triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con người nhận biết và cải tạo
thế giới tự nhiên. Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao,
càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng động
của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất
của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm
tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ
quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí. Ngược lại nếu tri
thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng thì tự nó không
có vai trò gì đối với đời sống hiện thực.
Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý
chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức và
luôn hướng tới tri thức.
1.1.2- Nguồn gốc của ý thức.
1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên
Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát triển
từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết
quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và
bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái
đất nói chung đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động tâm lý
của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con người.
Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số
các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của
cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện
và phản xạ có điều kiện.
Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự
tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ
thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất khác.
Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thương thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối
loạn.
Trang 5
Phản ánh cũng là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi
sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của
hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chát
khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ
động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh.
Trong thế giới vô cơ có hình thức phản ánh cơ học,vật lý, hóa học. Đây là
phản ánh đơn giản, thụ động không lựa chọn. Tất cả những biến đổi cơ lý hóa này
tuy do những tác động bên ngoài khác nhau gây ra và phụ thuộc vào các vật phản
ánh khác nhau, nhưng chúng đều là phản ánh của vật chất vô sinh.
Giới hữu sinh có tổ chức cao hơn giới vô sinh. Song bản thân giới hữu sinh
lại tồn tại những trình độ khác nhau tiến hóa từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức
tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể hiện ở trình độ khác nhau tương ứng.
Tính kích thích là hình thức phản ánh đặc trưng cho thế giới thực vật và các động
vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh. Tính cảm ứng hay là năng lực có cảm giác là
hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh. Nét đặc trưng cho phản ánh
này là ngay trong quá trình hệ thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể và môi
trường bên ngoài thông qua phản xạ bẩm sinh hay phản xạ riêng biệt. Do vậy, sinh
vật phản ánh có tính lựa chọn đối với các tính chất riêng biệt của sự vật thành các
cảm giác khác nhau rất đa dạng và phong phú.
Phản ánh tâm lý là hình hức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung
ương. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền với quá
trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đưa lại cho con vật thông
tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối
với đời sống của con vật. Nhờ vậy mà nó có thể lường trước được tất cả những tình
huống có thể xảy ra và chủ động điều chỉnh, lựa chọn đưa ra hành động thích hợp
nhất. Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có khi
xuất hiện con người và xã hội loài người. Sự phản ánh này không thể hiện ở cấp độ
cảm tính như cảm gíac, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn
thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai (ngôn
ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ
động tác động vào sự vật hiện tượng buộc sự vật bộc lộ ra những đặc điểm của
Trang 6
chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu
phát triển xã hội.
1.1.2.1- Nguồn gốc xã hội.
ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so
với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với
quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động, của
giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa
mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người. Chính nhờ lao động mà con
người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển.
Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài người là vượn, người nguyên
thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lượm, săn bắt và ăn thức
ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vượn người đã sáng tạo
ra các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến hóa thành
con người. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa để sinh hoạt và
nướng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán ccầu não phát triển làm
tăng khả năng nhận biết, phản ứng trước các tình huống khách quan. Mặt khác, lao
động là hoạt động có tính toán, có phương pháp mục đích do đó mang tính chủ
động.
Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động của con người vào thế giới
khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ
các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho con người hiểu biết thêm về thế giới
xung quanh, thấy sự vật hiện tượng xung quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay chưa
có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên có thê mang thuộc
tính, đặc điểm của sự vật trước đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên
mới.
Thêm vào đó lao động là qúa trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng
triệu lần phương pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tư duy trừu tượng
của con người.
Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý
thức. Con người thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà người ta nói "Một
Trang 7
kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi", bởi.vì trứơc khi xây một ngôi nhà
người kiến trúc sư đã phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà còn con ong chỉ
là xây tổ theo bản năng. Qua lao động bộ óc con người hình thành và hoàn thiện.
Ăng ghen nói" Sau lao đọng và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, nó là hai sức
kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần
chuyển biến thành bộ óc người.''
Sau đây ta xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức.
Ngôn ngữ được coi là 'cái vỏ vật chất" của tư duy, khi mà con người có biểu hiện
liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức lao động tất yếu dẫn đến nhu cầu
" cần nói với nhau một cái gì" đó chính là ngôn ngữ.Với sự xuất hiện của ngôn ngữ,
tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành "hiện thực trực tiếp", trở thành tín
hiệu vật chất tác động vào giác quan của con người, gây ra cảm giác. Do vậy, qua
ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm cho
nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại ý thức xã hội
thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ ngôn ngữ mà phản ánh ý thức mới
có thể thực hiện như là sự phản ánh gián tiếp, khái quát và sáng tạo. Vì vậy ngôn
ngữ trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sự trừu tượng hóa,
khái quát hóa hay nói cách kháclà của quá trình hình thành, thực hiện ý thức. Nhờ
khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa mà con người có thể đi sâu vào hơn vào thế
giới vật chất, sự vật hiện tượng? đồng thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn
bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý
tư duy và văn hóa con người và xã hội loài người.
1.1.3- Bản chất của ý thức.
1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo.
ý thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài,
từ vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín phản ánh quy
định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền
đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan.
ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân lao
đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người. ý thức
không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu
Trang 8
thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn
thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ
động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt
chủ quan của ý thức. ý thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền với hoạt
động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có chọn lọc tồn tại dưới hình
thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách
quànva sự vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính.
Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hiện
thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất
phát, là cơ sở của sáng tạo. Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản
ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý
thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức. Vì
vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đã
được di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong đó. Nói cách khác, ý
thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Biểu hiện của sự phản ánh và
sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tư
tưởng. Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dưới
hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng mới, tự nhiên
"mới" tự nhiên "thứ hai" của con người.
1.1.3.2- Bản tính xã hội.
ý thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của
con người. Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với
nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. Do đó mà khái niệm hoạt đọng
xã hội ra đời. ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, ý thức trước hết là tri
thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về
mối liên hệ giữa người với người trong xã hội. Do đó ý thức xã hội được hình thành
cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân
vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những
nét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định.
Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của
mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân
Trang 9
loại nói chung. Tự tách ra khỏi môi trường xã hội con người không thể có ý thức,
tình cảm người thực sự. Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản
thân và xã hội. Ta phải học làm người qua môi trường xã hội lành mạnh.
Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng
tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữa
vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người.
1.1.4 – Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
Vật chát quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con người. Nhưng nếu chỉ thấy vai
trò quyết định của vật chất đối với ý thức mà không thấy được tính năng động tích
cực của ý thức đối với vật chất thì sẽ mắc phải khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật
siêu hình.chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng :”ý thức của con người không phải
là sự phản ánh giản đơn ,mà là sự phản ánh tích cực của thế giới vật chất “
Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con người phát triển
song song với quá trình đó và có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật
chất.Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiện
nào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiện thực.
Khi con người có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tích
cực.Con người sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ra
những mực tiêu ,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất,
thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn.
Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự
phát triển của thế giới vật chất.Do những tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến
chiến , đến những chiến lược phát triển kinh tế không hiệu quả No kéo lùi sự phát
triển của xã hôị. ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống ,những tâm tư
tình cảm của con người không phụ thuộc vào vật chẩt .Dựa vào đặc tính này của vật
chất con người có thể cố phấn đấu đi lên bắng lao động và học tập ,xây dựng đất
nước và xã hội giàu mạnh hơn ,công bằng hơn.
1.2 Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội.
1.2.1- Khái niệm về khoa học
Trang 10
Khoa học có nhiều định nghiã khác nhau. Với tính cách là một lĩnh vực đặc
thù của con người khoa học bao gồm hoạt động tinh thần, hoạt động vật chất, hoạt
động lý luận và hoạt động thực tiễn xã hội. Với tính cách là một hình thái xã hội,
khoa học là một hệ thống tri thức khái quát, được hình thành, phát triển và kiểm
nghiệm trên cơ sở thực tiễn. Khoa học phản ánh một cách chân thực các mối liên hệ
bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Từ đó thấy rằng: Khoa học khác tôn giáo ở chỗ phản ánh một cách chân thực
hiện thực, sự hình thành, phát triển của thế giới khách quan và được kiểm nghiệm
qua thực tiễn; còn tôn giáo phản ánh hiện thực một cách hư ảo với niềm tin mù
quáng xa rời thực tiễn. Sự phản ánh của khoa học khác với các hình thái ý thức xã
hội khác ở chỗ phản ánh đúng đắn, chân thực những gì đang diễn ra và đi sâu vào
các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động phát triển của hiện thực.
Hình thức biểu hiện chủ yếu của khoa học là các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học bao hàm cả tự nhiên, xã hội và bản thân
con người, các lĩnh vực vật chất, tinh thần và cả các hình thái ý thức xã hội.
1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội.
Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động thực tiễn.
Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội.
Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó
thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những nghành sản xuất
mới, công nghệ mới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức không thể
thiếu được của người lao động, biến người lao đọng thành người điều khiển kiểm
tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất ngày một đông. Bản thân khoa học cũng trở thành một lĩnh
vực hoạt động sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn.
Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, các khoa học xã hội như
kinh tế học, luật học, xã hội học cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò
quan trọng trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư duy sáng tạo, tầm nhìn sâu
rộng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm được cơ sở
Trang 11
khoa học thực tế thì mới hoạch định được chính sách, đường lối phát triển của một
tổ chức hay một quốc gia.
Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh tiến
bộ.
Trang 12
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC ĐỐI VỚI THỰC TIỄN NƯỚC TA
HIÊN NAY
2.1. Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học được xem là nền tảng và động
lực của sự phát triển đất nước. Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học
đã giúp Đảng có một sự định hướng đúng đắn về đuường lối chính sách phát triển
của đất nước; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: Công nghiệp,
Nông nghiệp, du lịch dịch vụ, Khoa học công nghệ Nói đến vai trò nền tảng và
động lực của tri thức Khoa học trong công cuộc đổi mới là nối đến con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở Khoa học và công nghệ, coi khoa học-công
nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu. Quan điểm này cho tấy rõ sự quyết
tâm và lựa chọn sáng suốt của đảng ta trong đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm và
đổi mới phương thức phát triển phù hợp với những đòi hởi phải tiến hành công
nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền
vững trong những thập niên đầu của thế kỷ 21.
Nhìn lại thế kỷ 20 đã qua chúng ta thấy có những đổi thay to lớn do khoa
học-công nghệ mang lại. Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm nước mới công
nghiệp hoá( NIC ) sau chiến tranh thế giới tthứ 2 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng
lan toả của các thành tựu khoa học - công nghệ thông qua quá trình chuyển giao
công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các
nước NIC đã tận dụng được cơ hội tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, thay
đổi phương thức sản xuất cũ vốn dựa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu
để chuyển sang aps dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra các
giá trị gia tăng cao thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế. Nhờ đi theo con
đường công nghiệp hoá dự hẳn vào Khoa học-công nghệ mà một số nước đã rút
ngán được thời gian cần thỉ\ết để làm tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người.
Trước kia, nước Anh phải mất 58 năm, Mỹ mất 47 năm thì giờ đây Braxin chỉ mất
18 năm, Hàn Quốc 11 năm và Trung quốc chỉ trong vòng 10 năm. Ta có thể so sánh
Hàn Quốc và Gana vào những năm 60 và bây giờ. Điểm xuất phát hai nước đều có
Trang 13
mức thu nhập bình quân đầu người như nhau, đều là các quốc gia chậm phát triển.
Vậy mà ngày nay, thu nhập đầu người của Hàn Quốc đã gấp 6 lần của Gana. vì sao
có sự cách biệt lớn lao như vậy? Đó là do Hàn Quốc đã thu nhận và sử dụng trí thức
Khoa học sáng tạo và phù hợp với thực tiễn hơn.
Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy: ở đâu có sự sáng tạo
trong công cuộc đổi mới các giải pháp về Khoa học-công nghệ thì ở đó có sự tiến bộ
vượt bậc. Thử hỏi nếu Việt Nam vẫn giữ nền kinh tế tập trung bao cấp chưa chuyển
sang nền kinh ế hàng hoá nhiều thành phần thì hiện giờ đất nước chúng ta sẽ ra sao.
Về Nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong
nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách
trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một
yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại. Chính
sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn.
Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất
như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao
của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ
thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển. ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật
liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra
nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân.
Về công nghiệp qua trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút
vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới - Khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10%
GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng
vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi. Ví
dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk từ tình trạng vô cùng khó khăn đã
vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại.
Trong các ngành, Bưu chính viễn thông, khia thác dầu khí và các ngành
nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào Kỹ thuật công nghệ hiện
đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn đinh. Văn hoá-giáo dục
được nâng cấp, đầu tư cơ sở một cách thoả đáng.
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét