Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
270 Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sữa Việt Nam - VINAMILK
lực cho sự phát triển; song mặt khác, nó cũng dẫn đến các sự phá sản và nhiều hậu
quả tiêu cực khác. Do đó, muốn tồn tại thì phải giành thắng lợi trong cạnh tranh. Để
giành thắng lợi trong cạnh tranh thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Nói đến
năng lực cạnh tranh, tùy theo yêu cầu nghiên cứu mà có thể đề cập đến năng lực
cạnh tranh ở những cấp độ khác nhau như: cấp độ quốc gia là nói đến năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế, ở cấp độ ngành là nói đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trong ngành và ở các cấp độ hẹp hơn là năng lực cạnh tranh của từng loại
sản phẩm.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh đó chính là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử
dụng các nguồn lực có giới hạn như: nhân lực, vật lực, tài lực , biết lợi dụng các
điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh để từ đó
đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững, tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh
tranh. Từ đó cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn thì lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tác động của doanh nghiệp
đến các lực lượng cạnh tranh bằng các biện pháp sáng tạo - tạo ra được các “khác
biệt“ hơn hẳn hãng cạnh tranh. Khác biệt đó có thể là hệ thống phân phối dòch vụ
tốt, sản phẩm độc đáo, giá rẻ, Những khác biệt này giúp doanh nghiệp xác lập
được vò thế của mình trong thò trường. Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trình
bày trong tác phẩm:”Thò trường, chiến lược, cơ cấu: Cạnh tranh về giá trò gia tăng và
đònh vò doanh nghiệp” (NXB Tp.HCM – 2004), một doanh nghiệp có thể tạo ra vò
thế cạnh tranh, hay nói một cách khác, chúng ta có thể đánh giá năng lực cạnh tranh
của một doanh nghiệp thông qua sáu lónh vực chất lượng sau:
(1) Chất lượng sản phẩm: Giành và giữ thò phần bằng cách mở rộng hoặc chuyên
biệt hóa các chức năng của sản phẩm; hoặc đưa ra thò trường sản phẩm hoàn
toàn mới chưa bao giờ được biết đến trước đó;
(2) Chất lượng thời gian: Là việc sản phẩm của doanh nghiệp hiện diện kòp thời ở
thò trường, nghóa là đúng lúc mà khách hàng yêu cầu và trước hơn nhiều so với
các doanh nghiệp khác trong cùng lónh vực;
(3) Chất lượng không gian: Tạo ấn tượng về vò thế và thông qua tạo kinh nghiệm tốt
cho khách hàng từ qui trình 3S: Nhìn từ bên ngoài cửa tiệm, khách đã cảm nhận
những khao khát cần thỏa mãn (Satisfaction); khi bước vào cửa tiệm, khách hàng
ở tâm lý sẵn sàng hy sinh (Sacrifice) thời gian, tinh thần, tiền bạc; và khi không
gian cửa tiệm tạo cho khách hàng một bất ngờ đầy ấn tượng (Surprise);
(4) Chất lượng dòch vụ: Dòch vụ là thực hiện những gì mà doanh nghiệp đã hứa hẹn
nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những mối quan hệ đối tác lâu dài với khách
hàng và thò trường. Dòch vụ chỉ đạt chất lượng khi khách hàng cảm nhận rõ rằng
là việc thực hiện các hứa hẹn đó của doanh nghiệp mang đến cho khách hàng
giá trò gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp khác đang hoạt động trong cùng lónh
vực;
(5) Chất lượng thương hiệu: Chất lượng thương hiệu được hình thành và củng cố
thông qua mối quan hệ ràng buộc giữa việc khách hàng nhận dạng thương hiệu,
trung thành với thương hiệu và doanh nghiệp trung thành với thương hiệu của
mình. Thương hiệu đạt vò thế cao nhất là lúc mà chu kỳ sống của thương hiệu
phát triển đến độ bao gồm đầy đủ việc biểu trưng cho chất lượng sản phẩm, dòch
vụ, nhân cách và giá trò đề cao bởi doanh nghiệp;
(6) Chất lượng giá cả: Chất lượng giá cả cơ bản phải xuất phát từ sự hợp ý, hợp thời
đối với khách hàng. Nói cách khác, khi doanh nghiệp chứng minh được hiệu quả
mang lại từ chi phí mà khách hàng phải trả là phù hợp với ý muốn và thời điểm
yêu cầu của khách hàng thì bảng giá áp dụng sẽ mang đến cho doanh nghiệp
thêm một lợi thế cạnh tranh đặc thù.
1.1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Nâng cao năng lực cạnh tranh có vai trò rất quan trọng trong thời đại cạnh
tranh gay gắt như hiện nay. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty sẽ quyết
đònh sự sống còn của doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp
doanh nghiệp có đủ thế và lực để chống chọi với các hãng cạnh tranh khác trên thò
trường. Từ đó, doanh nghiệp giành được thò phần lớn, tăng lợi nhuận, giúp doanh
nghiệp tồn tại và phát triển. Mặt khác, nâng cao năng lực cạnh tranh của các công
ty trong ngành sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành. Nâng cao năng lực
cạnh tranh của sản phẩm sẽ làm cho sản phẩm đó đủ sức cạnh tranh lại với các sản
phẩm khác, không ngừng mở rộng thò phần trên thò trường và chu kỳ sống của sản
phẩm cũng được kéo dài.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, công ty, ngành và quốc gia có mối quan hệ
với nhau. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của công ty sẽ giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh của công ty. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty
trong ngành sẽ dẫn đến nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Nâng cao
năng lực cạnh tranh của các ngành trong một quốc gia sẽ tạo điều kiện nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó.
1.1.4 Chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng duy trì và mở rộng thò phần: một doanh nghiệp có khả năng duy trì và
mở rộng thò phần càng lớn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên.
Thật vậy, nhìn vào thò phần chiếm lónh tiêu thụ sản phẩm trên thò trường của một
doanh nghiệp ta sẽ biết doanh nghiệp đang đứng ở vò trí nào trên thò trường, uy
tín của sản phẩm của doanh nghiệp đối với khách hàng ra sao.
Lợi nhuận: bên cạnh chỉ tiêu thò phần, một doanh nghiệp có lợi nhuận càng tăng
và vượt trội hơn các hãng cạnh tranh trên thò trường sẽ chứng tỏ sự gia tăng năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó một cách toàn diện.
Vốn: Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Qui mô vốn càng lớn thì sẽ càng dễ dàng cho doanh nghiệp
trong việc đầu tư các trang thiết bò, máy móc hiện đại từ đó sẽ góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trình độ công nghệ: Doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại
thì sẽ sản xuất ra được sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao không những về
chất lượng mà còn về giá cả.
Năng lực, trình độ quản lý: Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế tri thức với sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin
nếu như các cán bộ quản lý có trình độ cao sẽ vận dụng một cách hiệu quả
những thành tựu của khoa học và công nghệ vào sản xuất và kinh doanh giúp
cho công ty cải thiện năng lực cạnh tranh của mình.
Sản phẩm: Những sản phẩm có chất lượng cao và ổn đònh chính là một trong
những tiêu chí được sử dụng làm thước đo năng lực cạnh tranh của các công ty.
Lao động và đào tạo: Một công ty có đội ngũ lao động có trình độ cao và có các
chương trình đào tạo người lao động phù hợp sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty.
Nghiên cứu và phát triển (R&D): Trong nền kinh tế thò trường ngày nay, nhu cầu
của người tiêu dùng luôn luôn thay đổi, hoạt động R&D ra đời là để giải quyết
sự đa dạng trong nhu cầu của người tiêu dùng và do đó nó cũng là một nhân tố
có tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh.
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh
Theo Michael Porter trình bày trong tác phẩm “Competitive Advantage” (New
York: Free Press, 1985), điểm cốt yếu của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là mối liên hệ giữa doanh nghiệp và môi trường của nó. Trong các bộ
phận cấu thành môi trường doanh nghiệp thì môi trường cạnh tranh là mảng quan
trọng nhất, môi trường cạnh tranh gắn trực tiếp với từng doanh nghiệp, là nơi phần
lớn các hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp đang diễn ra. Michael Porter đưa ra
mô hình 5 áp lực cạnh tranh trong Sơ đồ 1.
Theo Michael Porter, 5 áp lực cạnh tranh trên hình thành môi trường cạnh tranh
và quyết đònh vò thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong một ngành kinh doanh cụ
thể. Sức mạnh của các áp lực cạnh tranh trong ngành sẽ quyết đònh mức độ đầu tư,
cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận của ngành. Khi các áp lực cạnh tranh càng
mạnh thì khả năng sinh lời và tăng giá hàng của các công ty cùng ngành càng bò hạn
chế. Ngược lại, khi áp lực cạnh tranh yếu thì đó là cơ hội cho các công ty trong
ngành thu được lợi nhuận cao.
Sơ đồ 1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh
Các hãng
tiềm năng
Các hãng cạnh tranh
trong ngành
Mật độ của các hãng
cạnh tranh
Người
cung
ứng
Người
mua
Sản phẩm
thay thế
Đe dọa của những người mới vào cuộc
Quyền
trả giá
của
người
bán
Quyền
thương
lượng
của
người
mua
Đe dọa của sản phẩm thay thế
Nguồn: Michael E. Porter - “Competitive Advantage”, New York: Free Press, 1985
Vì vậy, Công ty cần phải nghiên cứu hiện trạng và xu hướng của các áp lực
cạnh tranh, căn cứ vào các điều kiện bên trong của mình để quyết đònh chọn một vò
trí thích hợp trong ngành nhằm đối phó với các lực lượng cạnh tranh một cách tốt
nhất hoặc có thể tác động đến chúng theo hướng có lợi cho mình. Việc phân tích
môi trường bên trong để xác đònh điểm mạnh, điểm yếu sẽ giúp cho doanh nghiệp
thực hiện có hiệu quả các hoạt động trong dây chuyền giá trò do đó quyết đònh hiệu
quả hoạt động chung và tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Michael Porter cho rằng lợi thế cạnh tranh được thể hiện dưới 2 hình thức cơ
bản: Chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Kết hợp hai hình thức cơ bản của lợi thế cạnh
tranh với phạm vi hoạt động của doanh nghiệp sẽ hình thành nên ba chiến lược cạnh
tranh tổng quát: chiến lược chi phí thấp nhất, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và
chiến lược tập trung. Các chiến lược cạnh tranh này chính là sự kết hợp các quyết
đònh khác nhau về các yếu tố nền tảng: Sản phẩm, thò trường và năng lực phân biệt
và đó chính là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Các chiến lược cạnh tranh sẽ chỉ ra
cách thức mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh trên thò trường như thế nào:
Sơ đồ 2: Chiến lược cạnh tranh cơ bản
NGUỒN CỦA LI THẾ CẠNH TRANH
Chi phí thấp Khác biệt hóa
Mục
tiêu
rộng
CHI PHÍ THẤP KHÁC BIỆT HÓA
PHẠM VI CẠNH
TRANH
Mục
tiêu
hẹp
TẬP TRUNG DỰA
VÀO
CHI PHÍ THẤP
TẬP TRUNG DỰA
VÀO
KHÁC BIỆT HÓA
Nguồn: Michael E. Porter - “Competitive Advantage”, New York: Free Press, 1985
1.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG SỮA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC
TRONG KHU VỰC
1.2.1 Tổng quan về thò trường sữa Việt Nam
Với nhu cầu tiêu thụ sữa ngày càng tăng đã thúc đẩy sản xuất sữa trong nước.
Trong 10 năm qua, ngành chế biến sữa Việt Nam đã không ngừng đầu tư máy móc,
trang thiết bò tiên tiến, hiện đại với tổng số vốn đầu tư hơn 1.500 tỷ đồng để chiếm
lónh thò trường trong nước và đạt được tốc độ tăng trưởng từ 8-12%. Nhu cầu tăng
cùng với quy mô thò trường tiêu thụ thuộc loại lớn ở Đông Nam Á đã thu hút nhiều
công ty nước ngoài đầu tư vào sản xuất sữa ở Việt Nam. Hiện nay tình hình cạnh
tranh trên thò trường sữa rất gay gắt, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trong nước,
cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trong nước và sữa ngoại nhập.
Hiện trên thò trường có bảy công ty chính trong ngành sữa là: Vinamilk, Cô gái
Hà Lan, Nestlé Việt Nam, Nutifood, Hanoi milk, Đại Tân Việt, F&N. Bên cạnh bảy
công ty chính này còn có nhiều công ty có quy mô sản xuất nhỏ khác. Tất cả các
công ty này hiện đang cạnh tranh khá gay gắt trên đa số các phân khúc của thò
trường. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng sữa đã có những mức
tăng trưởng nhảy vọt như Vinamilk tăng trưởng 30%/năm, Nutifood: 50%/năm,
Hancofood: 100%/năm, v.v Tuy nhiên, thò trường sữa trong nước cũng tràn ngập
các loại sữa dỏm, sữa kém chất lượng, không rõ nguồn gốc ảnh hưởng đến sức khỏe
của người tiêu dùng.
Việc Việt Nam gia nhập vào WTO vào cuối năm nay sẽ tăng thêm áp lực cạnh
tranh đối với các nhà sản xuất trong nước. Một số người cho rằng phải kiên quyết
bảo hộ ngành sữa vì sữa dành cho trẻ em, người già, người bệnh và trên thế giới
nhiều nước bảo hộ ngành sữa rất chặt. Một số khác lại cho rằng sữa Việt Nam hiện
nay là sữa nhập khẩu về chế biến, Việt Nam chưa nuôi được nhiều bò sữa cung cấp
đủ nhu cầu trong nước. Bây giờ mở cửa ngành sữa, bỏ hàng rào phi thuế, giảm thuế
nhập khẩu sữa cho cho Thế giới vào càng tự do thì sữa càng rẻ, người già, trẻ em,
người bệnh càng có cơ hội dùng sữa ngon và sữa rẻ. Nhiều nước khi gia nhập WTO
cũng phải thực hiện những điều kiện đặt ra cao như Trung Quốc, Jordan,
Macedonia, Croatia… Nhưng họ đã xem việc gia nhập WTO là cơ hội và đang ra sức
tận dụng những cơ hội này như: khẩn trương xây dựng hệ thống pháp luật tương
thích với luật chơi của Thế giới, mở rộng các lónh vực kinh tế, dòch vụ để thu hút đầu
tư, nâng cao xuất khẩu, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp
và của cả nền kinh tế để theo kòp tốc độ phát triển của các nước khác… Vì vậy, để
hội nhập và phát triển, ngành sữa Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc chơi này.
1.2.1.1 Quá trình phát triển thò trường sữa Việt Nam
Trước năm 1975: sản phẩm sữa trên thò trường rất phong phú và đa dạng. Nguồn
cung cấp sữa trên thò trường từ 2 nhà máy sản xuất trong nước ở Thủ Đức, từ
hàng viện trợ của các nước tư bản cho chính quyền Sài Gòn và hàng nhập khẩu;
trong đó, nguồn sữa nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất. Chủng loại khá đa dạng
như: sữa đặc có đường, sữa bột, kem, yaourt, phomai…
1975 – 1985: thời gian này chỉ có 1 công ty sản xuất và cung cấp sữa cho miền
Nam là Công ty Sữa miền Nam. Trong điều kiện đất nước mới giải phóng còn
nhiều khó khăn và nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nên chất lượng và số lượng
sữa của Công ty sản xuất không đáp ứng nhu cầu thò trường. Mặc khác, sữa được
phân phối và tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà nước. Trên thò trường trở nên khan
hiếm các loại sữa. Điều này tạo điều kiện cho sữa ngoại nhập lậu tràn vào thành
phố với giá cao.
1986 – 1991: cùng với sự đổi mới nền kinh tế, ngành sữa cũng phát triển một
bước. Sản lượng và chủng loại sản xuất của Công ty Sữa miền Nam nay đổi
thành Xí nghiệp Liên hiệp Sữa Cà phê Bánh kẹo miền Nam cũng tăng lên so với
thời kỳ trước. Thò phần sữa sản xuất trong nước chiếm khoảng 50% và sữa nhập
khẩu lậu chiếm một nửa thò phần còn lại do có lợi thế về chất lượng và mẫu mã.
1992 – nay: trong giai đoạn đầu, sữa sản xuất trong nước xuất hiện thêm sản
phẩm của Công ty liên doanh Foremost và một số công ty sữa nước ngoài thiết
lập văn phòng ở Tp.HCM để nghiên cứu thò trường, đưa hàng vào trong nước. Đó
là sản phẩm sữa của các nước như Thụy Sỹ (Nestlé), Hà Lan (Tulip, Dumex),
Mỹ (Klim), Nhật (Meiji), v.v góp phần làm cho thò trường sữa trở nên đa dạng
về chủng loại và nguồn cung cấp hơn các thời kỳ trước. Các công ty sản xuất
trong nước như Vinamilk, Foremost (nay là Sữa Cô gái Hà Lan) đã thiết lập được
hệ thống phân phối trên thò trường.
1.2.1.2 Tình hình sản xuất/nhập khẩu sữa trên thò trường
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng sữa sản
xuất trong nước tuy có tăng qua mỗi năm.
Bảng 1: Sản lượng sữa nguyên liệu sản xuất trong nước
Đơn vò tính: Tấn
Năm 1998 1999 2000 2001 2003 2005
Sản lượng 36.000 39.000 54.000 68.000 85.000 110.000
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
Hình 1: Sản lượng sữa nguyên liệu sản xuất trong nước
-
20,000
40,000
60,000
80,000
100,000
120,000
1998 1999 2000 2001 2003 2005
Tấn
Sữa nguyên liệu sản xuất là dùng để chế biến ra các loại sữa khác nhau như
sữa tươi, sữa chua uống, sữa bột và chế biến các thực phẩm khác như: kem,
phomai,…
Theo số liệu của Cục chăn nuôi, sữa tươi sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được
22% nhu cầu sữa tươi trong nước, hiện mỗi năm Việt Nam nhập sữa và các sản
phẩm từ sữa với kim ngạch đến 300 triệu USD. Nguyên nhân của thực trạng trên là
do quy mô chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, chưa tập trung. Hiện nay,
ngành chăn nuôi bò sữa đang đứng trước nguy cơ phá sản do giá cả thu mua thấp.
So sánh giá sữa tươi thu mua của các nước: giá sữa tươi của Nhật Bản, Hàn Quốc là
8.700-11.500 đồng/kg, của Thái Lan là 4.600 đồng/kg và của Trung Quốc là 4.800
đồng/kg, thì giá sữa ở Việt Nam chỉ có 3.500 đồng/kg. Với mức giá này thì lợi nhuận
của người chăn nuôi bò sữa chỉ còn 64 đồng/kg sữa, tính ra là 251.000 đồng/con
bò/năm. Chính vì vậy, trong vòng 1 năm, đàn bò sữa của cả nước đã giảm 1.000
con. Đây là thách thức rất lớn cho ngành sữa Việt Nam khi tiếp tục phải nhập khẩu
phần lớn nguyên liệu chế biến sữa.
Do lượng sữa sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu nên bên cạnh các
công ty sản xuất trong nước còn có các công ty nhập khẩu, đại lý phân phối chuyên
nhập khẩu các sản phẩm sữa nước ngoài. Hiện nay có khá nhiều văn phòng đại diện
sữa (chủ yếu là sữa bột) tại Tp. HCM. Các văn phòng này là cầu nối giữa các công
ty nhập khẩu, đại lý phân phối trong nước và các hãng sữa nước ngoài.
Bảng 2: Một số đơn vò nhập khẩu sữa
Stt Văn phòng đại diện Công ty nhập khẩu sữa
1 Meiji Dairies Corp An Thònh, Công ty thực phẩm và dòch vụ Tổng hợp
2 New Zealand Milk Kim Liên, Đại Tân Việt
3 Abott Công ty TNHH 3A
4 Tulip Hoàng Lan
5 Namyang Phú Thái
6 Mead Johnson Công ty TNHH phân phối Tân Tiến
7 Dumex Cosinex
Năm 2003, Việt Nam bắt đầu áp hạn ngạch nhập khẩu đối với mặt hàng sữa
nguyên liệu chưa cô đặc, sữa nguyên liệu cô đặc. Đến đầu tháng 3/2005, Phó Thủ
tướng Vũ Khoan đã ký ban hành Quyết đònh số 46/2005 điều chỉnh danh mục hàng
nhập khẩu áp dụng hạn ngạch thuế quan. Theo đó kể từ 1/4/2005, mặt hàng sữa
nguyên liệu kể cả chưa cô đặc hay cô đặc đều được nhập khẩu tự do, không bò hạn
chế về khối lượng như trước đây. Hiện nay, phần lớn sữa đặc và sữa tươi Việt Nam
nhập khẩu từ Hoa Kỳ và New Zealand. Vì vậy, quyết đònh bãi bỏ hạn ngạch này
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét