Chuyên đề tốt nghiệp
tượng của bán buôn rất đa dạng và phong phú có thể là cơ sở sản xuất, đơn vị
kết quả tiêu thụ hàng hoá thương mại trong nước và ngoài nước hoặc các
công ty thương mại tư nhân.
Đặc trưng của phương thức này là kết thúc nghiệp vụ bán hàng, hàng
hoá vẫn nằn trong lĩnh vực lưu thông, chưa đivào lĩnh vực tiêu dùng. Hàng
bán theo phương thức này thường là với khối lượng lớn và nhiều hình thức
thanh toán. Do đó muốn quản lý tốt thì phải lập chứng từ cho từng lần bán .
Khi thực hiện bán hàng, bên mua sẽ có người đến nhận hàng trực tiếp
tại kho của doanh nghiệp. Khi người nhận đã nhận đủ số hàng và ký xác nhận
trên chứng từ bán hàng thì số hàng đó không thuoọc quyền sở hữu của doanh
nghiệp nữa mà được coi là hàng đã bán. Khi bên mua trả tiền hoặc chấp nhận
thanh toán thì doanh nghiệp hạch toán vào doanh thu và doanh nghiệp phải
thực hiện nghĩa vụ Nhà nước.
Chứng từ kế toán sử dụng là hoá đơn GTGT hoặc phiếu xuất kho do
doanh nghiệp lập, chứng từ này được lập thành 3 liên: 1 liên giao cho người
nhận hàng, 2 liên chuyển cho phòng kế toán để làm thủ tục thanh toá.
- Bán lẻ:
Theo hình thức này, hàng hoá đượcbán trực tiếp cho người tiêudùng,
bán lẻ là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động của hàng hoá từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu dùng. Đối tượng của bán lẻ là mọi cá nhân trongvà ngoài
nước muốn có một giá trị sử dụng nào đó không phân biệt giai cấp, quốc tịch.
Đặc trưng cùa phương thức bán lẻ làkết thúc nghiệp vụ bán hàng thì
sản phẩm rời khỏi lĩnh vực lưu thông đi vào lĩnh vực tiêu dùng giá trị sử dụng
của sản phẩm được thực hiện. Hàng bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, và
thanh toán ngay và thường bằng tiền mặt nên thường ít lập chứng từ chotừng
lần bán. Bán lẻ đượcchia làm 2 hình thức:
+.Bán lẻ thu hồi trực tiếp .
+ Bán lẻ thu hồi tập trung.
b. Phương thức tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng chờ chấp
nhận.
Căn cứ vào hợp đồng đã ký, đến ngày giao hàng, doanh nghiệp sẽ xuất
kho để chuyển hàng cho bên mua bằng phương tiện của mình hoặc đi thuê
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Chuyên đề tốt nghiệp
ngoài đến địa điểm đã ghi trong hợp đồng, chi phí vận chuyển này do bên nào
chịu tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên và được ghi trong hợp đồng kinh
tế. Hàng gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, khi người mua
thông báo đã được nhận hàng vàchấp nhận thanh toán thì số hàng đó được coi
là tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán và doanh thu.
Chứng từ sử dụng trong trường hợp này là hoá đơn GTGT hoặc hoá
đơn kiêm phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập, chứng từ này được lập thành 4
liên: 1 liên gửi cho người mua, 2 liên gửi cho phòng kế toán để làm thủ tục
thanh toán, 1 liên thủ kho giữ .
c. Phương thức bán hàng qua các đại lý ( ký gửi) .
Hàng hoá gửi đại lý bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và
chưa được coi là tiêu thụ.Doanh nghiệp chỉ được hạch toán và doanh thu khi
bên nhận đại lý thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán. Khi bán được
hàng thì doanh nghiệp phải trả cho người nhận đạ ilý một khoản tiền gọi là
hoa hồng. Khoản tiền này được coi như một phần chi phí bán hàng và được
hạch toán vào tài khoản bán hàng .
Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ mà không được trừ đi phần
hoa hồng trả cho bên nhận đạilý.
* Các trường hợp hàng hoá gửi đi được coi là tiêu thụ .
- Hàng hoá bán bán theo phương thức bán hàng trực tiếp.
- Hàng hoá gửi bán chỉ được coi làtiêu thụ và hạch toán vào doanh thu
và giá vốn trong các trường hợp sau :
+ Doanh nghiệp nhận được tiền do khách hàng trả.
+ Khách hàng đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.
+ Khách hàng đã ứng trước số tiền mua hàng về số hàng sẽ chuyển đến.
+ Số hàng gửi bán áp dụng phương thức thanh toán theo kế hoạch
thông qua nhân hàng.
d. Phương thức bán hàng trả góp:
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng
chuyển giao được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu lượng
hàng đó. Theo phương thức này người mua sẽ trả tiền làm nhiều lần theo hợp
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Chuyên đề tốt nghiệp
đồng ban đầu và giá bán bao giờ cũng cao hơn giá bán theo phương thức
thông thường. Phần chênh lệch này chính là tiền lãi phát sinh do khách trả
chậm, trả nhiều lần, số tiền lãi này được hạch toán vào toản thu nhập của
hoạt động tài chính. Doanh nghiệp bán hàng được phản ánh ngay tại thời
điểm giao hàng cho khách hàng theo giá bán lẻ bình thường. Người mua sẽ
thanh toán lần đầu tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp nhận
thanh toán dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi xuất nhất định.
Thông thường số tiền thanh toán ở các kỳ bằng nhau, trong đó một phần là
doanh thu gốc một phần là lãi suất trả chậm.
e. Phương thức tiêu thụ nội bộ.
Tiêu thụ nội bộ là việc mua bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ
giữa các đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc
với nhau trong cùng một công ty, tập đoàn, liên hiệp các xí nghiệp Ngoài ra,
coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm các khoản sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất
biếu, tặng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt động sản xuất kết quả
tiêu thụ hàng hoá.
4. Nhiệm vụ của kế toán trong quản lý tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả kết quả tiêu thụ hàng hoá.
Để đáp ứng yêu cầu nói trên, kế toấn tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả kết quả tiêu thụ hàng hoá có những nhiệm vụ sau:
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, chính xác và kịp thời khối lượng và
hàng hoá bán ra và giá vốn chính xác của chúng nhằm xác định đúng kết quả
kết quả tiêu thụ hàng hoá nói chung hoặc từng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá,
hàng hoá riêng lẻ nói riêng, các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp, cũng như phân bổ chúng cho các đối tượng có liên quan.
- Xác định chính xác kết quả của từng loại hoạt động sản xuất kết quả
tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp, phản ánh, giám đối tình hình phân phối
lợi nhuận.
- Lập và gửi báo cáo tiêu thụ, doanh thu, kết quả kết quả tiêu thụ hàng
hoá theo yêu cầu quản lý của ban lãnh đạo. Định kỳ phân tích kinh tế đối với
hoạt động tiêu thụ hàng hoá, thu nhập và phân phối lợi nhuân, tư vấn cho ban
lãnh đạo lựa chọn phương án kết quả tiêu thụ hàng hoá cnó hiệu quả nhất.
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Chuyên đề tốt nghiệp
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả kết quả tiêu thụ hàng hoá cần thực tốt các nội dung sau:
Thứ nhất: Tổ chức tốt hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu và trình tự
luân chuyển chứng từ.
Thứ hai: Kế toán phải đầy đủ các chứng từ hợp pháp ban đầu quy định
từng nghiệp vụ tiêu thụ, tổ chức luân chuyển chứng từ ghi sổ kế toán một
cách khoa học, hợp lý nhằm phản ánh được các số liêụ phục vụ cho công tác
quản lý sản xuất, kết quả tiêu thụ hàng hoá,tránh ghi chép trùng lặp không cần
thiết, nâng cao hiệu quả của công tác kế toán.
Thứ ba: Báo cáo kịp thời, thường xuyên tình hình tiêu thụ hàng hoá và
thanh toán theo từng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá, từng hợp đồng kinh tế,
từng đối tượng thanh toán Đảm bảo yêu cầu quản lý, giám đốc hàng bán
trên các yếu tố: số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian
Thứ tư: Tổ chức vận dụng tốt hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ
sách kế toán sao cho phù hợp với đặc điểm sản xuất, kết quả tiêu thụ hàng hoá
của doanh nghiệp.
II. HẠCH TOÁN CHI TIẾT HÀNG HOÁ
1. Chứng từ sử dụng: Bao gồm các chứng từ chủ yếu sau:
- Phiếu nhập kho.
- Phiếu xuất kho.
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.
- Biên bản kiểm kê.
- Hoá đơn GTGT.
- Hoá đơn bán hàng (nếu có)
Ngoài các chứng từ sử dụng bắt buộc thống nhất theo quy định của Nhà
nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán có tính chất
hướng dẫn hoặc chứng từ kế toán đặc thù tự tin (Nếu được phép của Bộ tài
chính hoặc Tổng cục thuế) tuỳ thuộc và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về
lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau.
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Các phương pháp hạch toán chi tiết hàng hoá.
a. Phương pháp ghi thẻ song song.
- Nguyên tắc của phương pháp.
+ Kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập xuất, tồn về hiện vật.
+ Phòng kế toán: Ghi chép sự biến động của hàng hoá về hiện vật, giá
trị trên sổ chi tiết.
- Trình tự ghi chép:
+ Ở kho: Ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho hàng hoá do thủ kho
tiến hành theo chỉ tiêu số lượng trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất.
+ Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toan chi tiết để ghi
chép tình hình nhập, xuất, tồn kho theo chỉ tiêu số lượng trên cơ sở các chứng
từ nhập, xuất do thủ kho gửi lên sau khi đã được kiểm tra hoàn chỉnh và đầy
đủ. Cuối tháng, sau khi xác định được giá trị hàng hoá nhập, xuất, tồn kế toán
mới tiến hành ghi sổ (thẻ) chi tiết theo chỉ tiêu giá trị.
- Sơ đồ phương pháp ghi thẻ song song
* Ưu điểm: Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu.
* Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và bộ phận kế toán còn trùng
lặp về chỉ tiêu số lượng. Việc kiểm tra đối chiếu thường tiến hành vào cuối
tháng nên hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán.
* Phạm vi sử dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có ít chủng loại
hàng hoá, nghiệp vụ nhập, xuất ít, không thường xuyên, trình độ chuyên môn
của kế toán thấp.
b. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
- Nguyên tắc:
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Chứng từ
nhập
Thủ kho
Sổ kế toán chi tiết
Chứng từ
xuất
Bảng kê tổng hợp
N - X - T
Giải thích sơ đồ:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn về hiện vật.
+ Phòng kế toán: Ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của hàng hoá
cả về giá trị lẫn hiện vật trên sổ đối chiếu luân chuyển.
- Trình tự ghi chép:
+ Ở kho: Việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ
kho như phương pháp thẻ song song.
+ Ở phòng kế toán: kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép
tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng loại hàng hoá theo cả hai chỉ tiêu: số
lượng và giá trị ở từng kho dùng cho cả năm, mỗi tháng chỉ ghi một lần vào
cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán lập bảng
kê nhập, xuất cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu
luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.
- Sơ đồ phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
* Ưu điểm: Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt (Chỉ ghi
một lần vào cuối tháng).
* Nhược điểm: Việc ghi sổ vẫn còn trùng lặp, việc kiểm tra đối chiếu
giữa kho và phòng kế toán chỉ tiến hành vào cuối tháng nên hạn chế tác dụng
kiểm tra trong công tác quản lý.
* Phạm vi sử dụng: Thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất ít các
nghiệp vụ nhập, xuất, không bố trí riêng kế toán chi tiết hàng hoá và không có
điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình nhập, xuất hàng ngày.
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Bảng kê nhập
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê xuất
Chứng từ xuất
Ghi chú:
Ghi hàng ngày hoặc định kỳ
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Chuyên đề tốt nghiệp
c. Phương pháp sổ số dư.
- Nguyên tắc:
+ Kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn về hàng hoá.
Cuối tháng trên cở tồn cuối tháng trên thẻ kho về hiện vật vào sổ số dư do kế
toán lập, được ghi vào cột số lượng.
+ Phòng kế toán: Ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của hàng hoá
trên bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn.
- Trình tự ghi chép:
+ Ở kho: Ngoài việc hạch toán giống như hai phương pháp trên, thủ
kho còn sử dụng sổ số dư để ghi chép chỉ tiêu số lượng của hàng hoá. Sổ này
do kế toán lập cho từng kho và sử dụng trong cả năm. Hàng tháng, vào ngày
cuối tháng thì kế toán chuyển sổ số dư cho thủ kho. Thủ kho sau khi cộng số
liệu nhập, xuất trong tháng và tính ra số lượng tồn cuối tháng của từng loại
hàng hoá trên thẻ kho. Căn cứ vào số liệu này để ghi vào sổ số dư theo từng
loại hàng hoá.
+ Ở phòng kế toán: Định kỳ kế toán xuống kho để kiểm tra việc ghi
chép trên thẻ kho của thủ kho. Sau đó nhận chứng từ nhập xuất về phòng kế
toán và tiến hành hoàn thiện phân loại theo từng nhóm, loại hàng hoá. Kế toán
tổng hợp giá trị của chúng theo từng nhóm, loại để ghi vào bảng kê nhập hoặc
bảng kê xuất hàng hoá rồi căn cứ vào số liệu trên các bảng kê này để ghi vào
bảng kê luỹ kế nhập, xuất.
Cuối tháng căn cứ vào số liệu trên cột tổng cộng ở bảng luỹ kế để ghi
vào bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho hàng hoá. Sau đó tính ra số tồn kho
theo nhóm, loại để ghi vào bảng kê luỹ kế.
Cũng ở thời điểm cuối tháng, sau khi nhận được sổ số dư do thủ kho
chuyển lên, kế toán căn cứ vào số lượng và đơn giá của từng loại hàng hoá
tồn kho để tính ra chỉ tiêu giá trị của số dư và ghi vào cột "thành tiền" trên sổ
số dư. Số liệu này được đối chiếu với số liệu cột tồn kho trên bảng tổng hợp
và hai số liệu này phải trùng nhau.
- Sơ đồ Phương pháp sổ số dư.
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Phiếu nhập
kho
Sổ số dư
Phiếu giao
nhận chứng
từ nhập
Chuyên đề tốt nghiệp
III. HẠCH TOÁN TỔNG HỢP TIÊU THỤ HÀNG HOÁ.
1. Hạch toán tiêu thụ hàng hoá theo phương pháp kê khai thường xuyên.
a. Các chứng từ kế toán sử dụng.
- Hoá đơn GTGT.
- Hoá đơn bán hàng.
- Hoán đơn tự in, chứng từ đặc thù.
- Bảng kê bán lẻ.
- Giấy báo Có của ngân hàng, phiếu thu
b. Các tài khoản kế toán sử dụng.
- Tài khoản 156 - Hàng hoá: Tài khoản này được sử dụng để phản ánh
giá trị hiện có, tình hình biến động của các loại hàng hoá nhập kho của doanh
nghiệp theo giá thành thực tế (giá thành công xưởng thực tế)
Bên Nợ: Các Nghiệp vụ ghi tăng
Bên Có: Các Nghiệp làm giảm giá
Dư Nợ: Giá thành thực tế
- Tài khoản 157 - Hàng gửi bán: Tài khoản này được sử dụng để theo
dõi giá trị sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng, nhờ
đại lý, ký gửi, hay giá trị lao vụ dịch vụ đã hoàn thành bàn giao cho người đặt
hàng, người mua nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.
Bên Nợ: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ gửi bán, đại lý
hoặc đã thực hiện với khách hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.
Bên Có: + Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã được khách
hàng thanh toán hoặ chấp nhận thanh toán.
+ Giá trị hàng gửi bán bị từ chối, trả lại.
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Kế toán
tổng hợp
Bảng kê luỹ
kế nhập -
xuất - tồn
Phiếu giao
nhận chứng
từ xuất
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
Chuyên đề tốt nghiệp
Dư nợ: Giá trị hàng gửi bán chưa được chấp nhận.
- Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng: Tài khoản này được dùng để
phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp và các khoản
giảm doanh thu. từ đó tính ra doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ. Tổng số
doanh thu bán hàng ghi nhận ở đây có thể là tổng giá thanh toán (Với các
doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp cũng như đối với
các đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt) hoặc giá không có
thuế GTGT (Với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ).
Bên Nợ: + Số thuế phải nộp (tiêu thụ đặc biệt, xuất khẩu) tính trên
doanh số bán trong kỳ.
+ Giảm giá hàng bán và doanh thu của hàng bán bị trả lại (kết
chuyển trừ vào doanh thu).
+ Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911.
Bên Có: Tổng số doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong
kỳ.
Tài khoản 511 cuối kỳ không có số dư.
Tài khoản này được chi tiết thành 4 tiểu khoản.
+ Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hoá.
+ Tài khoản 5112 - Doanh thu bán thành phẩm.
+ Tài khoản 5111 - Doanh thu cung cấp dịch vụ.
+ Tài khoản 5111 - Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
- Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng nội bộ: Tài khoản này được
dùng để phản ánh doanh thu của số hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, sản phẩm tiêu
thụ nội bộ giữa các xí nghiệp trực thuộc trong cùng một Tổng công ty, công
ty tập đoàn
Tài khoản này được mở chi tiết thành 3 tiểu khoản.
+ Tài khoản 5121 - Doanh thu bán hàng hoá.
+ Tài khoản 5122 - Doanh thu bán sản phẩm.
+ Tài khoản 5123 - Doanh thu cung cấp dịch vụ.
(Nội dung phản ánh tương tự như tài khoản 511)
Vũ Thị Hay - KTC - K13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán: Tài khoản này dùng để theo dõi
giá vốn của hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ.
Bên Nợ: Giá vốn của hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã cung cấp (đã được
coi là tiêu thụ trong kỳ).
Bên có: Kết chuyển giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản 632 cuối kỳ không có số dư
Ngoài ra trong quá trình hạch toan tiêu thụ hàng hoá kế toán còn phải
sử dụng một số tài khoản sau: TK 333, TK 521, Tk 531, TK 532, TK 111, TK
112
c. Trình tự hạch toán.
* Phương thức hạch toán bán buôn: Hạch toán theo sơ đồ sau.
(1) Xuất kho hàng hoá theo giá vốn.
(2) Tổng giá thanh toán có thuế GTGT.
* Phương thức bán lẻ: Hạch toán theo sơ đồ sau.
(1) Chuyển hàng xuống cửa hàng bán lẻ.
(2) Giá vốn hàng bán được xác định là tiêu thụ.
(3) Tổng giá thanh toán có thuế GTGT.
* Phương thức tiêu thụ hàng hoá theo phương thức chuyển hàng chờ chấp
nhận: Hạch toán theo sơ đồ.
Vũ Thị Hay - KTC - K13
TK 156 TK 632 TK 511 TK 111, 112
(1)
TK 3331
(2)
TK 156- Kho TK 156- Cửa hàng TK 632 TK 511 TK 111, 112
(1)
TK 3331
(3)
(2)
TK 156 TK 157 TK 632 TK 511 TK 111, 112
(1)
TK 3331
(3)
(2)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét