Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Giải pháp tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT

1.2.1.1Vốn chủ sở hữu
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
bao gồm các bộ phận chủ yếu:
- Vốn góp ban đầu.
- Vốn bổ sung.
• Bổ sung từ lợi nhuận
• Bổ sung từ chủ sở hữu
a. Vốn góp ban đầu khi thành lập doanh nghiệp
Để có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ sở
hữu bao giờ cũng phải góp một số nhất định khi thành lập doanh nghiệp.
Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải
xem xét hình thức sở hứu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ
quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư
của nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp là Nhà nước . Hiện nay,
cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhà
nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.
Đối với các doanh nghiệp, theo Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh
nghiệp.
Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là
yếu tố quyết định để hinh thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu
của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ
nắm giữ. Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối
khác nhau, do đó cách thức huy động vốn cổ phần cũng khác nhau. Trong
các loại hình doanh nghiệp khác như Công ty TNHH, Công ty có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài ( FDI), các nguồn vốn cũng tương tự như trên; tức
là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác
góp.v.v Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc
58
vào nhiều yếu tố khác nhau ( như luật pháp, đặc điểm ngành kinh tế- kỹ
thuật, cơ cấu liên doanh).
b. Vốn bổ sung.
1. Bổ sung từ lợi nhuận hàng năm
Vốn bổ sung là vốn chủ yếu do doanh nghiệp được lấy một phần từ
lợi nhuận để lại doanh nghiệp, nó được thực hiện dưới hình thức lấy một
phần từ quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính. Quy mô số vốn ban
đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông
thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh
nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh,doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng
trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi
nhuận dược sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia nên nguồn vốn nội bộ có một
phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn trong các
doanh nghiệp, vì doanh nghiệp đã phát huy được nguồn lực của chính
mình, giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, nhất là khi
có biến động trên thị trường tài chính. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng
chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại ( retained earnings ), họ đặt ra mục
tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu
vốn ngày càng tăng.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu
như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp
tực đầu tư. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ
thuộc không chỉ vào khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn
phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước.
Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên
quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi Công ty để lại một phần lợi
nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia
58
lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần ( cổ tức ) nhưng
bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của Công ty.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự
tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ
cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu
trong thời kỳ trước mắt ( ngắn hạn ) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ
tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ trả cổ tức thấp hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì
giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.
Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức
của công ty cổ phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước.
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ
phiếu của công ty, tâm và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó.
- Hiệu quả của việc tái đầu tư.
2. Bổ sung từ chủ sở hữu.
• Phát hành cổ phiếu bổ sung.
Đối với một doanh nghiệp cổ phần thì nguồn vốn do các cổ đông
thành viên đóng góp là điều kiện tiên quyết để thành lập công ty. Mỗi cổ
đông là một chủ sở hữu công ty theo tỷ lệ vốn góp và chịu trách nhiệm hữu
hạn bằng giá trị cổ phần mà họ nắm giữ.
Ngoài số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp,
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, mở rộng
qui mô, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ
phiếu bổ sung, đây là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng cho doanh
nghiệp trong việc huy động vốn. Chúng ta sẽ xem xét một số yếu tố cơ bản
liên quan đến việc phát hành và kiểm soát các loại cổ phiếu khác nhau.
Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu là giấy xác nhận sự tham gia góp vốn
của một chủ thể ( gọi là cổ đông ) vào một công ty, tức là xác định cổ đông
58
có quyền sở hữu một phần vốn đối với công ty đó theo tỷ lệ phần trăm cổ
phiếu của cổ đông đó. Cổ phiếu có thể được phát hành thành hai loại: cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên.
Cổ phiếu thường: Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu
thôngthường), nó thuộc loại cổ phiếu không kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự
tồn tại của công ty phát hành ra nó, không có mức lãi suất cố định. Tuy
nhiên, thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị trường, không chỉ phụ thuộc
vào lợi nhuận của công ty mà còn rất nhiều nhân tố khác như: môi trường
kinh tế, thay đổi lãi suất, hay nói cách khác tuân theo quy luật cung cầu. Cụ
thể hơn nữa, thị giá cổ phiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh
tế nói chung và biến động theo chiêù nghịch với biến động lãi suất trái
phiếuchính phủ, các công cụ vay nợi dài hạn lãi suất cố định và lãi suất huy
động tiền gửi của ngân hàng. Cổ phiếu thường có những ưu thế trong việc
phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng
khoán. Cổ phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhất, mua bán trên thị
trường chứng khoán, điều đó cũng đủ để minh chứng tầm quan trọng của
nó so với các công cụ tài chính khác.
Mặc dù việc phát hành cổ phiếu có nhiều ưu thế so với các phương
thức huy động vốn khác nhưng cũng có những hạn chế và các ràng buộc
cần được doanh nghiệp cân nhắc kỹ lưỡng. Giới hạn phát hành là một quy
định ràng buộc có tính pháp lý. Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được
quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép. đay là một trong
những quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước nhằm quanrn lý và
kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán. Tại
nhiều nước, số cổ phiếu được phép phát hành được ighi trong điều lệ của
công ty; tuy nhiên một số nước khác không quy định ghi số lượng có trong
điều lệ công ty.Như vậy vốn cổ phần thì trước hết cần phải được đại hội cổ
đông cho phép, sau đó phải hoàn tất những thủ tục quy định khác.
Hầu hết các nước đều sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ
58
quan trọng để kiểm soát và hạn chế các rủi ro cho công chúng. Thông
thường, một công ty có thể phát hành một lần hoặc một số lần trong giới
hạn số cổ phiếu đã được cấp phép phát hành. Tuy nhiên, trên thực tế, việc
quản lý và kiểm soát quá trình phát hành chứng khoán tuỳ thuộc vào chính
sách cụ thể của nhà nước và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. ở Việt Nam
hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về chứng khóan mới được xây dựng
và đangtrong quá trình hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn cho hoat động
huy động vốn của doanh nghiệp và lưu chuyển vốn trong nề kinh tế.
Sau khi phát hành, phần lớn những cổ phiếu nằm trong tay các nhà
đầu tư- các cổ đông (shareholder). Những cổ phiếu này gọi là những cổ
phiếu đang lưu hành trên thị trường. Tuy nhiên, có thể chính công ty phát
hành mua lại một số cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào
đó. Những cổ phiếu được công ty mua lại như vậy gọi là cổ phiếu ngân
quỹ. Những cổ phiếu này được coi như tạm thời không lưu hành. Việc mua
lại hoặc bán ra những cổ phiếu này phụ thuộc vào một số yếu tố như:
- Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường.
- Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư.
Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty ( chống thôn
tính).
Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước.
Mệnh giá và thị giá.
Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá, giá cả của cổ phiếu trên
thị trường gọi là thị giá. Giá trị của cổ phiếu được phản ánh trong sổ sách
kế toán của công ty gọi là giá tị ghi sổ ( book value), đó cũng chính là
mệnh giá của các cổ phiếu đã phát hành.
Mệnh giá không được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ trong
giấy phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty. Tuy nhiên, mệnh
giá chỉ có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn
58
sau khi cổ phiếu được phát hành. Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị
trường đối với cổ phiếu, phản ánh long tin của các nhà đầu tư đối với hoạt
động của công ty.
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chình là những người sở hữu
công ty, do đó họ có quyền trước hết đối với tài sản hoặc thu nhập của công
ty. Cổ đông có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của
công ty. Tuy nhiên, thông thường có một số lượng cổ đông của công ty,
nên mỗi cổ đông hcir có một quyền lực giới hạn nhất định trong việc bỏ
phiếu hoặc chỉ định thành viên của ban giám đốc. Một số công việc hay
những vấn đề đặc biệt cần có sự nhất trí của đại đa số cổ đông.
Tuỳ theo việc quy định trong điều lệ công ty, có thể hình thành các
phương thức bỏ phiếu khác nhau. Hai phương pháp được sử dụng rộng rãi
là bỏ phiếu theo đa số và bỏ phiếu gộp.
- Bỏ phiếu theo đa số : là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu để
bầu moot người quản lý, các chức danh sẽ được bầu riêng rẽ. Điều
này rõ ràng có lợi cho những người đang nắm da số cổ phiếu của
công ty vì họ có thể tạo áp lực mạnh hơn bằng số lớn cổ phiếu
nắm giữ.
- Cơ chế bỏ phiếu gộp cho phép cùng bỏ phiếu cho một số ứng cử
viên nào đó, tức là một cổ đông có thể dồn toàn bộ số phiếu có
trong tay cho một ứng cử viên được ưa chuộng.Ddaat là lý do tại
sao một số các cổ đông thiểu số ủng hộ cơ chế bỏ phiếu gộp.
Trong điều lệ công ty có quy định rõ về phạm vi những sự vụ cần
được đa số ( trên 50% ) cổ đông tán thành và những vấn đề cần được tuyệt
đại đa số ( 75% ) đông nhất trí.
Vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sự xâm thực bằng cổ
phiếu của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt. Huy động vốn qua
phát hành cổ phiếu phải xét đến nguy cơ bị thôn tính. Do đó, phải tính đến
tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty.
58
Khi phát hành ra thị trường cổ phiếu này, đòi hỏi nhà quản lý phải căn cứ
vào một số yếu tố như: tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư, tình hình
biến động thị giá chứng khoán trên thị trường, chính sách đối với việc sát
nhập hay thôn tính công ty, tình hình trên thị trường chứng khoán và qui
định của cơ quan quản lý liên quan, mệnh giá và thị giá của chứng khoán
Cổ phiếu ưu đãi: có đặc điểm là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu
nhập có lợi nhuận ổn định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Tuy
nhiên, thị giá của cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu
kho bạc và tình hình tài chính của công ty.Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ
chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên,
trong một số trương hợp, việc dùng cổ phiếu ưu đãi là thích hợp. Người
chủ của cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông
thường. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ
đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó. Việc giải quyết chính
sách cổ tức được nêu rõ trong điều lệ công ty.
Phần lớn các công ty cổ phần quy định rõ:công ty có nghĩa vụ trả hết
số lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó
mới thanh toán cho các cổ đông thường.
Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành thu hồi lại
( chuộc lại ) khi công ty thấy cần thiết. Những trường hợp như vậy cần
được quy định rõ những điểm sau:
- Trường hợp nào thì công ty có thể mua lại cổ phiếu.
- Giá cả khi công ty mua lại cổ phiếu.
- Thời hạn tối thiểu không được phép mua lại cổ phiếu ( ví dụ 5 năm
) .
Trong thực tế ở môt số nước như Mỹ chẳng hạn, rất hiếm khi cổ đông
ưu tiên có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nếu có ít nhất 2/3
cổ đông ưu tiên nhất trí về một vấn đề nào đó thì ban lãnh đạo công ty phải
xem xét ý kiến của họ. Nếu các cổ phiếu ưu đãi không được trả cổ tức thì
58
các cổ đông của những cổ phiếu đó có thể được quyền bỏ phiếu.
Một vấn đề rất quan trọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu đãi đó
là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công
ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu
tiên. Mặc dù vậy, như đã đề cập, cổ phiếu ưu tiên vẫn có những ưu điểm
đối với cả công ty phát hành và cả những nhà đầu tư.
Khi nào các hãng phát hành và thu hồi cổ phiếu? Để trả lời câu hỏi
này cần xem xét những khía canh sau:
Các hãng thường cố gắng cân bằng giữa nợ và vốn chủ sở hữu để giữ
vững khả năng thanh toán, củng cố uy tài chính. Khi tỷ lệ nợ ở mức thấp,
nếu cần vốn thì các công ty thường chọn cách phát hành trái hành trái phiếu
tức là tăng nợ ( mà không tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu) . Nếu tỷ lệ nợ
ở mức cao, công ty phải tránh việc tăng thêm tỷ lệ nợ và chọn cách phát
hành cổ phiếu.
Tuy nhiên, thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến việc giữ một
mức cân bằng chính xác. Việc điều chỉnh vốn chủ sở hữu và các khoán nợ
thường ngẫu hứng và theo kiểu kinh hoạt ∀tuỳ cơ ứng biến∀.
Sự phản ứng các biến động của thị trường chứg khoán là một yếu tố
đáng chú ý.
Một số nhà phân tích tài chính doanh nghiệp đã đưa ra những nhận xét
như sau:
Phần lớn các cổ phiếu được phát hành sung sau khi thị giá cổ phiếu
của doanh nghiệp đó tăng trên thị trường chứng khoán.
Giá cổ phiếu tăng lên là một dấu hiệu có nhiều cơ hội đầu tư mở rộng
vào những dự án có triển vọng trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, người ta chưa lý giải được một cách tường tận tạo sao trên
thực tế các công ty thường lựa chọn việc phát hành cổ phiếu sau khi có sự
tăng giá cổ phiếu . Một số nguyên nhân có thể là những yếu tố sau đây:
. Do đòi hỏi cân bằng tỷ lệ nợ ( như nói trên ).
58
. Do tỷ lệ P/E ( Price-Earnings Ratio) ở mức cao, tức là thị giá cổ
phiếu tăng mạnh hơn tốc độ tăng của tỷ suất lợi nhuận ròng.
. Do yếu tố tâm lý của công chúng và các nhà đầu tư trên thị trường.
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể được bổ xung từ
phần chênh lệch đánh giá lại tài sản cố định, chênh lệch tỷ giá.
• Ngân sách Nhà nước cấp bổ sung.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn tự có ban đầu được Nhà nước
đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Theo cơ chế hiện hành, nguồn
vốnnàynguồn vốn này có thể được xem là nguồn vốn chủ yếu của các
doanh nghiệp nhà nước. Tại thời điểm được thành lập, doanh nghiệp
nhà nước được Nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ
nhưng không thấp hơn vốn pháp định quy định cho ngành nghề đó.
1.3.2.Nguồn vốn vay
Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất -kinh doanh, doanh nghiệp có
thể sử dụng nợ từ các nguồn: Tín dung ngân hàng; tín dụng thương mại và
vay thộng qua phát hành trái phiếu.
1.3.2.1. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại: Có
thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng
nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doang nghiệp mà đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các doanh
nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại
cung cấp, trong đó có việc cug ứng các nguồn vốn.
Không một doanh nghiệp nào không vayvốn ngân hàng hoặc không
sử dụng tín dụng thượng mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc
trên thương trường. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường
phải vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt đông sản xuất
-kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vố cho các dự án mở rộng hoặc đầu
tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời
58
hạn vay, bao gồm vay dài hạn ( thường tính từ 3 năm trở lên; có nơi tính từ
5 năm trở lên) , vay trung hạn ( từ 1năm đến 3 năm) và vay ngắn hạn (dưới
1 năm) . Tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân loại trong thực tế
không giống nhau giữa các nước và có thể khác nhau giưã các ngân hàng
thương mại.
Tuỳ theo tính chất và mục đích sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân
loại cho vay thành các loại như: cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu
tư tài sản lưu động, cho vay để thực hiện dự án. Cũng có những cách phan
chia khác như: cho vay theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo
hinh thức bảo đảm tiền vay.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốn
này cũng có những hạn chế nhất định. Đó là các hạn chế về điều kiện tín
dụng, kiểm soat của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn ( lãi suất ) .
- Điều kiện tín dụng: Các doanh nhiệp muốn vay tại các ngân hàng
thương mại cần đáp ứng được những nhu cầu đảm bảo an toàn tín
dụng của ngân hàng. Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn
và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu. Trước tiên,
ngân hàng phải tích luỹ hồ sơ xin vay vốn , đánh giá các thông tin
liên quan đến dự án đàu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp vay vốn.
- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói
chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có
các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp. Việc yêu
cầu người đi vay có tài sản thế chấp trong nhiều trương hợp làm
cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả
những thủ tục pháp lý về giấy tờ.v.v do đó, doanh nghiệp cần tính
đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
- Sự kiểm soát của ngân hàng: một khi doanh nghiệp vay vố ngân
hàng thì doanh nghiệp cũng phải chụi sự kiêm soát của ngân hàng
58

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét