Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thực trạng SX một số mặt hàng nông thuỷ sản tại nước ta

Một thời kì dài, nền nông nghiệp của nớc ta phát triển rất chậm, cơ cấu
không phù hợp, sản lợng thấp, cung không đáp ứng đợc cầu. Từ sau thời kì đổi
mới, nền nông nghiệp có bớc phát triển vợt bậc. Khoán 10 là một thí dụ sinh động
về ảnh hởng của chủ chơng, chính sách của Nhà nớc đến sự phát triển của nông
nghiệp. Khoán 10 cho phép các hộ nông dân đợc tự do canh tác trên mảnh đất của
mình, đợc đầu t thâm canh, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm đạt sản
lợng cao, chất lợng tốt. Các hộ nông dân chỉ phải đóng thuế theo định mức cho
Nhà nớc và trả tiền các dịch vụ mà họ sử dụng. Thực tế, hình thức khoán này đã
khuyến khích đợc nông dân tăng cờng đầu t, tăng năng suất lao động, làm lợi cho
mình và làm lợi cho xã hội.
Sau khoán 10, năm1994 Nhà nớc lại ban hành Luật đất đai, trong đó quy
định thời gian sử dụng ruộng đất kéo tới 30 năm. Nông dân có quyền bán, nhợng
lại, thừa kế Điều này đã làm cho họ gắn bó với mảnh ruộng hơn, yên tâm với sản
xuất. Đại hội Đảng khoá VIII đã đề ra chủ trơng đa đất nớc ta vào thời kỳ CNH-
HĐH; trong đó có một vấn đề quan trọng là CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển
nông thôn. Để thực hiện chiến lợc này, Nhà nớc đã đề ra một loạt các chính sách
nh chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách khuyến nông, phát triển khoa học
công nghệ, chính sách u đãi tín dụng, chính sách hỗ trợ giá nông sản, quy định giá
trần, giá sàn.
Ngoài ra, Nhà nớc còn có các chơng trình và mô hình nh : chơng trình giải
quyết việc làm, chơng trình dân số kế hoạch hoá gia đình, chơng trình tăng cờng y
tế và giáo dục cơ sở, mô hình điện, đờng, trờng, trạm Tất cả các chơng trình này
có một ý nghĩa và hiệu quả tích cực đối với sự phát triển của nông nghiệp và nông
thôn. Năm 1999, tổng vốn đầu t cho nông nghiệp nông thôn của Nhà nớc tăng gấp
rỡi đất với năm 1998
(1)
, chủ yếu tập trung vào các công trình thuỷ lợi, giao thông,
điện và các công trình phúc lợi khác. Công tác nghiên cứu, tìm tòi các giống cây,
con mới cũng đợc đẩy mạnh và đạt nhiều thành tựu. Công tác chăm sóc bảo vệ
thực vật, động vật cũng đợc quan tâm chú ý; đã có Chơng trình trồng 5 triệu ha
rừng với số vốn dự tính là hơn 30.000 tỷ đồng (thực tế năm 1999 chỉ chi 328 tỷ
(
1): Khoa học và công nghệ phục vụ CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn-Đặng
Hữu-Tạp Chí Cộng sản số 17 (9/2000) trang 34
6
đồng), Chơng trình 135 giao cho xã làm chủ dự án. Sự ra đời của các dịch vụ nông
nghiệp nh cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu, vận tải, vật liệu đã góp phần
rất lớn vào sự thành công của nông nghiệp Việt Nam trong mấy năm gần đây.
Đối với ngành thủy sản thì năm năm qua là thời kì phát triển mới của
ngành. Với phơng châm kết hợp giữa khai thác với nuôi trồng và chế biến xuất
khẩu đã làm tăng chất lợng và hiệu quả sản xuất gắn với bảo vệ tài nguyên môi tr-
ờng. Thực hiện phơng châm đó, một mặt Nhà nớc khuyến khích các thành phần
kinh tế, khai thác mọi tiềm năng về vốn và kinh nghiệm; mặt khác tập trung vốn
ngân sách, vốn tín dụng u đãi cho ngành thủy sản, tập trung nguồn vốn ngân sách
cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và chế biến thủy sản; ứng dụng
tiến bộ sinh học trong chọn và lai tạo giống đi đôi với công nghiệp hoá sản xuất
thức ăn, mở rộng nuôi các loại thủy sản có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu khác nh
nghêu (Trà Vinh, Bến Tre), sò huyết (Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, duyên hải
miền Trung), ba ba, ếch Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản theo chiều sâu,
gắn với xuất khẩu.
II-Tình hình sản xuất một số mặt hàng nông thủy sản xuất khẩu
trong mấy năm gần đây:
1-Tình hình sản xuất lúa gạo:
Việt nam là một nớc nông nghiệp, có tập quán canh tác lúa nớc lâu đời.
Cây lúa là sản phẩm chính của nền nông nghiệp. Nó không những góp phần bảo
đảm đời sống cho nhân dân, mà trong thời kỳ hiện nay nó còn góp một phần rất
lớn vào giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu thúc đẩy sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc.
Nhờ có các chính sách đổi mới mà sản lợng lúa gạo đã tăng hàng năm.
Bảng 1: Tình hình sản xuất lúa gạo một số năm
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Sản lợng
(Triệu tấn)
19,6 21,6 22,8 23,5 24,9 26,4 27,6 29,1 31,4 32,8
% so sánh 100 110 106 103 106 106 104,5 105,4 108 104,5
7
Nguồn: Báo cáo nghiên cứu: Tổng quan về ngành nông nghiệp Việt Nam. Tác động của Hiệp
định WTO về nông nghiệp - Bộ Thơng Mại (12/1999). Dự án VIE 95/024/A/01/99 trang 9
Bảng trên cho thấy, tỉ lệ tăng tổng sản lợng lúa gạo qua các năm tuy không
ổn định (một phần do thiên tai , lũ lụt) nhng tăng khá cao, trung bình 5,9% /năm.
Tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ tăng dân số trung bình hàng năm (1,8%) nên đảm bảo đủ
cung cấp cho nhu cầu trong nớc và d thừa để xuất khẩu. Trong 10 năm từ 1991
đến 2000, sản lợng lúa gạo đã tăng đợc 13,2 triệu tấn , một mức tăng kỉ lục từ trớc
đến nay.
Sản lợng lúa gạo trong những năm qua tăng lên chủ yếu do hai yếu tố là do
tăng diện tích canh tác / diện tích gieo trồng và năng suất, trong đó quan trọng
nhất là tăng năng suất. Năm 1987, diện tích canh tác lúa là 3,5 triệu ha, diện tích
gieo trồng là 5,6 triệu ha. Năm 1997, số liệu tơng ứng là 4,2 và 6,8
(1)
, tăng 20% và
21,4%. Nhìn chung, từ năm 1997 đến nay diện tích canh tác và diện tích gieo
trồng ổn định vì khả năng mở rộng diện tích canh tác là rất khó. Năm 1987, năng
suất lúa bình quân là 27 tạ/ha, năm 1997 là 40 tạ/ha tăng 48%. Trong đó, năng
suất lúa ở các vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu nh đồng bằng sông Hồng, đồng bằng
sông Cửu Long rất cao, đạt trung bình trên 60 tạ/ha. Dự kiến, trong những năm tới
khi dân số của nớc ta ngày một tăng trong khi diện tích canh tác lúa có hạn thì
tăng năng suất là việc rất quan trọng, đóng vai trò chủ đạo giữ vững an ninh lơng
thực và góp phần xuất khẩu. Kế hoạch đến năm 2020, năng suất lúa bình quân
phải đạt 59,4 tạ/ha.
Do sản lợng lúa gạo liên tục tăng cao hơn tỉ lệ tăng dân số nên lơng thực
bình quân đầu ngời cũng liên tục tăng.
Bảng 2: Bình quân lơng thực đầu ngời
Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Lơng thực /
ngời (kg)
325 372 349 359 361 372 387 398 408 411 420
% so sánh 100 115 108 111 112 115 120 123 126 127 130
Nguồn: Xuất khẩu gạo ở Việt Nam - 10 năm nhìn lại - Nguyễn Sinh Cúc.
(
1): Nông nghiệp bền vững và sản xuất lơng thực ở Việt Nam - Vũ Tuyên Hoàng Tạp chí
Cộng sản số 22 (11/1998 ) trang 16
8
Tạp chí Cộng sản số 7 (4/1999) trang 45
Bảng trên cho ta thấy, bình quân lơng thực đầu ngời của nớc ta tăng khá
đều đặn, duy chỉ có năm 1991 là đột biến. Dự kiến đến năm 2020 dân số nớc ta là
105 triệu ngời, sản lợng lơng thực quy thóc đạt 52,5 triệu tấn thì bình quân lơng
thực sẽ đật 500 kg/ ngời
(1)
.
Ngoài sản lợng, trong sản xuất lúa gạo, chúng ta cũng đặc biệt quan tâm
đến chất lợng; có nh vậy mới đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu và cạnh tranh đợc
với các cờng quốc xuất khẩu khác. Để đáp ứng yêu cầu tăng sản lợng và tăng chất
lợng, những năm qua các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu, cải tiến các
giống lúa, nhằm tạo ra những giống có hiệu quả kinh tế cao nhất. Các giống đã đ-
ợc đa vào gieo trồng có thể kể đến nh : IR64, OM1490, OM2031, VND95-20,
MTL250, IR62032, P4, P6 Ngoài giống, các biện pháp kĩ thuật khác cũng
không ngừng đợc cải tiến nh kĩ thuật gieo trồng, quản lí dịch bệnh, bón phân theo
bảng màu lá lúa, tới tiêu theo khoa học, ứng dụng các công nghệ sau thu hoạch
nh: sơ chế, bảo quản, dự trữ. Công nghệ đánh bóng, xay xát gạo xuất khẩu cũng
luôn đợc đổi mới về máy móc thiết bị. Nhờ đó, chất lợng gạo Việt Nam đã đợc cải
thiện đáng kể, có uy tín trên thị trờng xuất khẩu thế giới.
2-Tình hình sản xuất cà phê:
Cà phê là cây lấy hạt để chế biến làm đồ uống. Từ năm 1930, cà phê đã đợc
du nhập vào nớc ta và tỏ ra thích hợp với sinh thái từ vĩ tuyến 20 độ Bắc trở vào,
đặc biệt là thích hợp với vùng đất bazan ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cà phê
ở nớc ta có 3 giống là cà phê vối (coffee Robusta), cà phê mít (coffee Excelsa), cà
phê chè (coffee arabica). Trong 3 giống chỉ có cà phê vối là thích hợp nhất
(chiếm 95%) với điều kiện sinh thái. Tuy nhiên, do xuất xứ ở các vùng núi cao,
nên khi đa xuống các thung lũng có biên độ nhiệt lớn cà phê vối hay có bệnh rỉ
sắt.
(
1): Nông nghiệp bền vững và sản xuất lơng thực ở Việt Nam - Vũ Tuyên Hoàng - Tạp chí
Cộng sản số 22 (11/1998) trang 18
9
Sau giải phóng Miền Nam 1975, chúng ta chỉ có 11.400 ha, sản lợng 6800
tấn nhân. Đến năm 1980, diện tích cà phê tăng lên 22.500 ha nhng sản lợng chỉ
đạt 8400 tấn (do 1/2 diện tích mới trồng). Năm 1994, diện tích cà phê là 123.000
ha, tăng so với năm 1980 là 5,5 lần; sản lợng là 166.400tấn, tăng 19,8 lần. Năm
1997, diện tích cà phê là 270.000 ha, tăng so với năm 1994 là 2,19 lần; sản lợng là
400.300 tấn, tăng so với năm 1994 là 2,4 lần. Năm 1998, diện tích cà phê là
310.000 ha, tăng 1,14 lần so với năm 1997; sản lợng là 430.000 tấn, tăng 1,07 lần
so với năm 1997(Bảng 3).
Bảng 3: Diện tích và sản lợng cà phê một số năm
Năm 1975 1980 1994 1997 1998
Diện tích (1000ha) 11.4 22,5 123 270 310
Sản lợng (1000tấn) 6,8 8,4 166,4 400,3 430
Nguồn: Báo cáo nghiên cứu: Tổng quan về ngành nông nghiệp Việt Nam. Tác động của Hiệp
định WTO về nông nghiệp - Bộ Thơng mại (12/1999). Dự án VIE 95/024/A/01/99 trang 9,10
Ta thấy, tốc độ tăng diện tích và tăng sản lợng của cà phê là cực kì cao. Vì
thị trờng tiêu thụ trong nớc không lớn (khoảng 5%/năm) nên phần lớn cà phê sản
xuất ra là để xuất khẩu. Năng suất cà phê của nớc ta thuộc loại cao nhất nhì thế
giới. Năm 1991 đạt 800 kg/ha trong khi năng suất trung bình của thế giới chỉ đạt
469 kg/ha. Năm 1994 chỉ số tơng ứng là 1353 kg/ha và 492 kg/ha. Năm 1997 chỉ
số tơng ứng là 1666 kg/ha và 560 kg/ha. Nh vậy, trong 7 năm năng suất cà phê
tăng lên gấp đôi.
Tuy năng suất cà phê của ta rất cao nhng do kĩ thuật canh tác và công nghệ
chế biến còn lạc hậu nên chất lợng cà phê xuất khẩu còn cha cao mặc dù chỉ là
xuất thô tức là xuất khẩu cà phê nhân.
Cà phê nớc ta đợc trồng chủ yếu ở Tây Nguyên. Có tới 75% diện tích cà
phê tập trung ở Đắc Lắc. Số còn lại ở Sông Bé, Đồng Nai và Lâm Đồng (mỗi nơi
chiếm 6% diện tích) và 7% diện tích rải rác ở các tỉnh khác
(1)
. Hiện nay, chúng ta
còn nhiều khả năng mở rộng diện tích canh tác và nâng cao năng suất cây cà phê.
(
1): Thời báo Kinh tế Việt Nam số 31 (3/2001)
(2): Báo cáo nghiên cứu: Tổng quan về ngành nông nhgiệp Việt Nam. Tác động của Hiệp
định WTO về nông nghiệp- Bộ Thơng mại (12/1999). Dự án VIE 95/024/A/01/99 trang 22
10
3-Tình hình sản xuất cao su:
Cao su là một loại cây đợc trồng lấy mủ để sản xuất ra các loại sản phẩm có
chất cao su. ở nớc ta, loại cây này đợc trồng chủ yếu ở Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ. Diện tích trồng cao su năm 1975 mới chỉ có 75.200 ha thì năm 1998 con số
này đã là 363.400 ha, tăng 4,83 lần so với năm 1975
(2)
.
Từ năm 1990 đến nay, các công ty cao su đã mở rộng quy mô sản xuất, áp
dụng công nghệ hiện đại, cơ khí hoá cao, tiết kiệm nhiên liệu và năng lợng, giảm
cờng độ lao động, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trờng Nếu trớc năm
1989, cả nớc mới chỉ có 15 nhà máy tại 10 công ty,thì đến cuối năm 1999 đã có
30 nhà máy tại 19 công ty với tổng công suất thiết kế đạt tới 225.000 tấn/năm
(3)
.
Diện tích và sản lợng cao su từ năm 1990 tăng lên nhanh chóng.
Bảng 4: Diện tích và sản lợng cao su một số năm
Năm 1990 1993 1995 1997 1998
Diện tích (1000ha) 221,7 242,5 278,4 329,4 363,4
Sản lợng (1000tấn) 57,9 96,9 122,7 180,7 190
Năng suất(kg/ha) 261 399,5 440,7 548,5 522,8
Nguồn Báo cáo nghiên cứu:Tổng quan về ngành nông nghiệp Việt Nam.Tác động của Hiệp định WTO
về nông nghiệp -Bộ Thơng mại.(12/1999)-Dự án VIE 95/024/A/01/99,trang 9,10,14
Qua bảng trên, ta thấy diện tích và sản lợng cao su tăng nhanh qua các năm.
Năm 1990, diện tích trồng cao su là 221.700 ha với sản lợng đạt ở mức khiêm tốn
57,9 ngàn tấn. Năm 1993, diện tích là 242,5 ngàn ha, tăng so năm 1990 là 1,09
lần; sản lợng tăng lên rõ rệt là 96,9 ngàn ha, tăng 1,67 lần so với năm 1990. Đến
năm 1995, diện tích và sản lợng là 278,4 ngàn ha và 122,7 ngàn tấn, tăng so với
năm 1993 tơng ứng là 1,15 lần và 1,27 lần. Năm 1997, diện tích và sản lợng tăng
tơng ứng lvới năm 1995 là 1,18 lần và 1,47 lần; năm 1998 là 1,10 lần và 1,05 lần.
2
(3): Công nghiệp chế biến cao su trên đờng hội nhập- Nguyễn Đăng Kiều, Nguyễn Hữu Tiến.
Tạp chí Cộng sản số 18(9/2000) trang 50
3
11
Ta thấy, năm 1997, sản lợng cao su tăng một cách đột biến so với các năm trớc.
Sản lợng cao su tăng trung bình khoảng 6,27%/năm, năng suất đạt trung bình qua
các năm là 435 kg/ha. Từ năm 1990 đến năm 1999 sản lợng cao su đã tăng lên
nhanh chóng đạt1050 ngàn tấn
(1)
. Đây là thành tựu đáng tự hào trong thời gian qua
đối với ngành công nghiệp chế biến cao su Việt Nam.
4- Tình hình sản xuất thủy sản:
Thủy sản là một ngành rất có lợi thế ở Việt Nam vì chúng ta có đờng bờ
biển dài, dọc theo chiều dài của đất nớc, nguồn thủy sản lại rất phong phú và đa
dạng nên rất thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng và vận chuyển.
Trong 5 năm 1991-1995, tổng sản lợng thủy sản toàn ngành đạt 6,1 triệu
tấn, tăng 32,4% so với thời kì 1986-1990; riêng năm 1995 đạt 1,58 triệu tấn so với
969 ngàn tấn năm 1991. Sản lợng thủy sản xuất khẩu trong 5 năm đó đạt 1,35
triệu tấn, doanh thu 1944,3 triệu USD, tăng 43,7% so với 5 năm trớc đó; riêng
năm 1995 xuất khẩu đạt 550 triệu USD
(1)
.Năm 1995 so với năm 1991, sản lợng
thủy sản đánh bắt tăng 47,0%; sản lợng nuôi trồng là 402.000 tấn, tăng gấp 2,39
lần năm 1991(168.000 tấn)
(2)
. Sản lợng thủy sản năm 1998 đạt 1,7 triệu tấn, tăng
khoảng 6% so với năm 1997. Sản lợng thủy sản nuôi trồng năm 1998 đạt 450
ngàn tấn, so với 168 ngàn tấn năm 1991 và 417 ngàn tấn năm 1997
(3)
.
Bảng 5: Sản lợng nuôi trồng thủy sản một số năm
Năm 1991 1995 1997 1998 1999 2000
Sản lợng (1000tấn) 168 402 417 450
% so sánh liên hoàn 100 239 103,7 108
Nguồn: Thủy sản Việt Nam sau 18 năm đổi mới (1980-1998)-Nguyễn Sinh Cúc.
Tạp chí Cộng sản số 20 (10/1998) trang 45
(
1): Thuỷ sản Việt Nam sau 18 năm đổi mới 1980-1998. Nguyễn Sinh Cúc. Tạp chí Cộng sản số 20
(10/1998) trang 45.
(
1),(2): Thuỷ sản Việt Nam sau 18 năm đổi mới 1980-1998. Nguyễn Sinh Cúc. Tạp chí Cộng sản số 20
(10/1998) trang 45
(3): Tổng quan kinh tế- xã hội năm 1998, triển vọng năm 1999. Nguyễn Sinh. Tạp chí Cộng sản số 1
(1/1999) trang 8.
(4): Kinh tế Thế giới 1998-1999: Đặc điểm và triển vọng. Nhà xuất bản chính tri quốc gia trang 260.
(5): Thành tựu 15 năm phát trtiển kinh tế-Nguyễn Cảnh Hng. Tạp chí Cộng sản số 1 (1/2001) trang 13.
1
12
Năm 1998, xuất khẩu thủy sản đạt 850 triệu USD, tăng 5% so với năm
1997
(4)
. Năm 2000, ngành thủy sản đã đóng góp 25% vào tổng kim ngạch, xuất
khẩu đạt 1,4 tỉ USD, gấp 2,5 lần năm 1995
(5)
. Đây là một thắng lợi to lớn của
ngành thủy sản do có sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất cũng nh cơ cấu đầu t; cơ cấu
mặt hàng và cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu cũng chuyển biến theo hớng đa
dạng hoá gắn với yêu cầu của thị truờng; nhiều cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu
đợc xây dựng mới ở các vùng sản xuất nguyên liệu nh Cà Mau, An Giang thu hút
hàng chục nghìn lao động nông nghiệp, góp phần phân công lại lao động ở nông
thôn. Nhà nớc khuyến khích các thành phần kinh tế khai thác mọi tiềm năng về
vốn và kinh nghiệm, mặt khác tập trung vốn ngân sách, vốn tín dụng u đãi cho
ngành thủy sản.
13
Chơng II
Thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng
nông thủy sản xuất khẩu
I-Các thị trờng chính và tiềm năng:
1-Các thị trờng chính:
Về thị trờng xuất khẩu, hiện nay Việt Nam đang xuất khẩu gạo tới trên 50
nớc và lãnh thổ
(1)
ở tất cả các khu vực nh châu á, châu Âu, châu Phi, châu Mĩ.
Trong đó, thị trờng châu á, châu Phi chiếm 70-90%
(2)
lợng gạo xuất khẩu hàng
năm. Số còn lại là thị trờng châu Âu, châu Mĩ. Các nớc nhập khẩu gạo chính của
Việt Nam ở châu á có thể kể đến là Indônêxia, Philippin, Singapore, các nớc vùng
Trung Đông. ở châu Phi có Angiêri, Nigiêria, Tuynidi, Cônggô, Êtiôpia, Nam
Phi, Libi. ở châu Âu thì chủ yếu là Nga và Đông Âu. ở châu Mỉ thì chủ yếu là
khu vực Mỉ latinh. Thị trờng Châu á, Châu Phi rất dễ tính, không đòi hỏi chất l-
ợng thật cao, chỉ cần giá rẻ nên rất phù hợp với gạo Việt Nam.
Hai năm gần đây và các năm tới, thị trờng lúa gạo thế giới cũng nh thị trờng
của Việt Nam gặp nhiều biến động theo cả 2 chiều hớng tích cực và tiêu cực. Năm
1999 và năm 2000, lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi khiến cho các nớc vốn xuất
khẩu gạo bị giảm sản lợng mạnh, khả năng xuất khẩu hạn chế; còn các nớc vốn đã
nhập khẩu gạo thì lại càng phải nhập nhiều hơn. Điển hình là châu Phi, Trung
Đông và Mĩ latinh vừa qua gặp hạn hán nặng và tình hình chính trị rất bất ổn nên
trong những năm tới họ sẽ phải nhập thêm nhiều. Ngợc lại, những nớc trớc đây
vẫn nhập khẩu lớn gạo của Việt Nam ở châu á là Indônexia, Philippin, Bănglađét
sẽ giảm nhu cầu trong những năm tới. Theo cơ quan hậu cần quốc gia Indônexia,
(
1): Xuất khẩu gạo năm 2000, thời cơ -thách thức- giải pháp. Nguyễn Cảnh Hng Tạp chí
Cộng sản số 8(4/2000) trang 41
(
2): Nâng cao sức cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu ở nớc ta -Nguyễn Đình Long-Tạp chí
Cộng sản số 4 (2/1999) trang 53
14
một vài năm tới nớc này chỉ nhập khoảng 1,8-2 triệu tấn gạo thay vì 3-3,5 triệu
tấn nh trớc. Còn Philippin cũng chỉ nhập 0,5-0,8 triệu tấn, giảm 0,5-0,7 triệu tấn
(1)
.
Sở dĩ nh vậy là vì có sự cạnh tranh giữa gạo của Thái Lan, Trung Quốc và gần đây
là Campuchia với Việt Nam về chất lợng, giá cả và thủ tục. Đây là một nguy cơ
rất lớn đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Nhìn chung, trên thị trờng chính của chúng ta, khả năng phát triển là rất có
hạn bởi vì nh trên đã nói một số nớc nhập khẩu lớn đã dần đi vào ổn định kinh tế,
chính trị, do vậy nhu cầu nhập khẩu gạo của họ giảm. ở châu Phi, Trung Đông và
Mĩ latinh nhu cầu nhập khẩu có tăng, song thị trờng ở đây còn nhỏ bé, hơn nữa
chúng ta lại có nhiều đối thủ cạnh tranh, do vậy tỉ trọng gạo xuất sang khu vực
này của chúng ta sẽ giảm đi và thay vào đó tỉ trọng xuất sang một số thị trờng
tiềm năng mới mở sẽ ngày một tăng lên trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo. Mục
tiêu của chúng ta là cố gắng giữ vững thị trờng truyền thống, tăng cờng, xâm nhập
và mở rộng các thị trờng mới.
Đối với mặt hàng cà phê, hiện nay, chúng ta đã xuất khẩu tới hơn 40 nớc và
lãnh thổ, trong đó chủ yếu xuất sang EU, Bắc Mĩ, Nhật, Singapore. Chủng loại cà
phê xuất khẩu của chúng ta rất nghèo nàn, chủ yếu là cà phê hạt; cho nên chúng ta
thờng xuất sang các nớc phát triển có nền công nghiệp chế biến, để họ sản xuất ra
cà phê tinh chế. Thị trờng cà phê là một thị trờng cực kì bất ổn, luôn có những
biến động rất lớn, gây khó khăn cho các nớc sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân.
Có năm nh niên vụ 1998-1999, giá cà phê lên rất cao khoảng 900-1200 USD/tấn;
nhng năm 1999-2000 giá sụt đi hơn một nửa chỉ còn khoảng 400-550 USD/tấn.
Điều đó có nghĩa là, có năm các nớc nhập khẩu cà phê nhân nhiều, có năm họ
nhập ít.
Trong những năm tới, thị trờng chính của chúng ta vẫn là EU, Bắc Mĩ,
Nhật, và Singapore. Cà phê của chúng ta chất lợng tơng đối tốt mà giá lại rẻ nên
vẫn có sức cạnh tranh trên các thị trờng này.
(
1): Xuất khẩu gạo năm 2000, thời cơ -thách thức- giải pháp. Nguyễn Cảnh Hng Tạp chí
Cộng sản số 8(4/2000) trang 41
1
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét