Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Nước khoáng

MỤC LỤC TRANG
1.Định nghĩa 2
2. Phân loại nước khoáng 2
2.1. Theo thành phần chiếm ưu thế 2
2.2. Nước khoáng phân theo nhiệt độ nước trên bề mặt (
0
C) 5
2.3. Nước Khoáng phân loại theo độ tổng khoáng hóa (mg/l) 5
3. Phân bố 5
4. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước khoáng- nước nóng ở nước ta 9
5. Tính chất chữa bệnh của một số loại khoáng chất 11
6. Một số loại nước khoáng tiêu biểu ở Việt Nam 12
Tài liệu tham khảo 20
1. Định nghĩa:
Có nhiều định nghĩa về nước khoáng, theo PTS. Hoàng Hưng- Con người và môi trường
định nghĩa: “ Nước khoáng là một loại của nước ngầm. Sở dĩ người ta gọi là nước khoáng
vì bản thân nó có chứa một số khoáng chất ở nồng độ nhất định và có tác dụng chữa bệnh.”
Khi xuất hiện trên mặt đất thành những mạch nước,những con suối gọi là “nước suối”.
1
VD: Nước suối Vĩnh Hảo
Nước khoáng - theo định nghĩa của "Luật khoáng sản" là " Nước thiên nhiên dưới đất, có
nơi lộ ra trên mặt đất, có chứa một số hợp chất có hoạt tính sinh học với nồng độ cao theo
quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu chuẩn nước ngoài được Nhà nước Việt
Nam cho phép áp dụng".
Nước nóng - cũng theo "Luật khoáng sản" là " Nước thiên nhiên dưới đất, có nơi lộ ra trên
mặt đất, luôn luôn có nhiệt độ cao theo quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo tiêu
chuẩn nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho phép áp dụng".
2. Phân loại nước khoáng:
2.1. Theo thành phần chiếm ưu thế:
2.1.1 Nước khoáng silic: Hàm lượng silic (tính theo H
2
SiO
3
) trong nước thường gặp từ 70-
80 đến 100-110 mg/l, cá biệt có nguồn lên đến 120 -140 mg/l. Trong điều kiện nhiệt độ
cao, quá trình phân hủy các alumosilicat từ các đá vây quanh diễn ra mạnh mẽ. Kết
quả là nước đựơc làm giàu bởi các hợp chất silic. Chính vì vậy mà các nguồn NK silic
thường có nhiệt độ cao và hàm lượng silic trong nước có xu hướng tăng theo nhiệt độ.
Tuy nhiên cũng có một số nguồn NK silic nhiệt độ thấp, điều kiện thành tạo của chúng
cần được tiếp tục nghiên cứu.
2.1.2 Nước khoáng carbobnat:Thường xuất hiện theo những đứt gãy trong các thành tạo
macma ở những vùng hoạt động núi lửa trẻ. Khí cacbonic được hình thành do quá
trình biến chất nhiệt được đưa vào nước, tạo nên loại NK giàu CO
2.
Hàm lượng CO
2
trong nước thường gặp 800-1000 mg/l, không ít nguồn đạt tới 2.000-2.020 mg/l, và có
thể còn cao hơn nữa nếu phương pháp lấy mẫu và phân tích chuẩn xác.
2.1.3 Nước khoáng sulfua-hydro: NK sulfur-hyđro có thể hình thành bằng những con
đường khác nhau, chủ yếu là do quá trình biến chất và oxy hóa các khoáng vật sulfur
trong những thành tạo magma hoặc biến chất ở những miền uốn nếp (kiểu Nà ún, Kon
Đu) cũng như quá trình phân huỷ vật chất hữu cơ và khử sulfat ở những miền võng
tích tụ các trầm tích lục nguyên hoặc carbonat. NK sulfur-hyđro cũng thường có nhiệt
độ cao. Nước có mùi "trứng thối", có kết tủa màu vàng.
2.1.4 Nước khoáng fluor: Ở nhiều nguồn fluor thường có mặt đồng thời với silic nên Nước
Khoáng thường được định danh là Nước Khoáng silic-fluor . Fluor được phát hiện
2
trong nước với hàm lượng từ 2 đến 7 mg/l, không ít nguồn đạt tới 10 -12 mg/l và hơn
nữa. Nước Khoáng fluor có hàm lượng thấp (1-2mg/l) có tác dụng phòng ngừa bệnh
sún răng, xốp xương.
2.1.5 Nước khoáng arsen: Về arsen trong nước còn ít được nghiên cứu. Đến nay mới có 1
nguồn là nguồn Nghĩa Thuận (Quảng Ngãi) có hàm lượng As = 0,8 mg/l (theo kết quả
phân tích của Viện Pasteur Sài Gòn nêu trong công trình của H.Fontaine năm 1957
[14]) đạt tiêu chuẩn xếp vào loại NK arsen, song xét tính chất đặc biệt của loại NK này
chúng tôi cũng xếp thành một loại để chú ý nghiên cứu thêm.
2.1.6 Nước khoáng sắt: Loại nước chứa nhiều sắt gặp phổ biến trong các tầng chứa nước
trầm tích Đệ tứ và Neogen ở các đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và rải rác ở nhiều nơi
khác với hàm lượng (Fe
2+
+ Fe
3+
) từ một vài chục đến hàng trăm mg/l. Tuy nhiên để
xếp một nguồn vào loại Nước Khoáng sắt theo quan điểm của chúng tôi thì không chỉ
căn cứ đơn thuần vào hàm lượng sắt (Fe
2+
+ Fe
3+
 10 mg/l) mà còn phải xét đến
nguồn gốc hình thành của sắt. Ở đây chỉ xếp vào loại Nước Khoáng sắt những nguồn
được hình thành liên quan với các mỏ hoặc điểm khoáng hóa quặng sắt hay sulfur đa
kim chứa sắt. Như vậy những loại nước chứa sắt tồn tại trong các trầm tích Đệ tứ ở
nhũng vùng đồng bằng không xem là Nước Khoáng sắt, trừ những trường hợp sắt đi
đôi với những yếu tố đặc hiệu khác. Đáp ứng điều kiện đó chỉ có 2 nguồn sau đây (con
số là: Fe
2+
+ Fe
3+
, mg/l) : Kép Hạ 371; Bình Lợi 272 (sắt đi kèm Br, I).
3
(Hình: Quang cảnh ở đây phù hợp với việc chiêm ngưỡng hơn là tắm. Nước khoáng ở đây
có màu đỏ bởi chúng có quá nhiều sắt.)
2.1.7 Nước khoáng Brom: NK brom được phát hiện chủ yếu nhờ các lỗ khoan sâu trong
trầm tích Neogen ở đồng bằng Bắc Bộ (10 nguồn) trong quá trình tìm kiếm dầu khí.
2.1.8 Nước khoáng iod: NK iođ thường đi đối với NK brom.
2.1.9 Nước khoáng Bor: NK bor cũng thường được phát hiện đồng thời với NK brom và
iođ trong 8 lỗ khoan tìm kiếm dầu khí ở Thái Bình, Nam Định và 2 nguồn lộ ở Lai
Châu. Hàm lượng HBO
2
đạt từ 4,5 đến 237 mg/l.
2.1.10 Nước khoáng Radi:Việc nghiên cứu các nguyên tố phóng xạ trong nước từ trước ít
được chú ý nên số liệu còn nghèo nàn. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả phân tích ở một
số nguồn hiện có, kết hợp với sự phân tích địa chất kiến tạo, sinh khoáng khu vực có
thể dự đoán sự tồn tại loại Nước Khoáng này là một thực tế ở Việt Nam.
2.1.11 Nước khoáng hóa: Là loại nước có độ khoáng hoá cao, từ 1.000 mg/l trở lên (không
liên quan với sự nhiễm mặn từ biển hoặc sự muối hóa thổ nhưỡng), ngoài ra không
chứa một yếu tố đặc hiệu nào khác nên không thể xếp vào các loại Nước Khoáng kể
trên . Loại nước này thường có nguồn gốc sâu, được dẫn lên mặt đất theo những đứt
gãy kiến tạo và nổi lên như một dị thường trên phông khoáng hoá địa phương của
nước dưới đất. Sở dĩ loại nước này được xem là nước khoáng vì nó có tác dụng sinh
học, quyết định bởi tổng hàm lượng của các ion.
2.1.12 Nước nóng: Trong số 287 nguồn trong danh bạ có 34 nguồn nước nhiệt độ dưới 30
oC
,
số còn lại (253 nguồn), có nhiệt độ từ 30
oC
trở lên, đạt tiêu chuẩn xếp vào nước nóng,
trong đó 164 nguồn đồng thời là Nước Khoáng thuộc các loại kể trên, còn 89 nguồn là
4
nước nóng không có yếu tố đặc hiệu. Theo thang nhiệt độ chúng được phân thành các
cấp: ấm = 131 nguồn; nóng vừa = 77 nguồn; rất nóng = 41 nguồn; quá nóng = 4 nguồn
.
2.2 Nước khoáng phân theo nhiệt độ nước trên bề mặt (
0
C):
- Nước ấm: 30 – 40(
0
C)
- Nước nóng vừa: 41 – 60(
0
C)
- Nước rất nóng: 61 – 100(
0
C)
- Nước quá nóng: > 100(
0
C)
2.3. Nước Khoáng phân loại theo độ tổng khoáng hóa (mg/l)
- Khoáng hóa rất thấp: <500
- Khoáng hóa thấp: 500 - 1.000
- Khoáng hóa vừa: 1.000 - 5.000
- Khoáng hóa cao: 5.000 - 10.000
- Khoáng hóa rất cao: >10.000.
3. Phân bố:
3.1 Nước khoáng Carbonic: Có 15 nguồn, bao gồm 8 mạch lộ (hoặc cụm mạch lộ) và 7
lỗ khoan (hoặc cụm lỗ khoan), phân bố chủ yếu trên một vùng rộng lớn từ Bình Thuận đến
Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Lâm Đồng, Đắc Lắc .Phân bố rộng rãi loại NK này ở vùng
Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên là phần lãnh thổ đã trải qua các hoạt động
macma mãnh liệt trong Mesozoi và cả Kainozoi.
3.2 Nước khoáng Silic: Phát hiện 95 nguồn, phần lớn phân bố ở các tỉnh từ Quảng Bình
đến Bình Thuận (58 nguồn). Số còn lại được phát hiện rải rác ở những nơi khác.
Tương tự NK carbonic, các nguồn NK silic phân bố chủ yếu ở những miền uốn nếp với sự
phân bố rộng rãi đá macma và biến chất.
5
(Hình: Suối khoáng nóng Tháp Bà – Nha Trang có chứa hàm lượng Silic)

3.3 Nước khoáng sulfua-hydro: Phân bố chủ yếu ở miền Tây Bắc Bộ và miền Trung
Trung Bộ từ Thừa Thiên-Huế đến Quảng Ngãi, Kon Tum.
3.4 Nước khoáng fluor: Hiện có 49 nguồn NK fluor. Chúng phân bố chủ yếu ở các
tỉnh Nam Trung Bộ (39 nguồn), Tây Nguyên. Số còn lại nằm rải rác ở các tỉnh khác. Nhiều
nguồn ở Tây Bắc Bộ cũng chứa F nhưng với hàm lượng thấp hơn (1-2 mg/l) .
3.5 Nước khoáng arsen: Mới có 1 nguồn là nguồn Nghĩa Thuận (Quảng Ngãi) có
hàm lượng As = 0,8 mg/l .
3.6 Nước khoáng sắt: Phổ biến trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen ở
các đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và rải rác ở nhiều nơi khác với hàm lượng (Fe
2+
+ Fe
3+
) từ
một vài chục đến hàng trăm mg/l.
3.7 Nước khoáng Brom: Phát hiện chủ yếu nhờ các lỗ khoan sâu trong trầm tích
Neogen ở đồng bằng Bắc Bộ (10 nguồn)
Ngoài ra cũng gặp rải rác ở những vùng khác: Lai Châu (2 nguồn); Yên Bái (2 nguồn),
Quảng Ninh (2 nguồn), Bắc Giang (1 nguồn), Hải Phòng (1 nguồn), Ninh Bình (1 nguồn),
Tây Nam Bộ (2 nguồn), TP Hồ Chí Minh (1 nguồn). Tổng số 32 nguồn.
3.8 Nước khoáng iod: 8 lỗ khoan tìm kiếm dầu khí ở Thái Bình, 3 nguồn lộ tại Yên
Bái và 1 lỗ khoan ở thành phố Hồ Chí Minh .
6
3.9 Nước khoáng Bor: 8 lỗ khoan tìm kiếm dầu khí ở Thái Bình, Nam Định và 2
nguồn lộ ở Lai Châu.
3.10 Nước khoáng Radi: 7 nguồn sau đây có thể xếp vào loại NK rađi (con số là cường
độ phóng xạ Ra
226
, pCi/l): Phù Lao-14; Tiên Lãng-63,45; Mỹ Khê-14,69; Thạch Trụ-72,9;
Châu Cát-12,1; Suối Nghệ-17,9; Bình Châu-12,4 .
3.11 Nước khoáng hóa: Có 62 nguồn thuộc loại này.
3.12 Nước nóng: Miền Tây Bắc Bộ có nhiều nguồn NN nhất: 78 nguồn, bằng 30,83% số
nguồn trong toàn quốc, tiếp đến là Nam Trung Bộ (duyên hải và Tây Nguyên): 73 nguồn
(bằng 28,85% số nguồn trong toàn quốc). Nhưng xét về mặt nhiệt độ thì ở Nam Trung Bộ
số mạch rất nóng có tới 24 nguồn, tức là chiếm 58,54% tổng số nguồn rất nóng trong toàn
quốc (41 nguồn).
Các đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là những bồn artesi lớn bị phủ bởi các trầm tích Đệ tứ
rất dày nên NN không có điều kiện xuất lộ, nhưng vẫn tồn tại dưới sâu và chỉ phát hiện
được bằng các lỗ khoan.
Bảng thống kê các nguồn nước nóng theo cấp nhiệt độ và theo miền địa lí:
Cấp
nhiệt
Các miền Cộn
g
the
o
% so với
độ Tây
Bắc
Bộ
Đôn
g
Bắc
Bộ
Đồng
bằng
Bắc
Bộ
Bắc
Trung
Bộ
Duyên
hải và
cao
nguyên
Nam
Trung Bộ
Đôn
g
Nam
Bộ
Tây
Nam
Bộ
cấp
nhiệt
độ
toàn quốc
7
ấm
(30-40
o
)
35 5 6 5 27 5 48 131 51,78
Nóng
vừa
(41-60
o
)
38 2 3 9 22 1 2 77 30,43
Rất
nóng
(61-
100
o
)
5 3 2 6 24 1 0 41 16,21
Quá
nóng
(>100
o
)
0 0 3 1 0 0 4 5,58
Cộng
theo
miền
78 10 14 21 73 7 50 253
% so
với toàn
quốc
30,8
3
3,95 5,53 8,30 28,85 2,77 19,7
6
100%
4. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước khoáng- nước nóng ở nước ta:
Tài nguyên Nước Khoáng- Nước Nóng của nước ta phong phú về số lượng, đa dạng về
kiểu loại và có giá trị sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.
8
- Về mặt y học NKNN Việt Nam có tác dụng chữa trị được nhiều chứng bệnh: thần kinh,
hô hấp, tiêu hóa, tim mạch, cơ khớp, da liễu, phụ khoa, chấn thương, bệnh nghề nghiệp
Có thể sử dụng chúng với nhiều liệu pháp khác nhau: tắm ngâm, uống, xông, súc rửa Các
loại bùn khoáng tích tụ ở những nơi xuất lộ NK cũng có giá trị chữa bệnh rất tốt.
- Phần lớn nguồn Nước Khoáng của ta có độ khoáng hóa vừa phải, vị ngon, nhất là loại
Nước Khoáng carbonic, rất thích hợp cho công nghệ đóng chai làm hàng giải khát, uống
chống nóng, chống mất muối do đổ nhiều mồ hôi cho công nhân lao động nặng nhọc
- Những nguồn NKNN có giá trị khai thác phục vụ du lịch - giải trí, đặc biệt nhiều nguồn
nằm gần những danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử nổi tiếng, có thể liên kết với nhau
tạo thành những quần thể du lịch hấp dẫn.
- Sự phong phú các nguồn nước nóng với nhiều cấp nhiệt độ cho phép khai thác năng
lượng địa nhiệt phục vụ các mục đích khác nhau: với nhiệt độ thấp thì để tắm về mùa rét,
ấp trứng, ngâm giống, nuôi trồng thủy sản, với nhiệt độ trung bình thì để sưởi ấm, sấy nông
hải sản , với nhiệt độ cao thì để phát điện.
Trong thực tế từ thời xa xưa nhân dân ta đã biết đến giá trị y học của Nước Khoáng- Nước
Nóng và sử dụng chúng vào mục đích chữa bệnh, nhưng việc khai thác một cách chính quy
thì mới bắt đầu từ năm 1928 với sự ra đời Xí nghiệp nước suối Vĩnh Hảo với sản lượng
ban đầu 30-40 nghìn lít/năm.
Xí nghiệp còn tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay, mỗi năm sản xuất hàng chục triệu lít
(năm 1997 gần 19 triệu lít).
Trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp ngành y tế đã dùng Nước Khoáng Kênh Gà
để chữa trị thương tật cho thương bệnh binh. Nhưng phải đến những năm 1973 - 1974 ba
cơ sở điều dưỡng tương đối chính quy mới được xây dựng tại các nguồn Nước Khoáng Mỹ
Lâm (Tuyên Quang), Quang Hanh (Quảng Ninh), và Mó Đá (Hòa Bình). Tuy quy mô nhỏ
bé (mỗi cơ sở 50 - 60 giường) nhưng có thể xem đây là những viên gạch đặt nền móng cho
lĩnh vực y học thủy liệu pháp ở nước ta. Sau khi miền Nam giải phóng một cơ sở điều
9
dưỡng bằng Nước Khoáng thứ tư được xây dựng tại nguồn Nước Khoáng Hội Vân (Bình
Định). Các công trình thử nghiệm lâm sàng sử dụng Nước Khoáng và bùn khoáng từ
nguồn Đảnh Thạnh (Khánh Hòa) do Y tế tỉnh Phú Khánh (cũ) tiến hành vào những năm
1980 - 1985 cũng đem lại hiệu quả tốt.
Một lĩnh vực ứng dụng quan trọng của Nước Khoáng: đóng chai làm dược liệu và uống
giải khát sau một thời gian dài trì trệ, từ khi có nền kinh tế thị trường đã có cơ hội phát
triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương.
Theo thống kê chưa đầy đủ đến năm 2000 có khoảng 54 cơ sở đóng chai Nước Khoáng
với tổng công suất 340 triệu lít/năm, nhưng mới huy động vào sản xuất khoảng 27%. Sản
lượng nước đóng chai thống kê được qua các năm như sau (triệu lít): 1992 = 32; 1993 =
43; 1994 = 50; 1995 = 88; 1996 = 100.
Một hướng mới trong lĩnh vực sử dụng NK - khai thác năng lượng địa nhiệt đã được bắt
đầu bằng những công trình thí nghiệm sấy nông sản tại 2 nguồn Nước Khoáng Mỹ Lâm
(65
oC
) và Hội Vân (85
oC
) trong những năm 1985 - 1988 do Tổng cục Mỏ và Địa chất (cũ)
cùng với các cơ quan nghiên cứu năng lượng mới của Bộ Điện lực (cũ) và Trường Đại học
Bách khoa Hà Nội tiến hành. Qua tính toán sơ bộ với mức khai thác hạn chế, mỗi năm 2
nguồn địa nhiệt trên cũng có thể cung cấp khoảng 22 tỷ Kcal, tương đương với nhiệt lượng
thu được khi đốt gần 3000 tấn than đá . Việc thử nghiệm được tiến hành bằng các thiết bị
và phương pháp kỹ thuật thô sơ nhưng cũng đạt kết quả khả quan. Sản phẩm thử nghiệm là
chè, cùi dừa (nạo sợi), sắn, khoai (thái lát) và cây dược liệu. Thời gian sấy khô hoàn toàn
đối với dừa (giảm độ ẩm từ 52% xuống 2%) là 4,30 giờ, với sắn, khoai (giảm độ ẩm từ
66% xuống 2%) là 14 giờ. Sản phẩm sấy khô dòn, màu trắng tinh; đối với chè, cây dược
liệu sau 5 giờ đã giảm độ ẩm từ 73% xuống 10%.Tiếc rằng việc nghiên cứu ứng dụng chỉ
dừng lại ở 2 công trình thử nghiệm trên, còn việc triển khai vào sản xuất thì mãi đến năm
1997 Công ty Dược và thiết bị vật tư y tế tỉnh Bình Định mới xây dựng 1 cơ sở sản xuất
muối tinh iođ theo phương pháp cho bốc hơi dung dịch nước muối trộn iođ bằng nguồn
nhiệt từ mỏ nước nóng Hội Vân. Tuy quy mô còn nhỏ bé và công nghệ thô sơ, nhưng hiệu
10
quả đạt được cũng đáng khích lệ: sản lượng muối đạt 7 nghìn tấn / năm, tiết kiệm hơn 1,5
tỉ đồng chi phí chất đốt (báo Nhân dân ngày 10/10/1997).
Ngày nay cùng với sự phát triển càng cao của khoa học kĩ thuật thì đã phát hiện ra nhiều
mỏ nước khoáng, nước nóng có giá trị lớn.
Việc sử dụng Nước Khoáng- Nước Nóng vào các mục đích khác cũng được thực hiện ở
một số điểm có điều kiện thuận lợi như khai thác "cát lồi", nuôi tảo Spirulina platensis
bằng nguồn Nước Khoáng Vĩnh Hảo, tách CO
2
ở nguồn Đak Mol, phục vụ du lịch ở các
nguồn Bình Châu, Trường Xuân, Tân Mỹ, Tiên Lãng. Đặc biệt khu du lịch Bình Châu được
xây dựng trên cơ sở nguồn NN tại một vùng cảnh quan thiên nhiên kỳ thú đang có sức hấp
dẫn lớn, có thể xem là một mô hình về việc sử dụng các nguồn NKNN vào mục đích du
lịch - nghỉ ngơi giải trí một cách có hiệu quả.
Với những bước đi ban đầu tuy còn hạn chế, nhưng Nước Khoáng- Nước Nóng đã dần dần
đi vào cuộc sống của đất nước với những hứa hẹn phát triển mạnh mẽ, đem lại lợi ích cho
kinh tế - dân sinh.
5. Tính chất chữa bệnh của một số loại khoáng chất:
Vị và tính chất chữa bệnh của một số loại nước khoáng phụ thuộc và nồng độ các khoáng
chất. Hàm lượng khoáng chất trong nước dùng để uống phải từ 2- 15g/l.
Nước khoáng thường chứa nhiều các ion: Cl
-
, SO
3
2-
, HCO
3
-
, Na
+
, Ca
2+
, Mg
2+
. Nước chứa một
lượng muối ăn nhất định sẽ tốt cho cơ quan tiêu hóa.
Canxi clorur xúc tiến quá trình chống viêm nhiễm và ảnh hưởng tốt đến hệ thần kinh.
Magie và clorur có tác dụng làm giãn mạch máu. Nước sulfat có tác dụng lợi mật và nhuận tràg.
Nước sắt (>10mgFe/l) dùng cho người trong cơ thể thiếu sắt.
Iot tốt cho tuyến giáp trạng và gan. Hàm lượng nhỏ Cobalt và Niken trong nước sẽ có lợi cho
người mắc bệnh thiếu máu.
6. Một số loại nước khoáng tiêu biểu ở Việt Nam:
6.1 Suối nước khoáng Bình Châu:
11
Vị trí. Xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc. Từ thị trấn Xuyên Mộc theo tỉnh lộ 23 đi về hướng
đông khoảng 15 km đến xã Bình Châu. Tiếp tục đi 3 km nữa đến ngã ba đi Hàm Tân thì rẽ sang
một con đường nhánh đi về hướng bắc 3 km nữa sẽ đến trung tâm du lịch Bình Châu.
Nguồn gốc: Nguồn gốc tạo thành suối nóng là do hoạt động của macma dưới sâu đưa nước
nóng lên, hâm nóng dòng nước ngầm. Nước ngầm len lỏi theo các khe nứt trong đất đá và xuất lộ
ra ngoài. Hay nói cách khác đó là do hoạt động của macma, địa nhiệt trong lòng đất thoát ra làm
nóng hơi nước, hoạt động trong lòng đất chảy tràn ra bên ngoài.
Dạng xuất lộ. Dòng suối nước nóng này có dạng xuất lộ chảy trên vùng trũng bàu tràm trong
khu rừng Bình Châu- Phước Bửu . Nước chảy ra trên một dải đất rộng 80 m dài 150 m dưới dạng
mạch đùn, tạo nên một khu lầy lội

với khoảng 70 điểm xuất lộ . Một số mạch chính nước trồi lên
mạnh, khoét thành những vũng sâu 0,5 - 1 m, lưu lượng mỗi vũng khoảng 4 - 5 l/s. Nước ở các
mạch lộ có nhiệt độ từ 65 đến 80
oC
mang theo nhiều bọt khí, thoảng mùi H
2
S. Lớp bùn tích tụ trên
mặt có chiều dày 0,5 - 1 m, màu xanh sẫm đến nâu đen, dẻo quánh, rất mịn, độ dính bám khá lớn.
Trên mặt bùn phủ một lớp muối trắng mỏng.
Lịch sử. Nguồn nước được nêu trong các công trình của Sallet [43] vào năm 1928 và của
E.Saurin vào năm 1935. Năm 1957 H.Fontaine đã lấy mẫu phân tích [14]. ông gọi tên nguồn nước
là nguồn Cù My. Sau năm 1975 nhiều nhà địa chất Việt Nam và nước ngoài (Liên Xô, Tiệp Khắc,
New Zealand, Mỹ ) đã đến khảo sát. Năm 1993 Đoàn 707 đã khoan 5 lỗ khoan với tổng chiều
sâu 180 m. Tiến hành bơm nước thí nghiệm với lưu lượng mỗi lỗ khoan từ 0,5 đến 7 l/s.
Tính chất lý - hoá.
Chỉ tiêu phân
tích
Mẫu 1 (8/3/57)
Viện Pasteur SG
Mẫu 2 (21/11/85)
Sở ĐC Tiệp Khắc
Mẫu 3 (19/2/93)
KRTA New Zealand
Tính chất vật lý trong, không mùi, vị lợ trong, không mùi

T = 70
oC
T = 65 - 75
oC
T = 80
oC
pH 7,1 7,47 7,72
Cặn khô, mg/l 3864


12
Độ khoáng hoá, mg/l 3782,41 3830
Anion mg/l mge/l mg/l mge/l mg/l mge/l
HCO
3
-
91,7 1,50 72,61 1,19 68 1,115
Cl
-
2013,0 56,70 1826,04 51,51 1790 50,50
SO
4
2-
377,5 7,86 389,55 8,11 394 8,20
NO
3
-
0,7 0,01


SiO
3
2-
142,2 3,74
PO
4
3-
2,7 0,8


F
-
3,9 0,21 2,5 0,132 3,8 0,20
Br
-
34 0,43
Cộng 2631,7 70,10 2290,70260,942 2289,8 60,445
Cation mg/l mge/l mg/l mge/l mg/l mge/l
Na
+
1229,0 53,46 1035,00 45,020 1100 47,800
K
+
42,0 1,07 35,10 0,898 38 0,972
Ca
2+
291,7 14,59 296,56 14,800 290 14,470
Mg
2+
8,7 0,72 0,30 0,600 1,4 0,165
Fe
2+

0,1

Al
3+
0,3 0,03
NH
4
+
0,21 0,012
Li
+
1,03 0,148 1,0 0,144
13
Cộng 1571,7 69,87 1370,23 61,478 1430,5 63,501
Các hợp phần khác,
mg/l

H
2
SiO
3
=151,02 SiO
2
= 111
(H
2
SiO
3
= 144,3)
Theo kết quả phân tích của Sở Địa chất Tiệp Khắc [19] hoạt tính phóng xạ Ra
226
trong nước đạt
0,44 Bq/l tức là 12,4 pCi/l, đạt tiêu chuẩn xếp loại NK rađi.
Kiểu hoá học. Nước clorur natri và clorur natri - calci, khoáng hoá vừa.
Xếp loại. Nước Khoáng silic - fluor - rađi, rất nóng.
Tình trạng sử dụng. Nguồn nước đã được dân địa phương sử dụng vào việc chữa bệnh từ
thời xa xưa. Có một truyền thuyết kể rằng ngày xưa dân Chàm bản xứ thường đem những tội nhân
đến đây hành hình bằng cách ném họ vào bùn nóng. Từ năm 1989 Công ty du lịch của tỉnh đã xây
dựng tại đây một trung tâm du lịch kết hợp tắm ngâm chữa bệnh, hàng năm thu hút hàng vạn lượt
du khách.
( Hình: Suối nước nóng Bình Châu)
6.2 Suối nước khoáng Vĩnh Hảo:
Vị trí. Xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong. Từ huyện lỵ Tuy Phong theo quốc lộ 1 đi về
phía bắc độ 7 km, sau khi vượt đèo yên ngựa qua núi Tào thì rẽ trái theo con đường nhánh
14

Xem chi tiết: Nước khoáng


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét