Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

TỔ CHỨC GIAO THÔNG TRÊN ĐƯỜNG TRỤC CHÍNH ĐÔ THỊ ĐOẠN TỪ: NHỔN – CỬA NAM

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC GIAO THÔNG
TRÊN ĐƯỜNG TRỤC CHÍNH ĐÔ THỊ
1.1. Khái niệm chung về tổ chức giao thông trên đường đô thị
1.1.1. Khái niệm chung
Hệ thống giao thông: là tập hợp các công trình, các con đường và cơ sở hạ tầng khác
nhằm phục vụ nhu cầu di chuyển của hành khách, hàng hóa trong đô thị được an toàn, thông suốt,
thuận tiện, nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. (Nguồn: Vũ Anh Tuấn _ Tổ chức giao thông đô thị,
2008)
Đường đô thị (hay đường phố): là đường bộ trong đô thị gồm phố, đường ô tô thông
thường và các đường chuyên dụng khác (Nguồn: TCXDVN 104:2007). Đường đô thị có 3 chức
năng chính là:
- Kết nối: là chức năng thỏa mãn nhu cầu giao thông vận tải giữa các vùng, các đô thị hay
giữa các bộ phận của đô thị.
- Tiếp cận: là chức năng đảm bảo khả năng tiếp cận bằng các phương tiện giao thông
đường bộ tới các công trình hoặc khu vực sử dụng đất (nhà ở, công sở, trường học, bệnh viện, nhà
máy, cửa hàng, khu canh tác nông – lâm – ngư nghiệp)
- Phục vụ sinh hoạt: trong nhiều trường hợp, đường còn là nơi phục vụ các nhu cầu sinh
hoạt (phi giao thông) của người dân trong khu vực lân cận.
(Nguồn: FORSCHUNGSGESELLSCHAFT FÜR STRASSEN-UND VERKEHRSWESEN
(FGSV): Empfehlungen für die Anlage von Hauptverkehrsstraßen (EAHV), Köln 1993,
berichtigter Nachdruck 1998)
Đường trục chính đô thị: là một bộ phận của đường đô thị với các đặc điểm là năng lực
thông hành lớn, có tốc độ tương đối cao, có chức năng chủ yếu là kết nối các trung tâm hoạt động
(dân cư, công nghiệp, thương mại, văn hóa,…) trong không gian đô thị, là cửa ngõ kết nối đô thị
với các đô thị lân cận. Bên cạnh đó, đường trục chính đô thị cũng đảm bảo các chức năng thứ yếu
khác như tiếp cận, sinh hoạt
Quản lý giao thông đô thị: là tác động tới hệ thống giao thông vận tải với một tập hợp các
giải pháp để đưa cung ứng và nhu cầu giao thông vận tải tới trạng thái cân bằng tối ưu. Quản lý
giao thông đô thị bao gồm các nhóm giải pháp chủ yếu là: Điều tiết mức độ tham gia giao thông,
Điều chỉnh đặc tính tham gia giao thông và Tổ chức giao thông.
Tổ chức giao thông trên đường đô thị: là việc sử dụng các công cụ điều khiển giao thông
(như biển báo, ký hiệu, hình vẽ, đèn tín hiệu, chiếu sáng,…) để sắp xếp, bố trí, phối hợp các bộ phận
của đường đô thị nhằm tối ưu hóa sử dụng năng lực sẵn có của công trình hạ tầng đường bộ, nhằm
đảm bảo cân bằng giữa năng lực cung ứng với nhu cầu sử dụng hạ tầng đường bộ.
1.1.2. Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức giao thông trên đường trục chính đô thị
a. Yêu cầu chung tổ chức giao thông trên đường trục chính đô thị
Tổ chức quản lý giao thông trên đường trục chính đô thị có vai trò rất quan trọng để đảm
bảo chức năng chủ yếu của đường trục chính trong đô thị. Với vai trò như vậy việc tổ chức giao
thông cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo chức năng kết nối các trung tâm hoạt động đô thị, cũng như là cửa ngõ kết nối
đô thị với các đô thị lận.
- Hoạt động sử dụng đất trên tuyến cần phải được quy hoạch và quản lý phù hợp với chức
năng chủ yếu của đường trục chính đô thị.
- Có điều kiện thuận lợi cho vận tải hành khách công cộng đặc biệt là xe buýt, bao gồm hệ
thống các điểm dừng có chất lượng tốt phát triển bền vững cùng chất lượng giao thông trục đường.
b. Nguyên tắc chung tổ chức giao thông trên đường trục chính đô thị
Tổ chức giao thông trên trên trục đường chính đô thị phải tuân theo nguyên tắc chung quản
lý đường đô thị (thông tư 04/2008/TT-BXD) :
- Đảm bảo chức năng chủ yếu của đường trục chính, ưu tiên các phương tiện giao thông
kết nối giữa các trung tâm hoạt động, hạn chế xung đột giữa hoạt động tham gia giao thông của
các phương tiện giao thông tiếp cận với các phương tiện giao thông kết nối.
- Bảo đảm hè dành cho người đi bộ, lòng đường thông suốt cho các loại phương tiện giao
thông cơ giới và thô sơ.
- Khi sử dụng hoặc tạm thời sử dụng một phần đường đô thị vào mục đích khác phải được
phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng thời có giải pháp để bảo đảm không ảnh hưởng
đến trật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị.
1.2. Tổ chức giao thông trên đường đô thị
Những công cụ điều khiển giao thông thường dùng để sắp xếp, bố trí, phối hợp các bộ phận
của đường đô thị bao gồm các loại sau:
1.2.1. Tổ chức giao thông bằng ký hiệu và biển báo
a. Ký hiệu trong giao thông
Vạch sơn kẻ đường:
Ý nghĩa, tác dụng của vạch sơn kẻ đường
- Vạch kẻ đường là một dạng báo hiệu để hướng dẫn, điều khiển giao thông nhằm nâng cao
an toàn và khả năng thông xe.
- Vạch kẻ đường có thể dùng độc lập và có thể kết hợp với các loại biển báo hiệu đường bộ
hoặc đèn tín hiệu chỉ huy giao thông.
- Vạch kẻ đường bao gồm các loại vạch, chữ viết ở trên mặt đường xe chạy, trên thành vỉa
hè, trên các công trình giao thông và một số bộ phận khác của đường để quy định trật tự giao
thông, chỉ rõ sự hạn chế kích thước của các công trình giao thông, chỉ hướng đi của các đường của
làn đường chạy.
Phân loại vạch sơn kẻ đường
Vạch sơn kẻ đường chia làm ba loại: vạch dọc đường, vạch ngang đường và vạch đứng.
+ Vạch dọc đường: là các ký hiệu nằm dọc theo hướng xe chạy trên đường, bao gồm các
loại: đường tim của đường có hai làn xe chạy ngược chiều, đường phân chia các làn xe, đường
viền mép của mặt đường.
Hình 1.3. Đường tim trên mặt đường 2 làn xe ngược chiều
+ Vạch ngang đường: là các ký hiệu cắt ngang các làn đường, bao gồm: vạch dừng xe, dải
sang đường và vạch đỗ xe.
Hình 1.4. Vạch sang đường cho người đi bộ
+ Vạch đứng: là vạch kẻ trên thành vỉa hè, các công trình giao thông hoặc một số bộ phận
khác của đường.
Hình 1.5. Vạch cấm đỗ hay dừng xe trên đường (vàng)

Hình 1.6. Vạch phản quang kết hợp giữa sọc vàng và sọc đen
Ký hiệu hình vẽ và chữ:
Ký hiệu hình vẽ và chữ có tác dụng dẫn hướng hoặc hạn chế người tham gia giao thông,
giúp họ thực hiện tốt các tín hiệu và biển báo khác.
b. Biển báo giao thông
Biển báo hiệu đường bộ được chia thành 5 nhóm.
Nhóm biển báo cấm: có dạng hình tròn (trừ kiểu biển số 122 "Dừng lại" có hình 8 cạnh
đều) nhằm báo điều cấm hoặc hạn chế mà người sử dụng đường phải tuyệt đối tuân theo. Hầu hết
các biển đều có viền đỏ, nền màu trắng, trên nền có hình vẽ màu đen đặc trưng cho điều cấm hoặc
hạn chế sự đi lại của các phương tiện cơ giới, thô sơ và người đi bộ. Nhóm biển báo cấm gồm có
39 kiểu biển được đánh số thứ tự từ biển số 101 đến số 139.
Nhóm biển báo nguy hiểm: Biển báo nguy hiểm được dùng để báo cho người sử dụng
đường, chủ yếu là người lái xe cơ giới, biết trước tính chất của sự nguy hiểm trên tuyến đường để
phòng ngừa. Có dạng hình tam giác đều, viền đỏ, nền màu vàng, trên có hình vẽ màu đen mô tả sự
việc báo hiệu. Nhóm biển báo nguy hiểm gồm có 46 kiểu được đánh số thứ tự từ biển số 201 đến
biển số 246.
Nhóm biển hiệu lệnh: Biển hiệu lệnh được dùng để báo cho người sử dụng đường phải
tuân theo sự chỉ định về hướng xe đi, về loại xe hoặc người đi bộ được đi qua và về tốc độ xe tối
thiểu. Có dạng hình tròn, nền màu xanh lam, trên nền có hình vẽ màu trắng đặc trưng cho hiệu
lệnh nhằm báo cho người sử dụng đường biết điều lệnh phải thi hành. Nhóm biển hiệu lệnh gồm
có 9 kiểu được đánh số thứ tự từ biển số 301 đến biển số 309.
Nhóm biển chỉ dẫn: Báo cho người sử dụng đường biết những định hướng cần thiết hoặc
những điều có ích khác trong hành trình.Có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông nền màu xanh
lam. Nhóm biển chỉ dẫn gồm có 47 kiểu được đánh số thứ tự từ biển số 401 đến biển số 447.
Nhóm biển phụ: Biển phụ thường được đặt kết hợp với các biển báo nguy hiểm, biển báo
cấm, biển hiệu lệnh và biển chỉ dẫn nhằm thuyết minh bổ xung để hiểu rõ các biển đó.Có dạng
hình chữ nhật hoặc hình vuông. Nhóm biển phụ gồm có 9 kiểu được đánh số thứ tự từ biển số 501
đến biển số 509.
(Nguồn: Điều lệ biển báo giao thông 22 TCN 237 – 01)
1.2.2. Tổ chức giao thông bằng đèn tín hiệu
Tổ chức giao thông bằng đèn tín hiệu tức là phân chia thời gian cho các luồng xe qua một
nút giao thông để giảm bớt hoặc triệt tiêu các xung đột (giao cắt). Có thể điều khiển đèn theo chu
kỳ 2 pha hoặc 3 pha, 4 pha.
Nếu để triệt tiêu xung đột giữa hai luồng xe chính (vuông góc) ta điều khiển theo chu kỳ 2
pha. Nếu hướng nào có luồng xe rẽ trái lớn thì thêm một pha rẽ trái theo hướng đó và điều khiển
đèn theo chu kỳ 3 pha. Có thể điều khiển theo chu kỳ 4 pha nếu có hai hướng rẽ trái với lưu lượng
xe rẽ trái cao hay khi tổ chức lần lượt cho từng hướng thoát xe ở ngã tư.
Ý nghĩa các màu đèn trong tổ chức giao thông bằng đèn tín hiệu:
- Đèn xanh: phương tiện và người đi bộ được phép đi khi gặp tín hiệu xanh.
- Đèn đỏ: tất cả các phương tiện phải dừng lại trước vạch dừng xe, người đi bộ phải dừng
trước vạch đi bộ. Dòng xe rẽ phải có thể được phép rẽ khi có tín hiệu đỏ, trong trường hợp này sẽ
có tín hiệu phụ cho dòng xe rẽ phải.
- Đèn vàng (hoặc đỏ - vàng): báo hiệu kết thúc thời gian tín hiệu xanh và chuẩn bị đến thời
gian đèn đỏ. Những phương tiện nhận đèn xanh trước đó được tiếp tục qua nút. Thời gian đèn
vàng không nên quá 4 giây vì sẽ tăng thêm tổn thất và làm cho lái xe sốt ruột dễ vi phạm luật giao
thông.
Mỗi cột đèn giao thông thường có 3 khoang. Mỗi khoang chứa một đèn dạng hình tròn thể
hiện một trong ba loại tín hiệu xanh, đỏ, vàng. Hiện nay, trong tổ chức giao thông, đèn tín hiệu còn
có thêm một số dạng khác như:
- Đèn dạng mũi tên, có màu đỏ hoặc xanh, thể hiện hiệu lệnh dừng lại hoặc được phép tiếp
tục đi đối với luồng xe chuyển động theo hướng mũi tên.
- Đèn hình người đứng màu đỏ để cấm người đi bộ qua đường và đèn hình người đi màu
xanh để cho phép người đi bộ qua đường.
- Đèn có thời gian đếm ngược, chữ số màu xanh hoặc đỏ thể hiện thời gian còn lại của các
tín hiệu này. Loại đèn này dùng để phụ trợ cho đèn tín hiệu thông thường, giúp cho người điều
khiển phương tiện chủ động trong việc ra quyết định dừng lại hoặc vượt nút.
Hình 1.10. Hình ảnh minh họa một số dạng đèn giao thông

1.2.3. Tổ chức giao thông bằng tuyên truyền và cưỡng chế
a. Khái niệm chung
Tuyên truyền và cưỡng chế là các biện pháp không thể thiếu khi thực hiện tổ chức quản lý
giao thông. Tuyên truyền được hiểu là sử dụng các phương pháp, phương tiện thông tin đại chúng
để chuyển tải thông tin được nhà quản lý đưa ra tới người tham gia giao thông, sử dụng các công
trình giao thông, giúp họ nắm bắt thông tin và thực hiện hành vi tham gia giao thông đúng theo
quy định, sử dụng các công trình giao thông đúng quy định và có hiệu quả cao.
Cưỡng chế được hiểu là dùng quyền lực nhà nước (công cụ thực hiện quyền lực này là
cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông và các lực lượng khác) ép người dân phải tuân theo
những quy định có lợi cho giao thông, cho xã hội nói chung và cho người tham gia giao thông nói
riêng.
b. Tuyên truyền
Để tuyên truyền có hiệu quả cần lên kế hoạch tổ chức thực hiện tuyên truyền, tiến hành
tuyên truyền cần phải đặt mục tiêu theo tổ chức giao thông lên hàng đầu, vừa thực hiện vừa đánh
giá, bổ sung.
c. Tổ chức cưỡng chế
Hiện nay tại nước ta các cơ quan chức năng trực tiếp tổ chức cưỡng chế bao gồm cảnh sát
giao thông, thanh tra giao thông và các lực lượng khác. Tiến hành cưỡng chế người dân tham gia
giao thông và người dân sử dụng đường giao thông theo nhiều hình thức khác nhau:
- Phạt tiền người vi phạm giao thông
- Tạm giữ giấy phép lái xe
- Tạm giữ phương tiện giao thông
- Truy tố trách nhiệm trước pháp luật
- Các hình thức kết hợp
- Các hình thức khác
Các biện pháp cưỡng chế được các cơ quan chức năng sử dụng linh động trước tình hình
thực tế cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao.
1.2.4. Tổ chức giao thông bằng các giải pháp kỹ thuật hạ tầng
a. Phân tách làn giao thông
Việc phân tách làn giao thông phải tuân theo nguyên tắc thiết kế mặt cắt ngang đường đô
thị:
- Trước hết phải đảm bảo an toàn giao thông, thông suốt cho người và phương tiện
- Phải phù hợp với tính chất và công dụng của tuyến đường
- Phải kết hợp chặt chẽ với điều kiện tự nhiên và công trình xây dựng ở hai bên đường, đảm
bảo thích hợp giữa chiều cao của công trình xây dựng và chiều rộng của lòng đường
- Phải đảm bảo yêu cầu thoát nước, kết hợp với thoát nước của tiểu khu
- Phát huy tối đa tác dụng của dải cây xanh bên đường, cây xanh có tác dụng tăng mỹ quan
đường phố và cải tạo môi trường.
- Phải đảm bảo bố trí được các công trình trên và ngầm dưới lòng đường
- Kết hợp chặt chẽ các yêu cầu trước mắt và tương lai
Cơ sở khoa học để phân tách làn theo phương tiện là phải có đủ điều kiện để bố trí làn
đường dành riêng cho mỗi loại phương tiện. Chiều rộng phần xe chạy dành cho ô tô bao gồm 01
hay nhiều làn xe ô tô xác định trên cơ sở chiều rộng tối thiểu của một làn ô tô. Tương tự đối với
chiều rộng phần xe chạy dành cho xe máy.
Không gian cho các chuyển động trong dòng giao thông: không gian chuyển động của các
phương tiện trong dòng giao thông được tính toán trên cơ sở diện tích chiếm dụng không gian (mặt
cắt) trong điều kiện tĩnh (không chuyển động) và phần không gian an toàn khi chuyển động của
phương tiện. Không gian chuyển động của các phương tiện trong dòng giao thông được sử dụng
để tính toán chiều rộng làn đường cần thiết cho các loại phương tiện, đánh giá hiệu quả phân làn.
Có nhiều tài liệu tính toán không gian sử dụng của phương tiện chuyển động trong dòng
giao thông, trong khuôn khổ của đồ án này ta sử dụng tài liệu sau:
Bảng 1.1. Yêu cầu sử dụng không gian đường phố của các loại phương tiện

Người đi
bộ
Xe đạp Xe máy Ô tô con Xe tải nhỏ Xe tải lớn Xe bus
Yêu cầu không
gian (m)
0,75 1,00 1,20 2,25 2,60 3,00 3,00
Yêu cầu không
gian tối thiểu
(m)
0,80 1,00 2,00 2,35 2,75 2,75
(Nguồn: FORSCHUNGSGESELLSCHAFT FÜR STRASSEN-UND VERKEHRSWESEN
(FGSV): Empfehlungen für die Anlage von Hauptverkehrsstraßen (EAHV), Köln 1993,
berichtigter Nachdruck 1998)
Hình 1.10. Không gian chuyển động của phương tiện cơ giới trong dòng giao thông
(Nguồn: FORSCHUNGSGESELLSCHAFT FÜR STRASSEN-UND VERKEHRSWESEN
(FGSV): Empfehlungen für die Anlage von Hauptverkehrsstraßen (EAHV), Köln 1993,
berichtigter Nachdruck 1998)
Hình 1.11. Không gian chuyển động của phương tiện phi cơ giới trong dòng giao thông
(Nguồn: FORSCHUNGSGESELLSCHAFT FÜR STRASSEN-UND VERKEHRSWESEN
(FGSV): Empfehlungen für die Anlage von Hauptverkehrsstraßen (EAHV), Köln 1993,
berichtigter Nachdruck 1998)
Hình 1.12. Không gian chuyển động cho người đi bộ
(Nguồn: FORSCHUNGSGESELLSCHAFT FÜR STRASSEN-UND VERKEHRSWESEN
(FGSV): Empfehlungen für die Anlage von Hauptverkehrsstraßen (EAHV), Köln 1993,
berichtigter Nachdruck 1998)
b. Tổ chức thiết kế, cải tạo dải phân cách
Phần phân cách bao gồm hai loại:
 Phần cách giữa: dùng để phân tách các hướng giao thông ngược chiều
 Phần cách ngoài: dùng để phân tách giao thông chạy suốt có tốc độ cao với giao thông địa
phuong, tách xe cơ giới và xe thô sơ, tách xe chuyên dụng với các loại xe khác
Phần phân cách có thể gồm 02 bô phận: dải phân cách và dải mép (dải an toàn). Dải mép
chỉ được cấu tạo khi tốc độ thiết kế ≥ 50 km/h, theo các quy định ở điều 8.3.2 của TCXDVN
104:2007 “Đường đô thị - Yêu cầu thiết kế”.
Hình 1.13. Cấu tạo điển hình dải phân cách
(Nguồn: TCXDVN 104:2007)
Dải phân cách có chức năng chính là phân luồng giao thông. Ngoài ra, nó còn có thể có
thêm một số chức năng khác khi có yêu cầu như: phần dự trữ đất cho phương án tương lai để nâng
cấp cải tạo mở rộng đường, bố trí các làn xe phụ, làn đường xe bus, xe điện, chống chói cho 2 làn
xe ngược chiều, bố trí các công trình như: chiếu sáng, trang trí, biển báo, quảng cáo, công trình
ngầm, giao thông ngoài mặt phố. Dải mép (dải an toàn) là phần bề rộng giữa dải phân cách và
phần xe chạy. Dải mép được vạch sơn để dẫn hướng, chỉ phạm vi phần xe chạy cho người lái, tăng
an toàn giao thông.
Cấu tạo dải phân cách: Chiều rộng của dải phân cách được thiết kế tuỳ thuộc vào vị trí và
chức năng đặt ra khi thiết kế nó. Khuyến khích mở rộng để dự trữ đất cho tương lai nhưng nên
thiết kế cân xứng với kích thước phần xe chạy, hè đường, bảo đảm kiến trúc cảnh quan đô thị. Bề
rộng tối thiểu tham khảo ở bảng:
Bảng 1.3. Chiều rộng tối thiểu và kiểu dải phân cách
Loại đường
Chiều rộng tối thiểu
và kiểu dải phân cách
Điều kiện xây dựng
Kiểu dải
I II III
Đường cao tốc đô thị
4,00 (12,00) 3,50 (9,00) 3,00 (6,00) a2, a3, b2, b3
Đường phố chính đô thị
Chủ yếu
3,00 (9,00) 2,50 (6,50) 2,00 (4,00) a2, a3, b2, b3
Thứ yếu
2,50 (7,50) 2,00 (5,00) 1,50 (3,00) a1, a2, a3, b1
Đường phố khu vực
2,00 (6,00) 1,50 (4,00) 1,00 (2,00) a1, a2, b1
Đường phố nội bộ
- - - -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét