc dung dỡng bởi các
chỉ thị của nhà nớc và tồn tại thống trị phổ biến trong tất cả các lĩnh vực. Vào
thời kỳ này khu vực kinh tế nhà nớc chiếm khoảng 85 - 87% vốn cố định,
95% lao động lành nghề mà chỉ tạo ra 30 37% tổng sản phẩm xã hội.
Trong khi đó khu vực kinh tế t nhân chỉ chiếm 13,2% sức lao động xã hội và
suốt thời kỳ dài trớc năm 1986 bị nhiều sức ép kiềm chế , xong lại sản xuất ra
tới 32 43% tổng sản phẩm xã hội và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với
khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã.
Mặt khác lạm phát ở việt nam diễn ra trong suốt nền kinh tế đóng
cửa phụ thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài.Trên thực tế , trớc năm
1988không có đầu t trực tiếp của nớc ngoàI vào Việt Nam. Các biên giới đều
bị khép lại với chế độ xuất nhập cảnh cũng nh lu thông hàng hoá rất nghiêm
ngặt, phiền phức .Cơ cấu chủ yếu có tính hớng nội ,khép kín ,thay thế hàng
nhập khẩu và không khuyết khích xuất khẩu . Cùng với chính sách định hớng
phát triển và đầu t có nhiều bất cập , nên cơ cấu kinh tế việt nam bị mất cân
đối và không hợp lý nghiêm trọng giữa công nghiệp nông nghiệp , công
nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, nhất là ngành sản xuất hàng tiêu dùng , giữa
9
sản xuất dịch vụ .Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng
hoá, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân sách chiền miên , tăng
mức cung tiền không tuân theo quy luật lu thông tiền tệ và do đó gy ra lạm
phát .
- Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ từ năm 1981 đến năm 1988: là thời kỳ
lạm phát chuyển từ dạng ẩn sang dạng mở.Thực tế cho thấy rằng từ năm
1981 đến năm 1988 chỉ số tăng giá đều trên 100% một năm . Vào năm 1983
và 1984 đã giãm xuống, nhng năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất là
557% sau đó có giảm. Nhu vậy mức lạm phát cao và không ổn định . song
vấn đề lạm phát cha đợc thừa nhận trong các văn kiện chính thức. Vấn đề này
chỉ đợc quy vào sử lý các khía cạnh giá - lơng- tiền, mà lại chủ yếu bằng các
giải pháp hành chính ,nh xem xét và đIều chỉnh đơn giản giá cả trong khu
vực thị trờng có tổ chức những năm 1981 ,1983,1987,vàbù vào giá lơng dổi
tiền năm 1985 Đây là thời kì xuất hiện siêu lạm phát với 3 chữ số kéo dài
suốt 3 năm 1986-1988,và đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại nớc
ta suốt nửa thế kỉ nay
- Thời kỳ th ba, từ tháng 5-1988 đến năm 1991 là thời kỳ mà lần đầu
tiên lạm phát đợc chính thức đợc thừa nhận bằng nghị quyết số 11 của uỷ ban
trung ơng đảng cộng sản việt nam về đấu tranh với lạm phát. Ngay sau quyết
định ra đời, những chơng trình chống lạm phát đợc soạn thảo ở nhiều cơ quan
thuộc nhiều cấp , các ngành khác nhau. Có nhiều dự án ra đời. Các biện pháp
chống lạm phát đợc gắn với quá trình đổi mới, tực hiện các cải cách thị trờng
ở việt nam. Song chúng mới ở dạng thử nghiệm , cha đồng bộ, ngập ngừng,
lúc tiến lúc lùi với những đợt sốc nhỏ, đã thu đợc thành công đáng kể năm
1989 , sau đó bị trững lại do tình hình trong nớc và quốc tế biến động mạnh.
- Thời kỳ thứ t :Từ cuối năm 1991 đến nay:
Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên thị tr-
ỡngã hội trong thời kỳ 1976 - 1998
10
Ta thấy rằng nếu biểu diễn sơ đồ tốc độ lạm phát suốt thời kỳ 1976-
1998 ta thấy động thái của lạm phát có dạng hình sin lớn đợc hình thành từ
chuỗi hình hình sin nhỏ nội hàm. Về cơ bản, thời kỳ 1976 đến 1986 là thời
kỳ lạm phát tăng liên tục nhng không đều và đạt đỉnh cao nhất vào năm 1986.
sau đó là sụt giảm với hai nấc thời điểm ghi nhận rõ rệt là năm 1989 và năm
1992. Điểm thấp nhất của lạm phát đợc ghi nhận vào năm 1997.song kể từ
năm 1998, áp lực lạm phát đã bắt đầu ra tăng mạnh, đồ thị lạm phát đã bắt
đầu ngóc lên xấp xỉ10% cho cả năm 1998 tức là gần bằng năm 1995. Xu h-
ớng ra tăng lạm phát sẽ còn kéo dài cùng với sự ra tăng sc ép khủng hoảng tài
chính - tiền tệ khu vực đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam. Cũng nh cùng
với sự chậm trễ giải quyết các vấn đề do khủng hoảng và yêu cầu cải cách
kinh tế bên trong dặt ra cho việt nam. Tuy vậy, có thể khẳng định đợc răng,
Năm
Tốc độ giá cả
năm
Năm
Tốc độ cả
năm
1976 1988 308,2
1977 1989 134,7
1978 1990 167,5
1979 1991 167,6
1980 1992 117,4
1981 1993 105,2
1982 1994 114,5
1983 1995 112,7
1984 1996 104,5
1985 1997 103,8
1986 1998 108,2
1987 (đến 30/10/98)
11
kể từ năm 1992, lạm phát ở việt nam đã thực sự vợt qua tình trạng bất
kham để đạt tới trạng thái ôn hoà và bị kiềm chế khá chủ động và vững
chắc từ phía chính phủ
12
III - Kết luận
Lạm phát là một vấn đề trung tâm và nhậy cảm hàng đầu của đời sống
kinh tế- xã hội cả ở cấp quốc gia và quốc tế. Với t cách là kết quả tổng hoà
của các chính sách kinh tế xã hội vĩ mô, cũng nh các hoạt động kinh
doanh vi mô trong sự hoà quện và ảnh hởng tơng tác với bối cảnh chung của
nền kinh tế khu vực và thế giới, lạm phát đến lợt mình đã có sự tác động gián
tiếp hoặc trực tiếp , nhanh hoặc chậm, tích cực hoặc tiêu cực, ở mức đọ này
hay mức độ khác đến toàn bộ các lĩnh vực và khía cạnh hoạt động của chính
phủ, doanh nghiệp và cá nhân. Nói chung khi nói tới lạm phát là nói tới sự
tác động mạnh mẽ của nó tới nền kinh tế, sự tác động đó luôn luôn biến đổi
và ở một khía cạnh nào đó thì lạm phát là một động lực để phát triển nền
kinh tế.
Trong khuôn khổ một bài tiểu luận ở mức độ Đại học, với kiến thức
đợc trang bị ở trờng và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, nên bài tiểu luận
của em chỉ dừng lại ở một số vấn đề lí luận cơ bản về lạm phát và mong
muốn vận dụng những hiểu biết này để phân tích bài tiểu luận đợc tốt. Hy
vọng ở những nghiên cứu tiếp theo trong quá trình học tập, em sẽ có những ý
tởng sâu sắc và phong phú hơn.
13
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Tài chính của Trờng Đại học Quản Lý & Kinh
Doanh Hà Nội.
Tác giả: PGS:Lê Thế Tờng
2. Lý thuyết lạm phát, giảm phát và thực tiễn ở Việt Nam.
Tập thể tác giả: PTS: Nguyễn Minh Phong
TS: Võ Đại Lợc
TS: Nguyễn Thị Hiền
Và một số tác giả khác.
3. Tạp chí Thông tin kinh tế kế hoạch" tháng 5-1993 - trang 13.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét