Vấn đề:
Chứng minh mức độ hoàn chỉnh của quan hệ sản xuất phong
kiến dựa trên quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất thời Lê sơ
(thế kỷ XV)?
I. Mở đầu
Để chứng minh được ở thời Lê sơ, quan hệ sản xuất phong kiến dựa
trên quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất đã đạt được mức độ hoàn chỉnh, cần
phải phân tích và làm rõ được những vấn đề như: nhà vua nắm quyền sở hữu
tối cao về ruộng đất, nhà vua phải thiết lập được mối quan hệ thống trị cũng
như mối quan hệ với toàn bộ thần dân trong nước của mình, và ban hành luật
pháp để pháp lý hóa toàn bộ ruộng đất,…
Chỉ thể làm rõ được những vấn để trên ta mới thấy rõ được sự phát triển
đỉnh cao của thời Lê sơ đã dựa trên những cơ sở nào để phát triển và sẽ thấy
được mối liên hệ hữu cơ giữa những chính sách mà nhà nước trung ương đã đề
ra sẽ đem lại những ảnh hưởng cũng như những hệ quả cho các triều đại sau.
II. Nội dung
1.Quyền sở hữu ruộng đất tối cao thuộc về tay nhà vua
Sau khi lên ngôi vua, Lê Thánh Tông đã tiếp tục nối bước theo các vị
vua trước, ra sức củng cố chính quyền cũng như cải cách lại đất nước sau hơn
40 năm kể từ khi Lê Thái Tổ đánh bại quân Minh xâm lược.
Để đảm bảo cho quyền lực của mình, nhà vua đã ban hành những chính
sách cai trị tối cao và những nguyên tắc luật pháp nghiêm minh. Trước hết, Lê
Thánh Tông đã ra sức xây dựng lại bộ máy chính quyền nhằm đảm bảo quyền
lực tối thượng cho nhà vua. Nhà vua cho xây dựng hệ thống pháp luật (luật
Hồng Đức), cải cách nền giáo dục, ngoài ra nhà vua còn là người nắm quyền
vô hạn về quân đội. Trong những chính sách đó, vua Lê Thánh Tông còn chú
ý đến chính sách kinh tế - ruộng đất, vì đây là cơ sở để nuôi sống bộ máy
thống trị thời phong kiến.
Ngay từ khi giành được độc lập, Lê Lợi lên ngôi vua cũng đã đặt ra
nhiều chính sách ruộng đất nhằm mục đích tập trung sự quản lý của nhà nước
cùng với các nguyên do khác:
Thứ nhất, đề hạn chế sự phân tán, cát cứ của các thế lực giai cấp địa
chủ, quý tộc. Nhà nước dần dần xóa bỏ những cơ sở điền trang, thái ấp đã tồn
tại từ thời Lý – Trần, mà thay vào đó là chế độ lộc điền và quân điền
Với chính sách lộc điền: Nhà nước phong cấp cho những bậc khai quốc
công thần hay cho những tướng lĩnh có công lao lớn đối với triều đình. Nhưng
với chính sách này, không những nhà vua nắm được quyền tối thượng về ruộng
đất mà còn hạn chế được sự phân tán ruộng đất. Lộc điền là nhà vua chỉ phong
cấp cho người thân quốc thích và bộ phận quan lại cấp cao theo quy định thứ,
1
bậc, cấp hàm từ trên xuống. Lộc điền được ban cấp bao gồm nhiều loại ruộng
đất: thế nghiệp điền, thế nghiệp thổ, bãi dâu, tư điền, bãi dâu, tế điền,… Nhưng
với chế độ ban cấp này, thì người được ban cấp chỉ có thể có toàn quyền sở hữu
vĩnh viễn và truyền cho con cháu đời sau loại ruộng tư điền. Còn các loại ruộng
khác thì người được ban cấp chỉ được sử dụng tạm thời và phải trả lại cho nhà
nước sau khi người đó qua đời. Do đó, phần đất hưởng vĩnh viễn theo thực tế
rất ít so với phần đất được sử dụng tạm thời. Điều đó cho thấy, mặc dù nhà vua
đề ra những chính sách rất hậu cho bộ phận quan lại nhưng cuối cùng quyền sở
hữu lơn về ruộng đất vẫn nằm trong tay nhà vua.
Còn với chính sách quân điền: Nhà vua tiến hành chia ruộng xuống cho
mỗi thành viên trong làng xã theo phép quân điền “bình quân ruộng đất”, do
đó làng xã bấy giờ chỉ có quyền giúp nhà vua quản lý ruộng đất chứ không
còn được quyền tự trị nữa, vì theo pháp luật nhà nước ban hành có những quy
định các quyền về ruộng đất: quyền sở hữu, quyền thừa kế, quyền tranh chấp.
Nếu như ai làm trái thì sẽ bị phạt nặng. Do đó, mọi người đều phải tuân thủ
nghiêm túc luật lệ nhà nước.
Bên cạnh đó, nhà vua còn xiết chặt thân phận người nông dân vào ruộng
đất công làng xã bằng việc tăng cường thuế khóa - là cơ sở cho sự tồn tại của
nhà nước phong kiến, bằng những qui định “hễ người nào có ruộng đất mà
không dốc lòng cày cấy thì quan tư cai quản phải bắt trình trị tội”. Nhà vua còn
cho lập sổ hộ, sổ điền để nhằm thống kê số lượng ruộng đất và số lượng hộ gia
đình ở mỗi làng xã để biết được tình hình ruộng đất và mức sản xuất.
Ngoài ra, với chế độ thuế khóa, lao dịch được thiết lập trên mối quan hệ
vua – làng xã, thì mối quan hệ giữa chính quyền trung ương ngày càng chặt
chẽ hơn. Nhà vua xây dựng bộ máy hành chính ràng buộc lẫn nhau, không
chồng chéo nhưng vẫn thống nhất từ chính quyền trung ương cho tới địa
phương mà nhà vua có thể kiểm soát được.
Như vậy, nhà nước trung ương, tiêu biểu là nhà vua đã vươn lên thành
người chủ trực tiếp nắm trọn quyền sở hữu tối cao về ruộng đất đến công làng xã.
2. Sự ràng buộc giữa nhà nước và quan lại trên cơ sở chế độ lộc điền
Song song với quá trình xây dựng bộ máy chính quyền, nhà vua còn ra
sức cải cách bộ máy quản lý hành chính, hệ thống quan lại để nhằm thâu tóm
quyền hành thống trị tối cao cho mình. Lê Thánh Tông đã đơn giản hóa một
số cơ quan giúp việc cho nhà vua và một số chức quan quan trọng như: tể
tướng, tổng chỉ huy quân đội
Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông còn thực hiện những chính sách khác
nhằm cai quản và kiểm soát chặt những cận thần quan lại giúp việc cho nhà
nước bằng chính sách ban cấp ruộng đất, đó là nhà nước thiết lập mối quan hệ
giữa vua – quan lại trên cơ sở chế độ lộc điền.
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tiến hành cải tổ bộ máy quan liêu cho
hoàn chỉnh.
2
Năm 1477, nhà vua ban hành chính sách lộc điền, quy định về chế độ
quyền lợi cho các tầng lớp quan liêu, quý tộc.
Với cuộc cải cách này thì đa số quan lại trong triều đều được hưởng
tiền bổng lộc hàng năm theo quy định cấp bậc từ trên xuống. Riêng những
quan lại cao cấp từ quan tòng tứ phẩm trở lên cho đến những người thân
thuộc của nhà vua thì được ban cấp ruộng lộc điền, và nếu ruộng lộc điền ban
cấp không trọn vẹn thì nhà vua còn cho phép lấy cả đất công làng xã thêm
vào, nhưng không lấy đất công làng xã ở nơi cư ngụ của người được cấp, mà
phải lấy ở đất công của làng xã khác để tránh tình trạng tập trung ruộng đất
của địa chủ, quan lại “các viên quan từ tứ phẩm trở lên, người nào đã được
cấp ruộng ở xứ khác rồi thì không cấp cho ruộng khẩu phần ở bản xã nữa,
người nào chưa được cấp thì lấy ruộng khẩu phần ở bản xã , chiếu theo lệ cấp
cho”.
Chế độ lộc điền ban cấp ruộng đất cho quan lại, hoàng tộc theo những
quy tắc nhất định rõ ràng. Người được cấp là những quan lại cao cấp từ thân
vương cho đến tòng tứ phẩm, những người thân thuộc và nữ quan thân cận
trong triều. Do đó lộc điền chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị mà thôi.
Nhưng để ràng buộc giữa nhà nước với quan lại được chặt chẽ vào bộ
máy thống trị mà bọn quan lại này không thể làm loạn hay phân tán, cát cứ
chống lại triều đình. Nhà vua tiến hành ban cấp ruộng đất, nhưng cũng quy
định 2 loại ruộng đất được quyền sử dụng, đó là; loại ruộng ban cấp vĩnh viễn
trở thành tư điền, (còn gọi là đất thế nghiệp, ruộng thế nghiệp), nhưng phần
ban cấp này chỉ ít so với phần lớn là loại ruộng được ban cấp tạm thời, tức
người được cấp chỉ có quyền chiếm giữ và sử dụng chứ không có quyền bán
đi hay chiếm hữu sử dụng lâu dài, vì sau khi người được cấp chết đi 3 năm thì
phải trả đất ấy lại cho nhà nước.
Ví như theo thể lệ ban cấp ruộng đất (năm 1479) cho một thân vương
và một quan lại đại thần có cấp hàm là chánh nhất phẩm như sau:
Chức
tước
Thế
nghiệp
điền
Thế
nghiệp
thổ
Tư
điền
Bãi
dâu
Đầm
(ban
bằng
tiền)
Tế
điền
Thân
vuơng
600
mẫu
40
mẫu
1000
mẫu
150
mẫu
80
quan
300
mẫu
Chánh
nhất
phẩm
18
mẫu
100
mẫu
30
mẫu
70
mẫu
Nhìn vào thể lệ chia ruộng đất như trên, rõ ràng là ruộng đất chiếm hữu
thì ít hơn rất nhiều so với ruộng đất được quyền sở hữu. Do đó, người đứng
3
đầu nhà nước là vua vẫn là người nắm trọn quyền sở hữu ruộng đất tối cao, và
nhà vua có thể kiểm soát được diện tích đất đai rộng lớn trong cả nước cũng
như giám sát được quan lại của mình, xiết chặt mối quan hệ vua – quần thần.
Thực chất của chế độ lộc điền chính là nhà nước chiếm đoạt ruộng đất
của nông dân đã giành lại được trong chiến tranh chống giặc Minh, mà đem
cấp cho tầng lớp thống trị mới và đặt ách bóc lột mới lên người nông dân.
Theo thể lệ quy định năm 1477, nếu như một thân vương được cấp cả thảy
ruộng đất là 2090 mẫu, nhưng trong đó thân vương chỉ sở hữu được 640 mẫu là
đất vĩnh viễn, còn lại là ruộng đất tạm thời, thuộc quyền quản lí của nhà vua.
Hơn nữa, với chế độ ban cấp ruộng lộc điềnn, nhà nước ngăn cản và
xóa bỏ được từng bước những điền trang, thái ấp, cũng như xóa bỏ chế độ
thực phong, thực ấp đã tồn tại từ thời Trần. Cấp lộc điền là nhà vua chỉ câsp
ruộng đất cho quan lại chứ không bao gồm nông dân trên mảnh đất ấy, người
được cấp chỉ có quyền hưởng dụng bằng cách thu tô để lấy lộc mà hưởng, còn
nông dân cày ruộng vẫn là thần dân của nhà vua. Vì vậy, điền trang biệt lập
của quan lại sẽ không được hình thành. Chế độ phong kiến có sự phân tán ở
thời Lý – Trần nay đã chuyển sang giai đoạn tập quyền hoàn toàn, chế độ thực
phong, thái ấp cũng nhường chỗ cho chế độ lộc điền.
Có thể nói, lộc điền là sản phẩm tiêu biểu cho thời kỳ đỉnh cao của nhà
nước phong kiến trung ương tập quyền ở nước ta, thời Lê sơ.
3.Sự phá vỡ tính tự trị của công làng xã bởi sự can thiệp của chính quyền
trung ương trên cơ sở chính sách quân điền
Tính tự trị của làng xã trước thời kỳ phong kiến phát triển cao độ có
phần thoáng hơn. Trong các làng xã đa phần những công việc nội bộ cũng do
các làng xã giải quyết (phân xử các vụ tranh chấp, chia ruộng đất công…),
nhà nước không thể với tay xuống được làng xã, bởi thế nói “phép vua thua lệ
làng” là như vậy.
Ở thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc đã hình thành chế độ ruộng đất chiếm
hữu của các tù trưởng bộ lạc và người thủ lĩnh đứng đầu lãnh đạo. Nhưng mối
quan hệ còn rất lỏng lẽo, sơ sài. Vì thời kỳ đó, công xã nông thôn chỉ biết nộp
cống hay lao dịch cho những người đứng đầu ở bộ phận quản lý các làng xã
như các Lạc tướng, Lạc hầu. Sau đó, các Lạc tướng, Lạc hầu mới chuyển
cống phẩm và lao dịch lên nhà vua, hay người nắm quyền lực tối cao.
Mặc dù ở địa phương ruộng đất đã nằm trong tay những người có
quyền lực cao, nhưng thực chất họ không quan tâm đến mà thường giao lại
cho các tù trưởng, hay thủ lĩnh địa phương cai quản và sau khi đến mùa vụ
hay kỳ hạn thì tù trưởng nộp về trên.
Kết quả thặng dư tạo ra sản phẩm chính là sự hợp sức của một tập thể
công làng xã, tất cả những thành viên công xã phải ra sức cày cấy để nộp cống.
Có thể nói mối quan hệ giữa trung ương và địa phương thời kỳ này thì làng xã
4
được quyền tự trị rất cao, nhưng phải có trách nhiệm thần phục nhà vua, và triều
đình chỉ biết đến tập thể công xã chứ không biết đến thành viên công xã.
Với phương thức “khoán đất”, thông qua tù trưởng để nô dịch nông dân
đã tồn tại và kéo dài đến thời kỳ đầu của chế độ phong kiến như một tập quán
phổ biến, nhưng chế độ phong kiến dần dân xác lập và hình thành thì với sự
can thiệp của nhà nước trung ương, làng xã mới được tổ chức có quy mô và
ngày càng chặt chẽ hơn.
Đến thời Lê sơ thì việc kliểm soát đã xuống tận các làng xã và mỗi
thành viên công xã, để thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ và có tổ chức hơn
tình hình đất đai và cư dân ở địa phương. Nhà vua ban hành chính sách pháp
luật với quy định rõ ràng, đã phá vỡ đi hệ thống luật tục của làng xã trước kia,
pháp luật nhà nước từng bước len lỏi, ảnh hưởng xuống tận địa phương.
Triều đình đặt các chức xã quan ở tận đơn vị cơ sở. Bên cạnh đó, chính
quyền nhà vua với tay xuống làng xã thông qua chính sách quân điền (chính
sách bình quân ruộng đất). với chính sách này đã tích cực trong việc giúp
triều đình quản lý đất đai và dân số của địa phương được chặt chẽ và chính
xác hơn. Đồng thời với quá trình ấy cũng đã để lại một hệ quả to lớn, làng xã
đã dần dân mất đi tính tự trị của mình, công việc nội bộ của làng xã cũng do
triều đình giải quyết thông qua hệ thống quan lại, cơ sở quản lý làng xã bằng
luật tục hầu như bị giảm đi mà thay vào đó là pháp luật nhà nước. Làng xã
thực sự đã chịu sự chi phối của triều đình duới thời Lê sơ.
Thông qua chính sách quân điền, thì nhà nước cũng đã kiểm soát được
làng xã dựa trên những nhân tố chủ yếu sau: Từ năm 1477, vua Lê Thánh
Tông chính thức ban hành chính sách quân điền với thể lệ rõ ràng:
“Các xã công điền cứ 6 năm một kỳ, các quan phủ, châu, huyện phải
thân hành kiểm xét lại việc đo đạc, tùy theo số ruộng nhiều ít, tố xấu chia làm
3 hạng: nhất, nhị, tam rồi thống kê các hạng quan viên kể cả người có tang,
dưỡng bệnh, ở nhàn đến vợ con những người bị lưu, đồ trong xã là bao nhiêu
người, tính ra mỗi hạng người được bao nhiêu, ruộng nhiều thì chia theo mẫu,
ruộng ít thì chia theo sào, thước, tấc, theo hạng chia đều, trưng tô theo lệ”.
Như vậy, tất cả mọi người từ nông dân tự do, người bị tội đồ, lưu cho
đến quan tam phẩm đều được hưởng ruộng khẩu phần ở làng xã, và binh lính
là những người được ưu đãi nhất trong phép quân điền.
Với việc 6 năm chia lại ruộng đất theo phép quân điền, không những
nhà nước đã trực tiếp thống kê được dân số mà còn thường xuyên kiểm tra lại
diện tích ruộng đất ở mỗi làng xã qua đo đạc để chia lại.
Ngoài ra, nhà nước còn quy định, dân làng nào thì cày ruộng của làng
ấy và trên nguyên tắc ruộng đất công làng xã thì người nông dân không được
đem ra mua bán, trao đổi hay chuyển nhượng, mọi hành vi sai trái, không theo
pháp luật đều bị nghiêm trị nặng. Như thế, chẳng khác nào triều đình đã buộc
chặt thân phận người nông dân vào mảnh ruộng mà họ cày cấy, nhưng không
5
được quyền sở hữu. Hơn nữa, mỗi năm người cày ruộng khẩu phần phải nộp
tô cho nhà nước, kể cả những quan viên ở địa phương cũng phải nộp tô, nếu
có ruộng khẩu phần. Đây chính là sợi dây liên kết, cũng như là biện pháp
khẳng định chủ quyền sở hữu trực tiếp của nhà vua đối với ruộng đất công
làng xã. Nhà vua đã nắm hết điền bạ, tức là nắm được tổng diện tích đất trong
cả nước mà không có một quan lại, thường dân nào có thể thoát khỏi cái quy
luật ấy được (tuy có một số làng xã có khai gian, giấu ruộng để nhằm giảm tô
thuế, nhưng chỉ là một phần nhỏ mà thôi).
Với chính sách quân điền, bình quân ruộng đất, kiểm soát chặt chẽ thì
tất cả mọi hoạt động của người dân từ quan lại địa phương cho đến dân
thường không thể nào thoát khỏi sự quản lý của nhà nước bằng mối quan hệ
phát canh – thu tô ruộng đất.
Chính trong chính sách quân điền ấy, mọi thứ lao dịch do triều đình
quy xuống thì tất cả mọi người trong làng xã phải có trách nhiệm phục tùng,
khó mà trốn thoát.
Như vậy, nhà Lê đã thực sự củng cố được quyền thống trị tối cao của
mình trong đất nước đến tận cơ sở địa phương. Từ chính sách kinh tế, chính
sách ruộng đất theo phép quân điền, nhà vua cũng đã quản lý được về mặt
hành chính cũng như pháp luật ở địa phương. Từ việc lập sổ điền, sổ hộ, chia
ruộng đất theo khẩu phần được quy định đối với từng đối tượng, tầng lớp, giai
cấp đến những quy định về pháp lệnh phải thực hiện ở địa phương, nhà vua đã
dần nắm quyền quản lý từ làng xã mà dần xóa đi tính tự trị của làng xã tồn tại
dai dẳng hàng thế kỷ nay. Trước kia nhà vua chỉ biết đến những thành phần
quản lý công xã, hay nói đúng hơn là chỉ biết đến mỗi tập thể công xã, còn
bấy giờ đến thời Lê sơ, nhà vua đã có mối quan hệ chặt chẽ với mỗi thành
viên công xã, mà mối quan hệ đó chính là vua – tá điền.
Trong chính sách quân điền, nhà nước đã làm cho trật tự xã hội được
ổn định vững chắc hơn từ trung ương đến dịa phương mà không có lỗ hỏng
nào cho kẻ phản làm loạn. Và chính trong phép quân điền, nhà nước đã thực
sự xác nhận lại quyền sở hữu ruộng đất tối cao và trên cơ sở đó tiến hành bóc
lột thông qua tô thuế, vì đây là nguồn sống chính chủ yếu để tồn tại giai cấp
phong kiến thống trị.
Do đó có thể nói, để nhà nước phong kiến được ổn định và phát triển
thì giai cấp thống trị phải ra sức kiểm soát để tăng cường quyền lực của mình,
bằng mọi biện pháp phải thâu tóm quyền hành quản lý về tay mình, chính lý
do đó thì quyền sở hữu ruộng đất tối cao của nhà vua phải được đảm bảo, và
tính tự trị của làng xã đương nhiên vì thế sẽ mất đi, làng xã chỉ còn là người
thay nhà vua quản lý làng xã chứ không còn tự do nữa. Quan hệ sản xuất
phong kiến vì thế cũng được xiết chặt từ trên xuống dưới, mà không ai thoát
ra khỏi được những qui định ấy
4.Quyền tư hữu ruộng đất được mở rộng và phát triển
6
Trong cuộc kháng chiến chống lại ách đô hộ của nhà Minh chính do
giai cấp địa chủ lãnh đạo nên sau khi nhà nước phong kiến thành lập, không
những chế độ tư hữu ruộng đất được thủ tiêu mà ngày càng được phát triển
mạnh mẽ.
Lê Lợi là người đại diện của giai cấp địa chủ có ruộng đất tư hữu đã
đứng dậy lãnh đạo nhân dân kháng chiến thắng lợi. Do vậy, khi đất nước
được độc lập, triều đại mới được thành lập đương nhiên phải đại diện cho giai
cấp địa chủ tư hữu, đã tạo điều kiện cho chế độ tư hữu ruộng đất ngày càng
phát triển mạnh, ưu đãi cho giai cấp thống trị, nhưng trong đó nông dân cũng
có quyền tư hữu ruộng đất khi khai hoang được.
Ngoài ra trong thời kỳ xây dựng phát triển đất nước, triều đình cũng
đưa ra những điều luật cụ thể về quyền sở hữu ruộng đất đựoc mở rộng hơn
cũng như những quy dinh về vấn đề ruộng đất (mua bán, thừa kế, tranh chấp).
Chính vì thế quyền sở dụng, tư hữu ruộng đất dưới thời Lê sơ có thể nói đã
mở rộng hơn nhiều so với các triều đại trước.
Chính sách bảo đảm tư hữu ruộng đất của tư nhân được nhà nước bảo
vệ đã thúc đẩy sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất của bọn địa chủ
thống trị.
Vào những năm cuối thế kỷ XIV, Đại Việt rơi vào tình trạng loạn lạc,
nôi bộ triều đình mâu thuẫn, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhân dân
lưu tán, xiêu dạt khắp nơi. Trong lúc đó, bọn địa chủ, cường hào địa phương
đã lợi dụng cơ hội đó chiếm đoạt, kiêm tính ruộng đất của nông dân và bọn
địa chủ cường hào ngày càng tăng, bọn này trở thành một thế lực lớn trong xã
hội lúc bấy giờ. Sau khi nhà Lê thành lập, nguồn gốc xuất thân dòng họ nhà
Lê cũng từ giai cấp địa chủ, do đó nhà Lê không thể tịch thu, tước đoạt ruộng
đất của bọn địa chủ cường hào này được. Vì đây chính là cơ sở giai cấp để
bảo vệ dòng họ nhà Lê tồn tại.
Đặc biệt hơn nữa, với chính sách không bỏ hoang ruộng đất và nhanh
chóng phục hồì, củng cố đất nước để phát triển sau chiến tranh. Nhà Lê đã hạ
lệnh trả lại những phần đất cho những quân “bị giặc bắt” vào thành và đã
được bổ làm quan quân phụ ở các quân thiết đột, thậm chí trả lại ruộng đất
cho những ngụy quan được tha tội và cho chuộc mạng. Chính những điều lệ
quy định như trên, không những bọn địa chủ, ngụy quan, cường hào không
mất đi phần đất mà còn giữ nguyên được tài sản đất đai của mình.
Ngoài ra, pháp luật Hồng Đức, “còn công nhận quyền chiếm hữu ruộng
đất của giai cấp địa chủ, cho phép chuyển quyền sử dụng lâu năm thành
quyền sở hữu” (điều 352).
Đối với chính sách lộc điền ban cấp cho những bậc khai quốc công
thần, quan lại cao cấp, hoàng thân quốc thích của nhà vua dưới thời Lê sơ, đặc
biệt là thời vua Lê Thánh Tông, giai cấp địa chủ xuất hiện ngày càng nhiều,
mặc dù những người này có tư điền ít và đa phần ruộng đất mà họ được ban
7
cấp thì quyền sở hữu lại thuộc về nhà nước. Nhưng với sản nghiệp ruộng đất
sở hữu và chiếm hữu ngần ấy cũng đủ giúp cho những người này trở thành
những đại địa chủ lớn.
Chính trên những quy định công nhận quyền tư hữu ruộng đất mở rộng
và thông thoáng hơn đã tạo điều kiện cho bọn địa chủ, quan lại thực hiện việc
chấp chiếm, bao chiếm ruộng đất ngày càng nhiều. Mặc dù nhà Lê đã đề ra
những chính sách cấm tước đoạt ruộng đất một cách nghiêm ngặt, nhưng tình
trạng chấp chiếm, kiêm tính vẫn diễn ra, “nhà quyền quý chiếm đoạt ruộng
đất của lương dân một mẫu trở lên xử phạt, năm mẫu trở lên thì xử biếm,
quan từ tam phẩm trở lên thì xử gia hai bậc, đều phải bồi thường như luật”
(điều 369). Việc phát triển của tư điền theo kiểu như vậy đã gắn liền với quá
trình kiêm tính, tước đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ.
Bọn địa chủ, quan lại vẫn bất chấp mọi thủ đoạn, dựa vào thế quan trên
mà chèn ép lương dân, chúng cướp không ruộng đất của nhân dân bằng những
văn khế, văn tự giả mạo. Chúng bất chấp pháp luật nghiêm khắc của nhà
nước, bao chiếm ruộng đất công làng xã, lấn đất công làng xã bằng cách dời
hay nhổ cả cột mốc ranh giới. Ngay cả ở quê hương Lam Kinh – nguồn gốc tổ
tiên dòng tộc nhà Lê mà chúng còn chấp chiếm thì huống chi ruộng đất công
làng xã làm sao để yên được. Đến nỗi vua Lê Thánh Tông còn phải kêu lên
rằng: “Lam Sơn là đất căn bản, làng vua, không ví như nơi kinh sư khác được.
Mới rồi bọn thế gia hay làm trái lễ phép, coi thường pháp luật, chiếm lấy đất
làm của mình, các thân vương, công chúa không có đất cấm dùi…nay định
giới hạn, người nào còn dám trái phạm thì theo luật trị tội”.
Ngoài những nhân tố trên dẫn đến sự phát triển của chế độ tư hữu
ruộng đất, quyền sở hữu ruộng đất mở rộng. Với việc không thu thuế ruộng tư
đã giúp cho bọn địa chủ, quan lại ngày càng thâu tóm được nhiều lợi ích từ
chính sách ruộng đất, nhưng với chính sách lộc điền và quyền lực tập trung
vào tay nhà vua, bọn địa chủ, quan lại này vẫn bị ràng buộc vào triều đình
phong kiến, không cho phép tự do, điền trang, thái ấp không được lập thành
lập, nên chúng không thể phân tán, cát cứ được.
Quyền tư hữu ruộng đất dưới thời Lê sơ còn được mở rộng ở điều luật, quy
định về vấn đề mua bán ruộng đất. Nhà vua đặt ra những điều luật rõ ràng, trong
việc mua bán ruộng đất được chia làm hai hình thức: bán đợ và bán đứt.
Bán đợ: tức là chỉ giao cho người mua quyền chiếm giữ và sử dụng chứ
không được toàn quyền sử dụng mảnh đất ấy.
Nhà vua còn quy định lệ chuộc đất: đối với người trong họ thì 30 năm,
người ngoài họ là 20 năm, và quy định cả kỳ hạn chuộc lại ruộng đất trong
năm (ruộng mùa 15/3, ruộng chiêm 15.9). và với quy định của nhà Lê sơ, cho
phép biến quyền chiếm giữ lâu năm thành quyền sở hữu, đã dẫn đến tình
trạng người nông dân bị ép buộc, ức hiếp bị mất đất rất nhiều dưới tay bọn địa
chủ.
8
Hình thức bán đứt: tức là giao cả quyền chiếm giữ, sử dụng và quyển
sở hữu cho người mua.
Ngoài những hình thức mua bán ruộng đất theo quy định, nhà vua còn
có những điều lệ về các loại ruộng đất được mua bán. Như ruộng đất công
làng xã, ruộng đất hương hỏa thì không được bán, nếu làm trái sẽ bị phạt nặng
theo pháp luật.
Với những nội dung về mua bán ruộng đất được thoáng hơn đã cho
thấy, chính sách của nhà Lê sơ đối với việc tư hữu ruộng đất của tư nhân đã
ngày càng phát triển mở rộng. Đó cũng là một bước tiến bộ của chế độ phong
kiến thời kì phát triển đỉnh cao.
Quyền sở hữu còn được mở rộng xuống cả tầng lớp nhân dân lao động,
nhất là nông dân được quyền tư hữu ruộng đất trong quá trình khai hoang, vỡ
đất ở những vùng còn hoang hóa, cùng với ruộng đất chiếm xạ, nông dân đã
được hưởng một số quyền lợi nhất định.
Tóm lại: Dưới thời Lê sơ đã có những tiến bộ vượt bậc hơn các thời
trước. Ở đây về chính sách nông nghiệp, ruộng đất nhà Lê đã cho quyền tư
hữu ruộng đất được mở rộng trong tất cả các tầng lớp từ địa chủ, quan lại cho
đến thường dân. Đó cũng là những chính sách tiến bộ hơn, hoàn chỉnh hơn về
mặt quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất thời Lê sơ
ở thế kỷ XV.
5. Chính sách ruộng đất được pháp lý hóa trong luật pháp Nhà nước
Với sự ổn định của xã hội và tình hình kinh tế phát triển, Lê Thánh
Tông đã ban hành luật Hồng Đức, với những điều luật thành văn rõ ràng, quy
định từ kinh tế, chính trị, giáo dục cho đến những chính sách ruộng đất. Nhà
nước cũng đã pháp lý hóa ruộng đất trong luật pháp, biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhà nước cho phép tư nhân tư hữu hó về ruộng đất, với
những chính sách bảo vệ quyền lợi tư hữu ruộng đất và quyền tư hữu ruộng
đất được mở rộng. Nhưng trong quyền tư hữu ấy, nhà nước cũng đã quy định
quyền tư hữu vĩnh viễn và quyền tư hữu tạm thời.
Quyền sở hữu vĩnh viễn: đối với những quan lại hay hoàng thân quốc
thích, ngoài việc được ban cấp ruộng đất lộc điền, trong đó những quan lại địa
chủ, thân thích với nhà vua sẽ được hưởng 2 loại ruộng đất được ban cấp: một
loại ban cấp vĩnh viễn, trở thành ruộng tư điền hay còn gọi là thế nghiệp điền
và một loại ban cấp tạm thời.
Với ruộng đất được ban cấp vĩnh viễn chỉ là một phần nhỏ trong tổng
số đất được ban cấp (vì quyền sử dụng tối cao thuộc về nhà vua) và người
được ban cấp có quyền sở hữu, có thể đem ra trao đổi mua bán hay để lại cho
con cháu đời sau mà không phải trả lại cho nhà nước sau khi người được ban
cấp qua đời.
9
“Những hoàng tôn và quần thần ai lập được công và có đủ tài đều được
đặc cách vinh phong, công hầu bá thì được ban ruộng thế nghiệp, lưu truyền
cho con cháu”.
Quyền sở hữu tạm thời: là những phần đất như: bãi dâu, ao đầm, đất
vườn, đất được ban cấp cho những quan lại từ hạng tòng tứ phẩm cho đến các
thân vương. Với loại ruông đất ban cấp tạm thời này chiếm tỉ lệ lớn trong tổng
số diện tích được ban cấp, đặc biệt là những quan lại cấp cao, hoàng tử, công
chúa, họ được cấp nhiều ruộng thế nghiệp và nhiều ruộng ân tứ. Quyền sở hữu
tạm thời, người được ban cấp chỉ được sử dụng trong khoảng thời gian người
được ban cấp còn sống, sau khi chết đi 3 năm thì phải trả lại cho nhà nước.
Đối với nông dân: nông dân sống trong làng xã ở địa phương thì cày
cấy ruộng đất khẩu phần theo chính sách bình quân ruộng đất mà nhà vua đã
ban xuống. Do đó người nông dân cày cấy phải nộp tô thuế cho nhà vua và
trên nguyên tắc ruọng đất công làng xã, không một ai được tự tiện đem bán
hay chuyển nhượng, dù là một tập thể làng xã cũng không có quyền được
phép dành một phần đất công lãng xã vào việc khác, mọi hành động vi phạm
nguyên tắc sẽ phải chịu hình phạt trước pháp luật.
Như vậy, trong công xã nông dân chỉ có quyền chiếm giữ, sử dụng chứ
không có quyền định đoạt mảnh đất cày cấy.
Mặc dù thế, nhưng trong chính sách khẩn hoang của triều đình, nông
dân vẫn được tư hữu một số nhỏ diện tích đất đai ở những vùng mà họ khai
phá, nhưng vẫn phải báo lên triều đình để nộp tô thuế, tuy ở mức độ hạn hẹp
nhất định, triều đình vẫn để cho nông dân tự do tư hữu ruộng đất hơn.
Thứ hai, pháp lý hóa quyền bình đẳng nam nữ:
Cùng với quá trình mở rộng quyền tư hữu ruộng đất, nhà nước Lê sơ
còn ban hành pháp lệnh bình quyền nam nữ trong việc thừa kế tài sản cũng
như đất đai. Nhà nước khẳng định tục lệ chia đều gia tài, điền sản cho con cái,
không phân biệt trưởng, thứ, gái, trai,…
Chính cơ sở bình quyền nam nữ đã đem lại một phần cho sự công bằng
giới trong xã hội. Đó cũng là thể hiện được mặt tiến bộ của nhà nước phong
kiến thời Lê sơ, khi mà chế độ phong kiến đã đạt đến đỉnh cao của sự phát
triển. Không giống như ở các nước khác, đặc biệt là thời kỳ phong kiến ở Tây
Âu, và ngay cả ở Trung Quốc cũng có sự khác biệt về việc bình quyền nam
nữ. Trung Quốc vẫn mang nặng nề tính chất gia trưởng, còn ở Đại Việt ta dù
sao cũng có những quy tắc nới lỏng hơn, nhằm đem lại quyền bình đẳng con
người, nhưng chỉ mang tính chất tương đối mà thôi, vì trong xã hội phong
kiến thì người đàn ông có địa vị cao hơn người phụ nữ.
Thứ ba, thể chế hóa quyền thừa kế:
Pháp luật được thể chế hóa trong quyền thừa kế tài sản của mọi người,
có những quy định về việc để lại tài sản hay ruộng đất cho con cháu đời sau
hay dòng tộc ruột thịt.
10
Nhà nước khẳng định tục lệ “chia đều gia tài, điền sản cho con cháu
không phân biệt trưởng, thứ, gái, trai, đối với người là con vợ lẽ hay con nuôi
thì sự phân chia gia tài của cha mẹ cũng không được quá chênh lệch”.
Với những điều luật trên cho thấy, quyền thừa kế về ruộng đất, tài sản
khi mà cha mẹ mất đi thì con cái, cả nam lẫn nữ, dù lớn hay nhỏ đều có quyền
hưởng những quyền lợi chung ngang nhau. Ngoài ra còn nói rõ, sau khi cha mẹ
mất đi phải lấy ra 1/20 diện tích đất đai để làm ruộng hương hỏa, phục vụ cho
việc cúng tế ông bà, cha mẹ, đất này giao cho người con trai trưởng coi sóc.
Chính trên những quy định ấy, pháp luật đã thể chế hóa được quyền
thừa kế ruộng đất, trong nhân dân ít xảy ra việc tranh chấp quyền lợi lẫn nhau
giữa anh em, dòng họ khi luật lệ chia đều tài sản đã phân xẻ chế độ sở hữu về
ruộng đất và cũng không tạo nên những dòng họ địa chủ lớn lâu đời có tính
chất dòng dõi, không có sự phân tán, cát cứ.
Tóm lại, với việc pháp lý hóa ruộng đất, nhà nước phong kiến Lê sơ đã
đem lại nhiều quyền lợi cho nhân dân, được tư hữu ruộng đất tư nhân, bình
quyền nam nữ và cũng đem lại nhiều lợi ích cho nhà nước để nhà nước hoàn
chỉnh hơn bộ máy thống trị của mình, nhà nước quản lý chặt chẽ và dễ dàng
hơn về ruộng đất.
6. Nhà nước luôn củng cố kế hoạch khai hoang để củng cố tư liệu sản xuất
Sau khi chính quyền nhà Lê sơ đã được củng cố vững vàng, Lê Thánh
Tông đã ra sức chăm lo phát triển kinh tế và thi hành một số biện pháp có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nhằm củng cố nền kinh tế quốc
gia. Do đó, chính sách khẩn hoang là một trong những chính sách quan trọng
và là một nhu cầu cần thiết cho nhà nước. Đó là chính sách thường xuyên và
liên tục của các triều đại phong kiến với mục đích chính là nhằm tăng cường
sự quan tâm của nhà nước đối với nhân dân, và cũng tăng cường được lợi ích
từ việc thu tô thuế của nhân dân với việc khai hoang lập ấp, nhằm mở rộng
lãnh thổ quốc gia. Đó cũng chính là củng cố tư liệu ruộng đất để tạo điều kiện
sản xuất của nhân dân.
- Chính sách khẩn hoang: mức độ quan tâm của nhà nước đối với nhân dân.
Sau khi thoát khỏi chiến tranh dưới ách đô hộ nhà Minh, trước hết nhà
nước một mặt ra sức chăm lo đời sống nhân dân và củng cố lại cơ sở nền
nông nghiệp. Ngay từ năm 1427, Lê Lợi đã đặt ra những quy định “nhân dân
phiêu tán trong chiến tranh nay phải về quê nhận lại ruộng cày cấy, nếu bỏ
hoang ruộng đất thì sẽ bị tội nặng”. Đến thời Lê Thánh Tông, theo phép quân
điền được đặt ra ntừ năm 1477, nhà nước cấm nhân dân không được để ruộng
đất bỏ hoang. Lê Thánh Tông quy định “làng xã nào có nhiều ruộng công mà
ít người cày cấy thì phải đem bớt ruộng cho người làng bên cạnh, hào mục và
nhân dân không được chấp chiếm rồi bỏ hoang.
11
Ngoài ra, đến năm 1485, Lê Thánh Tông còn “hạ lệnh cho các phủ,
huyện có ruộng đất bỏ hoang chưa khẩn hết phải khám xét cẩn thận và đôn
đốc nhân dân canh tác”.
Năm 1481, vua Lê còn ban hành chính sách lập đồn điền với mục đích
để “khai thác hết sức nông nghiệp, mở rộng nguồn súc tích cho nước”.
Cùng với những nguyên nhân khác, do được quyền sở hữu tư nhân
được rộng mở nên địa chủ đã chấp chiếm nhiều ruộng đất, ruộng đất công
làng xã bị thu hẹp (cũng do một phần bởi chính sách lộc điền) và bị biến
thành ruộng đất tư. Vì vậy, nhà nước đã chỉ đạo xuống cho nhân dân đi khai
phá những vùng còn hoang hóa hay những vùng ven sông, biển, bãi bồi còn
bỏ trống để trồng trọt, làm nông nghiệp.
Trong chính sách khẩn hoang đã hình thành 2 loại ruộng đất: ruộng
thông cáo và ruộng chiếm xạ.
Những việc làm như trên chứng tỏ, Nhà nước đã cố gắng ra sức để
chăm lo đời sống nhân dân được ấm no, cũng chính là để ổn định chính quyền
trung ương được vững chắc và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Với việc khẩn hoang và lập đồn điền, diện tích đất nông nghiệp ngày
càng được tăng lên, đời sống nhân dân cũng ổn định hơn và ra sức phát triển
nền nông nghiệp quốc gia.
Mục tiêu chính của những chính sách trên là nhằm vào mục đích mở
rộng diện tích canh tác, công hữu hóa một phần đất khẩn hoang được trong
nhân dân, để tăng cường nguồn cung cấp tô thuế cho bộ máy nhà nước, đẩy
mạnh quan hệ địa – tô, cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước Lê sơ.
- Ngoài ra, việc củng cố khai hoang để củng cố tư liệu sản xuất còn
nhằm mở rộng lãnh thổ quốc gia. Đây là chính sách thường xuyên và diễn ra
liên tục của trong các triều đại phong kiến (nếu như ở thế kỷ XV, cương thổ
Đại Việt chỉ tới vùng Thuận – Quảng, núi Thạch Bi, đến thế kỷ XVIII, chúa
Nguyễn đã xác lập được chủ quyền của mình đến vùng đất Nam Bộ vào bản
đồ Đại Việt như ngày nay).
7. Quốc khố được củng cố thông qua việc tăng cường quan hệ địa – tô
Trong lịch sử hình thành và phát triển của chế độ phong kiến, đã dựa
trên những cơ sở để tồn tại được lâu dài, trong đó việc củng cố quan hệ địa –
tô là một cơ sở quan trọng nhất.
Trải qua thời kỳ phong kiến ở Việt Nam đã tồn tại của nhiều vương
triều ở từng giai đoạn lịch sử, các triều đại phong kiến luôn ra sức củng cố và
phát triển mối quan hệ sản xuất phong kiến, ngày càng được chặt chẽ hơn, đặc
biệt là dưới thời Lê sơ. Với việc chú trọng đến tư liệu sản xuất ngày càng
được nhà nước quan tâm hơn, thì quan hệ sản xuất cũng được củng cố chặt và
ràng buộc hơn đối với nhà nước trung ương tập quyền.
Nhà nước trung ương tập quyền ra sức tăng cường mối quan hệ ràng
buộc với bộ máy giai cấp thống trị (tầng lớp quan lại, địa chủ) với địa
12
phương, làng xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất (nông dân công xã), nhằm tăng
cường quyền kiểm soát, cũng là xiết chặt mối quan hệ làng – nước, quan hệ
vua – thần dân.
Trong chính sách cai trị của mình, vua Lê Thánh Tông đã kiện toàn, cải
cách lại toàn bộ bộ mặt đất nước về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, giáo dục, pháp luật,…
Nhưng để ổn định và đủ sức cai trị đất nước thì một trong những nhân
tố góp phần để giai cấp thống trị tằng cường được quyền lực của nhà nước,
đặc biệt là nhà vua. Quan hệ địa tô hay tô thuế có một vai trò rất quan trọng,
vì đó là cơ sở để nuôi sống bộ máy chính quyền nhà nước Lê sơ.
- Thứ nhất, nguồn ngân sách quốc khố của nhà nước càng được củng cố
từ việc thu thuế của nhân dân, với đủ các loại thuế như: thuế điền, thuế đinh,
thuế lao dịch,…
Thuế điền: thuế đánh vào ruộng đất. Hằng năm tùy theo diện tích và
loại ruộng, nhân dân phải nộp thuế về cho nhà nước theo quy định. Mức thuế
tùy vào đối tượng. Ở thời Lê Thánh Tông, những loại ruộng tư không phải
đóng thuế, do vậy nông dân ở công làng xã là những người phải có trách
nhiệm đóng thuế cày ruộng khẩu phần đầy đủ cho nhà vua.
Thuế đinh: thời Lê sơ, quy định đàn ông ở làng xã từ 18 đến 60 tuổi thì
đã được chia ruộng khẩu phần ở làng xã của mình. Hằng năm họ phải nộp cho
nhà nước một khoản tiền và còn phải đi lính và lao dịch cho nhà nước. Ngoài
ra còn có những loại thuế khóa khác nữa.
Với nguồn quốc khố thu được nhằm phục vụ cho cuộc sống xa hoa của
giai cấp thống trị, để ban thưởng, trả lương bổng cho các quan lại triều đình,
ngoài ra còn dùng vào việc đất nước: làm thủy lợi, sửa chữa đê điều, quân
đội,
- Thứ hai, việc thu tô thuế, phát triển sản xuất chính là sự củng cố cơ
sở, nguồn sống chính cho bộ máy thống trị nhà nước. Vì vậy, nhà Lê sơ đã
đẩy nhanh chính sách khẩn hoang và mở đồn điền nhằm tăng diện tích canh
tác cũng như tăng nguồn thu nhập cho triều đình.
- Dưới chế độ phong kiến, thuế là một trong những yếu tố biểu hiện sự
phát triển đất nước được ổn định. Vì nông dân có ruộng cày cấy thườn xuyên,
có được diện tích sản xuất, gia tăng sản phẩm thì mới có khả năng thực hiện
nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ. Nhà nước phong kiến không riêng một triều
đại nào, ở thời Lê sơ cũng vậy, giai cấp địa chủ thống trị sống được là nhờ
vào chế độ bóc lột quan hệ địa tô, thu thuế từ nhân dân mà ra, nếu triều đại
nào không củng cố được mối quan hệ này, làm cho cuộc sống nhân dân điêu
đứng thì ắt sẽ có loạn, nếu giai cấp địa chủ áp bức, chèn ép nhân dân quá mức
thì nhân dân sẽ nổi dậy. Cho nên, nhà nước Lê sơ thời Lê Thánh Tông đã ra
sức chăm lo đời sống nhân dân được ổn định, thu thuế khóa phải có mức độ,
giới hạn rõ ràng.
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét