Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Thực trạng quản lý thu - chi của bhxh việt nam.doc

+ Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, trong các tổ chức, cơ quan
nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc
tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia ký kết có quy định
khác.
+ Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc
cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể.
+ Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lượng vũ trang.
+ Người giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý
Nhà nước, Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến cấp huyện.
+ Công chức, viên chức Nhà nước làm việc trong các cơ quan hành
chính sự nghiệp; người làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung
ương đến cấp huyện.
Các đối tượng đi học, thực tập, công tác điều dưỡng trong và ngoài
nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tượng thực
hiện BHXH bắt buộc.
- Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập cơ
quan BHXH Việt Nam. Từ ngày 1/10/1995, hệ thống BHXH Việt Nam bước
vào hoạt động trên phạm vi toàn quốc, sự ra đời và hình thành của BHXH
Việt Nam là một bước ngoặt lớn, quan trọng trong quá trình phát triển của
BHXH Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ
BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân
đội nhân dân và công an nhân dân. Các chế độ trong Điều lệ BHXH áp dụng
cho lực lượng vũ trang này gồm có: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ thai sản,
chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
- Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ ban
hành sửa đổi, bổ sung Nghị định 50/CP ngày 26/07/1995 của Chính phủ về
chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
- Nghị định số 73/1998/NĐ-CP ngày 19/08/1999 của Chính phủ về
chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo
dục, y tế, văn hoá, thể thao. Quy định người lao động làm việc trong các cơ sở
ngoài công lập trong các các lĩnh vực kể trên được tham gia và hưởng mọi
quyền lợi như người lao động trong các đơn vị công lập.
- Nghị định 52/1999/NĐ-CP của Chính phủ quy định người lao động và
chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài phải tham gia
BHXH bắt buộc và được hưởng các chế độ hưu trí và tử tuất.
- Quyết định số 37/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc
nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho người lao động tham gia BHXH; quy
định thực hiện chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ đối với người lao
động tham gia BHXH có từ đủ 3 năm trở lên tại cơ quan, đơn vị mà bị suy
giảm sức khoẻ; sau khi điều trị do ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp mà chưa phục hồi sức khoẻ hoặc lao động nữ yếu sức khoẻ sau khi
nghỉ thai sản.
Trong giai đoạn này, sự thay đổi quan trọng nhất trong quản lý BHXH
là việc quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất với một ngành quản lý
và thực hiện các chính sách về BHXH của Nhà nước. Việc tập trung quản lý
tạo ra sự thống nhất trong các hoạt động BHXH, việc chỉ đạo, phối hợp, kết
hợp các hoạt động BHXH được chính xác nhịp nhàng, tránh được sự phân tán
trong hoạt động BHXH như ở giai đoạn trước năm 1995.
2.2. Về việc tổ chức thực hiện
Để triển khai việc thực hiện chính sách và chế độ BHXH, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH;
ngày 26/09/1995, Chính phủ ban hành Quyết định 606/TTg ban hành quy chế
tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam, theo đó "BHXH Việt Nam được
thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức các tổ chức BHXH hiện nay ở
Trung ương và địa phương do hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đang quản lý giúp Thủ tướng Chính phủ
chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo
pháp luật của Nhà nước".
BHXH Việt Nam được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng
Chính phủ, chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, các cơ quan Nhà nước về các lĩnh vực có liên quan và sự giám sát của các
tổ chức công đoàn; cũng theo đó, tổ chức bộ máy của BHX Việt Nam được tổ
chức như sau:
- Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của
BHXH Việt Nam.
- BHXH Việt Nam được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương tới địa
phương, gồm có:
+ Cấp Trung ương: BHXH Việt Nam
+ Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố
trực thuộc BHXH Việt Nam.
+ Cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là BHXH quận,
huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THU - CHI BHXH Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN TRƯỚC NĂM 1995
1. Thực trạng quản lý thu - chi BHXH
1.1. Thu BHXH
Theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 quy định Tổng Công đoàn
Việt Nam (nay là Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) quản lý toàn bộ sự
nghiệp BHXH của cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước. Theo quy định,
Tổng công đoàn Việt Nam thực hiện thu 4,7% so với tổng quỹ tiền lương để
hình thành quỹ BHXH. Chính vì vậy, Tổng Công đoàn Việt Nam ra Quyết
định 364 ngày 2/4/1962 xây dựng nguyên tắc quản lý và phân cấp việc thu chi
BHXH. Công tác quản lý thu BHXH được quy định cụ thể cho từng cấp theo
nguyên tác cấp trên duyệt dự toán của cấp dưới theo hàng quý, hàng năm.
Việc thu nộp BHXH từ các cấp công đoàn cơ sở lên các đơn vị công đoàn cấp
trên được tính theo phương pháp thu chênh lệch giữa số phải nộp và số tạm
ứng chi cho các chế độ BHXH. Do phương thức thu như vậy đã đáp ứng được
một số yêu cầu về quản lý, phù hợp với thực tế tổ chức cán bộ và trình độ,
năng lực quản lý của cán bộ.
Sau đó, Hội đồng Chính phủ ban hành tiếp Nghị định 31/CP ngày
20/03/1963 điều chỉnh lại trách nhiệm quản lý quỹ BHXH và các chế độ.
Theo đó, Tổng Công đoàn Việt Nam có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực
hiện các chế độ BHXH ngắn hạn, bao gồm: chế độ ốm đau thai sản, tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp và quản lý sự nghiệp BHXH. Do đó, Tổng
Công đoàn chỉ thu BHXH ở ba chế độ như trên. Cũng theo Nghị định 31/CP,
Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
quản lý ba chế độ dài hạn: chế độ hưu trí, tử tuất và mất sức lao động.
Để thực hiện việc phân định rõ trách nhiệm thực hiện công tác BHXH
giữa hai cơ quan trên, Hội đồng Chính phủ có Quyết định 62/CP ngày
10/07/1964 về việc trích phần quỹ BHXH giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội) quản lý. Theo đó, Tổng Công đoàn Việt Nam
chỉ thực hiện thu 3,7% so với tổng quỹ tiền lương của công nhân, viên chức.
Kể từ ngày 01/01/1986, mức thu được nâng lên là 5% so với tổng quỹ tiền
lương của cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước được quy định tại Quyết
định 131/HĐBT ngày 30/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, Tổng Công đoàn
Việt Nam chỉ thực hiện thu theo tỷ lệ này đến khi giao trách nhiệm quản lý
thu - chi cho hệ thống BHxH Việt Nam mới thành lập (1/7/1995) thực hiện.
Mức thu BHXH thời kỳ này có nhiều thay đổi như: ở Nghị định218/CP
còn có hiệu lực thì mức thu là 1%, sau đó đượcnâng lên 10% khi thực hiện
Quyết định 40/HĐBT ngày 16/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, mức thu lại
được nâng tiếp lên 15% ở thời kỳ thi hành Nghị định 43/CP ngày 22/06/1995.
Công tác thu BHXH chủ yếu thuộc trách nhiệm của ngành Lao động -
Thương binh và Xã hội, tuy nhiên do một số nguyên nhân khác nhah (về bộ
máy, cán bộ, cách thức chỉ đạo…) nên một mình ngành Lao động - Thương
binh và Xã hội không thể hoàn thành được công tác thu BHXH, do dó mà
ngành Lao động - Thương binh và Xã hội phải ký kết hợp đồng thu BHXH
thông qua các cơ quan Tài chính, Thuế, Kho bạc. Khi các cơ quan này hoàn
thành xong trách nhiệm thu BHXH theo hợp đồng đã ký kết với ngành Lao
động - Thương binh và Xã hội thì bản thân họ cũng được nhận một khoảng lệ
phí thu từ 0,25 đến 0,5% tính trên tổng số tiền thực thu BHXH. Với phương
thức thu như trên, cơ quan quản lý thu BHXH không nắm chắc được đối
tượng, dẫn tới việc thu BHXH đạt hiệu quả thấp, nguyên tắc thu đúng, thu đủ
không còn được tuân thủ nghiêm túc.
Chính vì vậy, trong tờ trình lên Thủ tướng Chính phủ số 01/LĐTBXH-
BHXH ngày 29/01/1993 về việc cải cách chế độ, chính sách BHXH của bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội đã có đoạn nhận xét về công tác thu
BHXH như sau: "Theo quy định hàng tháng, các cơ quan, các đơn vị đóng
15% tổng quỹ tiền lương để thực hiện BHXH, trong đó phàn Nhà nước thu
theo kế hoạch là 8%, nhưng trên thực tế chỉ thu được 20% của 8% để chi cho
các chế độ hưu trí, mất sức lao động và tiền tử tuất; còn lại 2% để lại cơ sở trợ
cấp khó khăn; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thu 5% để chi cho ba chế
độ ốm đau, thai sản, nên mức thu được quá thấp, Ngân sách Nhà nước cấp bù
năm sau cao hơn năm trước".
Trong thời kỳ này, việc thu BHXH hình thành quỹ BHXH không đúng
với những nội dung, bản chất của nó, Nghị định 218/CP quy định "Quỹ
BHXH của Nhà nước là quỹ độc lập thuộc Ngân sách Nhà nước" (điều 66),
như vậy nguồn thu BHXH cũng chỉ là một trong những nguồn thu của Ngân
sách Nhà nước mà chưa được phản ánh đúng nội dung thu của nó. Ngay tại
Nghị định 43/CP ngày 22/06/1993 cũng có quy định "Quỹ BHXH được quản
lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được
Nhà nước bảo hộ", tuy nhiên do hệ thống tổ chức bộ máy quản lý không theo
ngành dọc (các phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thuộc Uỷ ban nhân
dân các huyện; các Sở lao động - Thương binh và Xã hội thuộc Uỷ ban Nhân
dân tỉnh, thành phố), phương thức thực hiện thu BHXH không thống nhất,
thiếu sự đồng bộ, chưa phù hợp với những yêu cầu thực tế đặt ra, do đó mà
việc thu BHXH thời kỳ này cũng chưa thực sự phản ánh đúng được bản chất
của việc thu BHXH.
1.2. Chi BHXH
Theo Nghị định 218/CP ngày 21/12/1961, Chính phủ giao cho Tổng
Công đoàn Việt Nam quản lý quỹ cũng như sự nghiệp BHXH, Tổng công
đoàn Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm lập kế
hoạch thu chi BHXH và thực hiện việc chi trả trợ cấp BHXH theo các quy
định của Nhà nước. Theo Điều lệ BHXH lúc đó thì quỹ BHXH bao gồm
những khoản chi sau đây:
- Chi trả 6 chế độ trợ cấp BHXH bao ồm: chế độ ốm đau, chế độ tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ thai sản, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất
và chế độ nghỉ mất sức lao động.
- Chi cho hoạt động quản lý và các hoạt động sự nghiệp, bao gồm: chi
trả lương và các khoản phúc lợi cho cán bộ, công nhân viên chức trong ngành;
chi phí quản lý; chi phí sửa chữa nhỏ; chi phí đầu tư xây dựng cơ bản; chi phí
nuôi dưỡng cho những người hưởng trợ cấp hưu trí vào các nhà dưỡng lão;
chi phí khác (như chi phí cho cán bộ công nhân viên nghỉ ngơi, nghỉ mát…).
Ngày 20/03/1963, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP điều chỉnh lại
trách nhiệm quản lý quỹ BHXH và chi trả cho các chế độ BHXH. Theo đó,
quỹ BHXH và sự nghiệp BHXH từ năm 1963 tới năm 1995 do hai ngành
quản lý, quỹ BHXH là một bộ phận nằm trong Ngân sách Nhà nước. Chi cho
các chế độ BHXH vẫn theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nếu thiếu bao
nhiêu thì được Ngân sách Nhà nước bù đắp bấy nhiêu. Người lao động chỉ
cần được vào biên chế Nhà nước là có quyền được hưởng BHXH. Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội được quyền thu 1% tổng quỹ lương tiền đóng
góp BHXH chi trả cho các chế độ dài hạn (tử tuất, hưu trí và mất sức lao
động), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được thu 3,7% tổng quỹ tiền
lương chi cho chế độ ngắn hạn (thai sản, ốm dau, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp).
Do sự tách biệt về quản lý sự nghiệp BHXH cho hai tổ chức nên việc
chi BHXH, việc thực hiện công tác BHXH phân tán không tập trung, việc
quản lý hoạt động thu chi cũng gặp những khó khăn nhất định.
2. Thực trạng cân đối thu - chi BHXH
Trong những năm đầu ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp
nhận quản lý hoạt động BHXH ở những chế độ dài hạn, tỷ lệ thu BHXH so
với chi BHXH đạt mức tương đối, do đó Ngân sách Nhà nước chỉ phải hỗ trợ
một phần nhỏ. Tuy nhiên, từ những năm 70 trở đi thì tình hình cân đối thu chi
quỹ BHXH càng trở nên thiếu hụt trầm trọng, Ngân sách Nhà nước không
phải là trợ cấp khi quỹ BHXH gặp khó khăn nữa mà gần như gánh toàn bộ; từ
những năm 70 trở đi, tỷ lệ thu so với chi đã trở nên rất nhỏ, Ngân sách Nhà
nước hỗ trợ thường xuyên trên 80% so với chi. Sang những năm 80, tình hình
cân đối thu chi quỹ BHXH càng trở nên trầm trọng, gần như Ngân sách Nhà
nước đã gánh toàn bộ gánh nặng về BHXH, có lúc đỉnh điểm đã lên tới
97,66% so với chi BHXH.
Do đó, để khắc phục tình trạng bội chi quỹ BHXH nên Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 236/CP ngày 18/9/1985
nâng mức thu từ 4,7% lên 13%, trong đó 8% chi trả cho ba chế độ dài hạn co
ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý, còn lại do Tổng Công đoàn
Việt Nam quản lý để chi trả cho ba chế độ ngắn hạn. Mặc dù đã nâng mức thu
nhưng tình trạng thu không đủ chi, bội chi vẫn tiếp tục, tuy về mức độ có
giảm đi ít nhiều. Từ năm 1988 trở đi tình trạng bội chi có xu hướng giảm
xuống, nguồn kinh phí chi trả từ Ngân sách Nhà nước đã giảm nhưng vẫn ở
mức cao, thu BHXH đã chiếm tỷ lệ cao hơn so với chi nhưng vẫn còn ở mức
thấp. Việc để hai cơ quan quản lý BHXH làm phân tán hoạt động BHXH, hạn
chế trong việc phối hợp các biện pháp cần thiết trong thu, chi BHXH.
3. Những tồn tại, nguyên nhân ảnh hưởng tới công tác thu - chi
BHXH trong giai đoạn trước năm 1995.
- Chúng ta vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh lâu dài, đất nước đã gần như
kiệt quệ vì chiến tranh; toàn Đảng, toàn dân đã dốc hết sức lực để đi tới thắng
lợi cuối cùng. Bên cạnh đó, hậu quả để lại cần khắc phục là rất lớn, không
phải tỏng một thời gian ngắn mà có thẻ giải quyết triệt để tất cả mọi tổn thất
của cuộc chiến tranh. Trong khi đó, chúng ta lại phải chịu sự cấm vận bất
công từ phía Mỹ và các thế lực thù địch, quan hệ ngoại giao cũng như quan hệ
kinh tế đối ngoại bị bó hẹp, chủ yếu với khối các nước xã hội chủ nghĩa, do
đó chúng ta không thể có được sự giúp đỡ của toàn thể cộng đồng thế giới mà
chỉ bó hẹp trong một số quốc gia thuộc khối xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng
ta không có điều kiện tốt để phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng rất lớn tới
việc phát triển của đất nước nói chung và sự nghiệp BHXH nói riêng.
- Đồng thời, mô hình và cơ chế quản lý của chúng ta không phù hợp, do
đó ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh tế - xã hội nói chung và hoạt
động BHXH nói riêng. Sau một thời gian dài quản lý nền kinh tế theo cơ chế
quan liêu bao cấp, trì trệ là "căn bệnh" không chỉ trong lĩnh vực BHXH mà
còn diễn ra trong quản lý hành chính, kinh tế, tư tưởng là sự ỷ lại, trông chờ
vào Nhà nước, thiếu ý thức tự giác trong các hoạt động nói chung.
- Việc mất cân đối thu - chi BHXH ở những năm 70 và 80 cũng một
phần do Nhà nước thực hiện quá trình tinh giảm biên chế, giảm độ tuổi nghỉ
hữu, số đối tượng nghỉ mất sức lao động khá lớn nên số chi ngày càng gia
tăng, trong khi đó số thu lại theo chiều hướng giảm dần.
- Chính sách BHXH được xây dựng và áp dụng thiếu đồng bộ, chưa
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Vì vậy, các văn bản, chế độ BHXH mắc phải
những sai sót cứng nhắc và nhiều kẽ hở trong thời gian này. Việc vận dụng
những văn bản để điều chỉnh, áp dụng cho từng người nhiều khi còn phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của những người trực tiếp thi hành, điều này gây ra
không ít những phức tạp, khó khăn trong quá trình thực hiện các chính sách
BHXH nói chung và hoạt động thu, chi BHXH nói riêng; điển hình có những
cán bộ kém năng lực, mất phẩm chất đã lợi dụng gây thiệt hại tới lợi ích của
người lao động, uy tín của ngành BHXH, thiệt hại về vật chất cho quỹ
BHXH, Ngân sách Nhà nước
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do năng lực, trình độ quản
lý và xây dựng hệ thống văn bản, pháp luật còn có nhiều bất cập, không theo
kịp với diễn biến của thực tế công tác BHXH đặt ra, vì vậy khi nảy sinh một
vấn đề vướng mắc thì cách thức điều chỉnh, bổ sung các văn bản lại hết sức
thiếu kho học, chắp vá và không đồng bộ,tạo ra những kẽ hở trong luật pháp
để những người thực hiện có thể lách luật.
- Thời kỳ trước năm 1993, chính sách BHXH được xây dựng đan xen
với nhiều chính sách xã hội khác như chính sách ưu đãi nội dung và bản chất
dân số - kế hoạch hoá gia đình, đã làm thay đổi nội dung và bản chất của
chính sách BHXH. Điển hình như chế độ hưu trí, mất sức lao động còn có
nhiều bất hợp lý, do đó trong tờ trình Thủ tướng Chính phủ số 01/LĐTBXH -
BHXH về việc cải cách chế độ chính sách BHXH đã có đoạn viết “Chế độ
hưu trí - mất sức lao động có nhiều bất hợp lý: quy đổi số năm làm việc theo
hệ số một năm bằng 14,16,18 tháng quy đổi là không đúng, nhiều người tuổi
làm việc nhiều hơn tuổi đời, làm tăng số người nghỉ hưu trước tuổi. Việc
giảm tuổi, giảm số năm công tác để hưởng hưu trí đã dẫn đến độ dài bình
quân nghỉ hưu nhiều hơn độ dài thời gian làm việc. Trong 950 ngàn người về
hưu hiện nay có 80% chưa hết tuổi lao động, 10% dưới 45 tuổi, thậm chí có
nhiều người về lưu ở độ tuổi 37,38. Trong 359 ngàn người nghỉ mất sức lao
động thì dưới 10% là thực sự ốm đau, mất sức”.
Nguyên nhân của tình trạng này là do khi thiết kế chính sách đã không
căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản của hoạt động BHXH, đó là người được
hưởng các chế độ BHXH phải đáp ứng được những điều kiện về thời gian
tham gia BHXH, mức đóng góp, tình trạng suy giảm sức khoẻ thực tế, tuổi
đời Mặt khác, trong khi thực hiện vẫn còn mang nặng tư tưởng bao cấp,
Ngân sách Nhà nước chịu tất cả, người lao động không phải đóng góp BHXH,
đơn vị hành chính sự nghiệp do Ngân sách Nhà nước bao cấp, thậm chí doanh
nghiệp cũng do Nhà nước bao cấp. Do đó, thực chất mọi chính sách xã hội
(trong đó có BHXH) cũng đều có Nhà nước bao cấp.
- Nguồn thu của quỹ BHXH do người sử dụng lao động đóng góp (từ
năm 1961 là 4,7% tổng quỹ lương, đến năm 1998 nâng lên 15% tổng quỹ
lwong nhưng lại sử dụng 2% để trợ cấp khó khăn cho người lao động. Người
độc lập thuộc Ngân sách Nhà nước và không có kết dư. Qua đó cho thấy sự
bao cấp toàn diện của Nhà nước đối với hoạt động BHXH trong thời kỳ này.
Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác thu BHXH, nhưng lại gioa
khoán thu cho các ngành Tài chính, thuế, kho bạc, Ngân hàng. Mặt khác, sự
tự giác nộp BHXH của các đơn vị sử dụng lao động không cao. Do đó, kết
quả thu BHXH do hai ngành thực hiện đạt thấp, nhất là đối với ngành lao
động- Thương binh và Xã hội.
- Trong cơ cấu chi BHXH do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam quản
lsy có một số điểm chưa hợp lý: khoản chi phí quản lý và chi cho sự nghiệp
BHXH chiếm tỷ lệ quá cao trong tổng chi. Tính từ năm 1962 đến tháng
9/1995, tổng chi BHXH cho ba chế độ (ốm, đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp) do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam quản lý 3942, tỷ
đồng (chiếm tới 37,63% tổng số chi) còn chi cho quản lý và sự nghiệp BHXH
là 653, 3 tỷ đồng (chiếm tới 62,37% tổng chi), đặc biệt là tốc độ chi cho việc
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, chi nghỉ ngơi an dưỡng cho các cán bộ, công
nhân tăng đột biến trong các năm 1991 đến tháng 9/1995.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét