Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Thực trạng hoạt động XK gạch đá ốp lát cao cấp của Cty XK gạch đá ốp lát cao cấp VICOSTONE

trong nước sau đó xuất khẩu những sản phẩm này ra nước ngoài với danh nghĩa
là hàng của mình. Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được của doanh
nghiệp thường cao hơn các hình thức khác. Với vai trò là người bán hàng trực
tiếp doanh nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách và phẩm
chất hàng hoá, tiếp cận thị trường, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu
dùng. Tuy vậy, hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lớn. Doanh
nghiệp có thể gặp rủi ro như không xuất được hàng, không thu mua được hàng,
rủi ro do thay đổi tỷ giá hối đoái…
1.2.2. Xuất khẩu qua trung gian.
Đây là phương thức mua bán, ở đó người bán và người mua phải thông
qua người thứ ba đẻ thoả thuận điều kiện mua bán.Người trung gian(người thứ
ba) có thể là đại lý hoặc nhà mô giới. Hình thức này sẽ an toàn hơn hình thức
xuất khẩu trực tiếp vì giảm được rủi ro do thị trường đem lại khi thị trường là thị
trường mới. Đặc biệt doanh nghiệp không cần bỏ vốn nhiều, nhận tiền nhanh, ít
thủ tục và tương đối tin cậy.
1.2.3. Buôn bán đối lưu:
Đây là hình thức giao dịch mà xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu,
người bán đồng thời là người mua. Mục đích của hình thức này không phải
nhằm thu ngoại tệ mà nhăm thu về một lượng hàng có giá trị tương giá trị của lô
hàng đã xuất. Có nhiều loại hình buôn bán đối lưu: hàng đổi hàng, trao đổi bù
trừ, mua đối lưu, chuyển giao nghĩa vụ, mua lại hoặc thực hiện giao dịch bồi
hoàn.
1.2.4. Xuất khẩu tại chỗ.
Đó là hình thức cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho ngoại giao đoàn, cho
khách du lịch quốc tế,…Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt hiệu quả cao do
giảm bớt chi phí đóng gói, chi phí bảo quản, vận tải, thời gian thu hồi vốn
nhanh, nhưng lượng hàng xuất thì không nhiều.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
5
1.2.5. Gia công quốc tế
Là hình thức trong đó bên nhận gia công nhập nguyên liệu hoặc bán
thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm theo yêu cầu của
bên đặt gia công. Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công
ăn việc làm cho người lao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để
phát triển sản xuất. Đây là hình thức được áp dụng phổ biến ở các nước đang
phát triển có nguồn nhân công dồi dào. Đối với nước đặt gia công cũng có lợi
khi khai thác nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, nguồn nguyên liệu sẵn có của
các nước nhận gia công.
1.2.6. Tạm nhập tái xuất
Là hình thức xuât khẩu đi những hàng hoá đã nhập khẩu sang nước khác
mà chưa qua gia công chế biến hay sử dụng ở nước tái xuất. Mục đích của hình
thức này là thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn số bỏ ra ban đầu. Có hai hình thức
tạm nhập tái xuất:
- Hàng hoá được nhập vào nước tái xuất, sau đó mới xuất sang nước khác.
Nước tái xuất thu tiền của nước nhập khẩu rồi trả tiền hàng cho nước xuất khẩu.
- Hành hoá được xuất khẩu thẳng tới nước nhập khẩu không qua nước tái
xuất. Nước tái xuất thu tiền của nước nhập khẩu và trả tiên hàng cho nước xuất
khẩu. Phần tiền còn lại là lợi nhuận thu được của nhà tái xuất (hình thức này gọi
là hình thức chuyển khẩu).
1.3. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.
1.3.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu.
Như các hoạt động kinh doanh khác, vai trò của nghiên cứu thị trường
trong xuất khẩu rất quan trọng, giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác về thị
trường xuất nhập khẩu, có nguồn thông tin toàn diện, chuẩn xác làm nền tảng
cho chiến lược marketing xuất khẩu. Nếu không thực hiện nghiên cứu thị trường
xuất khẩu hoặc thực hiện sơ sài , doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những rủi ro
rất lớn.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
6
Tuỳ theo đặc điểm yêu cầu và điều kiện riêng doanh nghiệp có thể thực
hiện nghiên cứu thị trường xuất nhập khẩu theo một trong ba hình thức: tự tiến
hành, thuê dịch vụ nghiên cứu, kết hợp tiến hành và thuê dịch vụ. Về mặt thực
tiễn dù chọn hình thức nào doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng cần nắm được hai
vấn đề, đó là kỹ năng quản trị dự án nghiên cứu thị trường xuất nhập khẩu và
các nội dung cũng như kỹ thuật nghiên cứu thị trường xuất nhập khẩu phổ biến
thường dùng.
Mục đích của nghiên cứu thị trường là lựa chọn thị trường xuất khẩu, lựa
chọn đối tác trên thị trường đó. Cơ sở để lựa chọn thị trường xuất khẩu là mục
tiêu và năng lực của doanh nghiệp phải tương ứng với các nhân tố thuộc về môi
trường và thị trường nước ngoài. Cách thức nghiên cứu thị trường để lựa chọn
thị trường, lựa chọn đối tác:
- Phân đoạn thị trường nhằm hiểu biết quy luật của từng thị trường trên
các mặt: loại sản phẩm họ có và họ đang cần; yêu cầu đặt ra đối với sản phẩm về
chất lượng, mẫu mã; dung lượng thị trường; điều kiện chính trị, thương mại, tập
quán buôn bán, hệ thống pháp luật,.v.v. Mục tiêu của việc phân loại để nắm bắt
thị trường và có kế hoạch giói thiệu snả phẩm cụ thể thông qua chào hàng.
- Gạn lọc sơ bộ những thị trường không thích hợp : Đó là các thị trường
có chế độ bảo hộ mậu dịch khắt khe ; yêu cầu quá cao đối với chất lượng sản
phẩm; đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó quá mạnh;…
- Tiếp theo đó là lựa chọn thị trường mục tiêu để thực hiện xuất khẩu.
Trong một thị trường có rất nhiều khách hàng, và để chọn đối tác thường dựa
vào những điều kiện sau:
- Thương nhân có uy tín trong kinh doanh hoặc có quen biết.
- Thương nhân có thế lực về tài chính.
- Có thiện chí trong quan hệ buôn bán với ta, không biểu hiên hành vi
lưa đảo.

Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
7
1.3.2. Lập phương án xuất khẩu.
Công tác lập phương án xuất khẩu là một công tác quan trọng, bởi trong
giai đoạn này nguồn vốn bắt đầu được huy động, do đó các vấn đề cần được
xem xét, tính toán một cách chính xác nhất. Công việc trong công tác lập
phương án xuất khẩu bao gồm:
1.Tính toán đưa ra dự trù tổng chi phí
Tổng chi phí = Tổng giá vốn + chi phí lưư thông + chi phí quản lý DN +
chi phí tài chính( lãi xuất vay vốn, chênh lệch tỷ giá) + Tổng thuế phải chịu.
Trong đó, chi phí lãi xuất trong chi phí tài chính là chi phí chiếm tỷ trọng
lớn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu và loại chi phí này phụ thuộc vào các
yếu tố chủ quan :
+ Phụ thuộc vào khả năng huy động vốn với lãi suất phải chăng, vào thời
hạn huy động vốn.
+ Phụ thuộc vào năng lực khai thác các nguồn vốn tài trợ của chính phủ
chi xuất khẩu, cho mua công nghệ, trang thiết bị cấp cao.
+ Phụ thuộc vào tốc độ luân chuyển hàng hoá.
+ Phụ thuộc vào tối ưu hoá quá trình kinh doanh thương mại thông qua
hoạt động logistic trước, việc này tránh được dự trữ thừa gây ứ đọng vốn.
+ Phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn.
+ Phụ thuộc vào năng lực kiểm soát và điều khiển vốn: tránh được vốn bị
chiếm dụng.
Về thuế, VICOSTONE được hưởng ưu đãi Thuế TNDN theo Nghị định số
164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ cụ thể là:
+ Được hưởng thuế suất ưu đãi là 20% trong thời gian 10 năm kể từ khi
bắt đầu hoạt động SXKD (từ năm 2004 đến hết năm 2013)
+ Được miễn thuế 02 năm (2006,2007) và giảm 50% trong 05 năm tiếp
theo (từ năm 2008 đến hết năm 2012)
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
8
+ Từ năm 2014 Công ty nộp thuế TNDN với thuế suất 25% (theo giấy
chứng nhận ưu đãi đầu tư số 667/BKH/DN ngày 29/01/2002 của Bộ
trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư).
Về thuế nhập khẩu: Được miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư là đá, hoá
chất nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
Chi phí kinh doanh có thể dự trù ở mức tối đa cho phép.
2. Dự tính Gía xuất khẩu
Cần định giá sản phẩm thế nào ở thị trường nước ngoài? Giá cả sản phẩm
sẽ đứng ở vị trí tương đối nào so với giá cả của đối thủ cạnh tranh? Doanh
nghiệp sẽ xuất khẩu theo giá của điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, FAC, CRF,
CIF )? có chiết khấu cho khách hàng mua với số lượng nhất định nào đó
không ? giá cả mà doanh nghiệp mong muốn bán được là bao nhiêu?
Các cách tính giá xuất khẩu:
- Giá thành chế tạo(manufacturing cost) + các chi phí xuất khẩu(special
exporting cost) = giá thành sản xuất ( factory cost)
- Giá thành sản xuất – thuế được hoàn lại = giá thành sản xuất thuần
- Giá thành xuất khẩu + lợi nhuận + chi phí bán hàng = giá xuất xưởng(Ex
Works Price).
- Giá xuất xưởng + chi phí vận tải nội địa + các chi phí lưu kho, lưu bãi
cầu cảng, bốc xếp = giá FOB
- Giá FOB + chi phí vận tải = giá CFR
- Giá CFR + phí bảo hiểm = giá CIF
Ngoài ra còn cần phải cộng thêm chi phí khác như : phí ngân hàng, phí ký quỹ
( phí bảo đảm); ngoại hối kỳ hạn (cost of forward exchange cover); các phí
EFIC v.v
Giá hàng xuất khẩu được xác định liên quan đến 2 điểm cơ bản: Mức giá
nào người nhập khẩu có thể đảm bảo chi phí lợi nhuận dự tính hợp lý và mức giá
nào được thị trường chấp nhận. Gía xuất khẩu dự tính ở mức thấp nhất cho phép.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
9
Lưu ý: Doanh nghiệp không nên đặt ra một mức giá thấp giả tạo ( giá thấp
không phải do chi phí thấp) khi đưa sản phẩm vào một thị trường xuất khẩu bởi
vì nếu đã đặt giá thấp thì sẽ rất khó để có thể nâng mức giá đó lên mức thực tế
của nó trong thời gian sau.
3. Ngoài những công việc trên, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải dự báo
tỷ giá hối đoái .
Tỷ giá hối đoái dự báo ở thời điểm thanh toán ở mức xuống thấp nhất của
đồng USD so với VND
1.3.3. Tạo nguồn hàng.
Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ những hoạt động từ đầu tư, sản
xuất, kinh doanh cho đến các nghiệp nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng, vận chuyển, bảo quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng
hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu. Yêu cầu đối với việc thu gom
hàng xuât khẩu là phải đúng về phẩm chất, đủ về số lượng hàng hoá và đảm bảo
thời gian giao hàng.
Như vậy công tác tạo nguồn hàng cho xuất khẩu có thể được chia thành 2
loại hoạt động chính:
Loại những hoạt động sản xuất và tiếp tục quá trình sản xuất hàng hoá cho
xuất khẩu. Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thì là cơ bản và quan trọng
nhất.
Loại những hoạt động nghiệp vụ phục vụ cho công tác tạo nguồn hàng
xuất khẩu, thường do các tổ chức ngoại thương làm những chức nằng trung gian
cho xuất khẩu hàng hoá. [1,I, Chương XI, trang 220- GT quản trị kinh doanh
xuất nhập khẩu] .
Đối với những doanh nghiệp không tự sản xuất sản phẩm để xuất khẩu
thì giai đoạn này có hai công việc chính:
1. Ký hợp đồng kinh tế với các đơn vị có hàng xuất khẩu.
Doanh nghiệp xuất khẩu có thể quan hệ với đơn vị “chân hàng” theo một
trong những quan hệ hợp đồng sau:
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
10
• Hợp đồng mua bán hàng xuất khẩu: Đơn vị “chân hàng” chuyển vào
quyền sở hữu của đơn vị xuất khẩu một hoặc một số lô hàng xuất khẩu nhất
định, còn doanh nghiệp xuất khẩu có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
• Hợp đồng gia công xuất khẩu: Doanh nghiệp xuất khẩu giao nguyên vật
liệu hoặc bán thành phẩm cho đơn vị sản xuất và yêu cầu đơn vị sản xuất, gia
công, chế biến chúng thành sản phẩm xuất khẩu.
• Hợp đồng đại lý thu mua hàng xuất khẩu: Doanh nghiệp xuất khẩu uỷ
nhiệm cho đơn vị nội thương tiến hành thu mua hàng xuất khẩu tại một địa
phương nhất định và trả cho đơn vị nội thương phí đại lý thu mua.
• Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu: Đơn vị “ chân hàng” ( bên uỷ thác) uỷ thác
cho doanh nghiệp xuất khẩu (bên nhận uỷ thác) tiến hành xuất khẩu những hàng
hoá nhất định với danh nghĩa của mình nhưng với chi phí do bên uỷ thác chịu.
• Hợp đồng liên doanh, liên kết xuất khẩu: Đơn vị “ chân hàng” và doanh
nghiệp xuất khẩu cùng chung vốn, chung sức, chung chịu rủi ro để kinh doanh
xuất khẩu, lãi lỗ chia theo tỷ lệ góp vốn của hai bên.
2. Tiếp nhận hàng.
Có hai công việc chính trong giai đoạn này
• Chuẩn bị nhận hàng:
Chuẩn bị kho chứa, phương tiện bốc dỡ- vận chuyển, thiết bị dụng cụ cân
đo đong đếm và dụng cụ kiểm nghiệm hàng; chuẩn bị cán bộ và công nhân tiếp
nhận; chuẩn bị các giấy tờ và chứng từ cần thiết theo thủ tục quy định.
• Nhận hàng:
Tiến hành đồng thời việc nhận hàng theo số lượng ( kiểm tra số lượng
hàng thực nhận và đối chiếu với số lượng hàng giao trên chứng từ kèm theo như
hợp đồng kinh tế, phiếu giao hàng , hoá đơn .v.v ) và nhận hàng theo chất
lượng( xác định hàng hoá giao có đúng chất lượng quy định trong hợp đồng hay
không).
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
11
1.3.4. Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu
quan trọng trong hoạt động xuất khẩu. Đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng
trong mua bán quốc là cả một quá trình cần có kiến thức sâu rộng. Bởi, việc mua
bán ở đây là mua bán giữa các quốc gia khác nhau về nhiều mặt : ngôn ngữ, văn
hóa, luật pháp,…Do vậy, trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng phải hiểu rõ
các điều khoản mà đối tác đưa ra. Trong quá trình đàm phán còn phải căn cứ
vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng điều kiện và
mục tiêu của doanh nghiệp cũng như mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác.
Có các hình thức đàm phán sau thường được áp dụng :
- Đàm phán qua thư tín.
Đàm phán qua thư tín là phương thức trao đổi thông tin giữa các đối tác
bằng hình thức viết thư. Phương thức này cho phép đàm phán được nhiều bạn
hàng nhưng lại giảm được chi phí đàm phán. Các quyết định đưa ra đượccân
nhắc kỹ lưỡng vì có sự chuẩn bị trước của cả một tập thể. Bên cạnh những ưu
điểm thì việc đàm phán qua thư tín có hạn chế là khó kiểm soát được ý đồ của
đối tác, hơn nữa việc trao đổi bằng thư từ đòi hỏi thời gian dài, do đó dễ mất cơ
hội kinh doanh.
- Đàm phán qua điên thoại, điện tử tin học.
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật
thông tin liên lạc thì phương thức đàm phán qua điện thoại càng trở nên phổ
biến. Ưu điển nổi bật của phương thức này là tiết kiệm được thời gian, nó cho
phép ta nắm bắt được cơ hội kinh doanh nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu đàm phán
kinh doanh qua điện thoại thì không có gì làm bằng chứng hợp phápcho sự thoả
thuận giữa hai bên. Do đó, người ta thường sử dụng kết hợp đàm phán qua điện
thoại với dùng telex, fax.
Đàm phán qua điên thoại thường sử dụng để thoả thuận các chi tiết nhỏ
trong hợp đồng, và thường sử dụng các hợp đồng mua bán trong nước. Ngày
nay, việc đàm phán được thực hiện thông qua điện tử tin học, điển hình là đàm
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
12
phán qua internet. Đàm phán qua Internet cho phép đàm phán đa phương, song
phương với đặc điểm và thời gian trải rộng toàn cầu.
- Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp.
Đàm phán gặp gỡ trực tiếp truyền thống là “phải nắm bắt được tận tay,
nhìn thấy mặt nhau, đối diện nhau”. Ngày nay vẫn nhìn thấy mọi hành vi của
nhau, đối diện nhau nhưng không thể “bắt tay nhau”. Đó là hình thức đàm phán
qua cầu truyền hình trực tiếp. Trong quá trình đàm phán trực tiếp thì các bên
nắm bắt được tâm lý và phản ứng của nhau một cách trực tiếp thông qua cử chỉ,
vẻ mặt, điệu bộ,…qua đó các bên các bên có thể tác động đến quan điểm và
mong muốn của nhau bằng cách thức cụ thể để đi đến sự thống nhất chung, tìm
ra giải pháp dung hoà lợi ích của các bên. Phương thức đàm phán trực tiếp đẩy
nhanh tốc độ giải quyết và nhiều khi là lối thoát duy nhất cho những cuộc đàm
phán qua thư tín, điện thoại điện tử đã kéo dài lâu mà vẫn chưa có kết quả.
Quá trình đàm phán thường diễn ra theo các bước sau:
1. Chào hàng( Offers)
Đây là bước nhà xuất khẩu chào hàng tới nhà nhập khẩu. Có 2 loại chào
hàng là chào hàng cố định (Firm offer or Binding offer) và chào hàng tự do
( Free offer).
Nội dung chào hàng: Số hiệu chào hàng, tên người mua, tên người bán,
tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, giá cả, điều kiện cơ sở giao hàng, thời
hạn giao hàng, điều kiện thanh toán, bao bì, kỹ mã hiệu, thể thức giao nhận hàng
v.v
2. Hoàn giá ( Counter Offer)
Có thể xuất phát từ phía người bán hoặc người mua.
Thực chất hoàn giá là việc mặc cả các điều kiện giao dịch trong thương
mại. Khi một hoàn giá đã được đưa ra, nó làm vô hiệu bản phát giá trước đó và
được coi là một bản phát giá mới.
3. Chấp nhận ( Acceptance)
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
13
Bên nhận chào hàng hoặc hoàn giá thông báo chấp nhận toàn bộ nội dung
đã nêu ra trong chào hàng hoặc hoàn giá.
* Điều kiện hiệu lực của chấp nhận:
- Chấp nhận hoàn toàn không có bảo lưu: Không thay đổi 6 nội dung chủ
yếu: Tên hàng, Chất lượng, Số lượng, Giá cả, Thanh toán, Giao hàng.
- Chấp nhận đó phải do chính tay người được chào hàng (Offeree) chấp
nhận.
* Giá trị pháp lý của chấp nhận:
- Đối với chào hàng tự do: Hợp đồng chưa được ký kết.
- Đối với chào hàng cố định: Hợp đồng được ký kết.
4. Xác nhận ( Confirmation)
Là việc khẳng định lại các điều kiện hai bên đã thoả thuận bằng văn bản.
Xác nhận thường làm thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi cả hai
bản cho phía bên kia, sau khi ký bên nhận giữ lại một bản rồi gửi trả lại một bản
cho bên lập xác nhận.
1.3.5. Thực hiện hợp đồng, giao hàng và thanh toán tiền hàng.
Sau khi đã ký kết hợp đồng cần xác định rõ trách nhiệm, nội dung và trình
tự công việc phải làm, cố gắng không để xảy ra sai sót, tránh gây nên thiệt hại.
Tất cả những sai sót là cơ sở phát sinh khiếu lại. Các công việc trong giai đoạn
này gồm:
- Chuẩn bị hàng để xuất khẩu: Doanh nghiệp đóng gói hàng hoá, chuẩn bị
hàng hóa đủ số lượng, đảm bảo chất lượng để xuất khẩu. Đồng thời doanh
nghiệp phải sắp xếp những việc phải làm, ghi thành bảng theo dõi tiến độ thực
hiện hợp đồng.
- Tiến hành làm các thủ tục để giao hàng như: thuê phương tiện vận tải,
mua bao hiểm, làm thủ tục hải quan. Tuy theo điều khoản trong hợp đồng mà
doanh nghiệp tiến hành làm các thủ tục khác nhau.
- Giao hàng theo đúng điều kiện đã được thể hiện trong hợp đồng : giao
theo điều kiện FOB, CIF,…tuỳ theo hợp đồng đã thoả thuận theo hình thức nào.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét