Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi
tác sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục. Nghiên cứu thị tr ờng để nắm
vững nhu cầu tiêu dùng của từng nhóm ngời trong các bộ phận thị trờng khác
nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định giá của sản phẩm tiêu thụ.
- Sự canh tranh của các đối thủ khác: Xu thế toàn cầu hoá đang diến
ra mạnh mẽ, sự thâm nhập cũng nh sự bành trớng của rất nhiều các đối thủ khác
đã là cho sức ép cạnh tranh đợc nâng cao. Điều này đã làm ảnh hởng rất nhiều
tới giá cả tiêu thụ. Để đảm bảo tính cạnh tranh đó thì các ngành phải hạ thấp giá
cả của mình dựa trên cơ sở hạ thấp gía thành sản phẩm.
2.2. Các yếu tố tác động tới mẫu mã chất lợng
- Công nghệ: Ngày nay công nghệ thờng đợc coi là sự kết hợp giữa
phần cứng và phần mềm. Phần cứng đó là trang thiết bị, khí cụ, nhà xởng.
Phần mềm bao gồm: Thành phần con ngời có kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm
của ngời lao động; thứ hai là thành phần thông tin, bao gồm các bí quyết, quy
trình, phơng pháp, các dữ liệu và các bản thiết kế; thứ ba là thành phần tổ chức,
thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản lý. Bất kỳ quá trình nào cũng
cần 4 thành phần nói trên. Sự kết hợp 4 thành phần trên đây là điều kiện cơ bản
đảm bảo cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao. Khoa học công nghệ ngày
càng phát triển, ngày càng đợc áp dụng nhiều và hoạt động sản xuất. Với việc
vận hành các loại máy móc kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ quản lý hiệu quả, đội
ngũ công nhân lành nghề đã làm cho sản xuất ngày càng nâng cao hơn, chất l -
ợng đợc tăng lên đáng kể, mẫu mã thêm đa dạng hơn phong phú hơn.
- Chất lợng của nguyên vật liệu: Chất lợng nguyên vật liệu vó vai trò
lớn trong việc nâng cao chất lợng của sản phẩm. Để một sản phẩm sản xuất ra
thì điều tiên quyết là có đợc đầu vào tốt. Muốn đầu ra có chất lợng cao thì ngoài
yếu tố công nghệ ra yếu tố chất lợng nguyên vật liệu có tác động rất mạnh.
Thực tế cho thấy các sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam vì không có
nguyên liệu đầu vào chất lợng cao, phong phú nên ngành dệt may phải nhập
khẩu nguyên vật liệu từ nớc ngoài. Chính điều này đã làm giảm lợi thế so sánh
về chất lợng của ngành dệt may nớc ta.
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
- Kinh nghiệm, tay nghề của công nhân: Ta biết rằng hàng dệt may
phụ thuộc phần lớn vào lao động thủ công tay nghề là chính. Dệt may Việt Nam
với một cơ sở hạ tầng và trang thiết bị củ kỹ lỗi thời với đại đa số sản xuất theo
lối truyền thống là chính thì trình độ và sự khéo léo của các công nhân có một ý
nghĩa rất lớn trong công tác tạo ra những mặt hàng chất lợng cao. Trong tơng lai
chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công nhân
có nghiệp vụ, chuyên môn cao nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sản xuất hiện
đại, sản xuất chất lợng cao.
2.3. Các yếu tố tác động tới thị trờng
- Dân số: Hầu hết nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may là của con ngời, chính
vì vậy mọi sự tăng lên hay giảm đi của dân số sẽ ảnh hởng một các rất trực tiếp
tới nhu cầu tiêu thụ của thị trờng. Mỗi một loại hàng hoá đều có phạm vi thị tr-
ờng của mình, và ngành dệt may muốn hàng hoá của mình đợc tiêu thụ nhanh
thì công tác mở rông thị trờng ra các nớc, các khu vực có lợng dân c lớn là rất
cần thiết vì tại đây sẽ có lợng cầu lớn.
- Các chính sách khuyến khích của nhà nớc: Ngành dệt may với đặc
điểm có hàm lợng lao động lớn và có tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu cao, đợc xếp vào
lĩnh vực khuyến khích đầu t phát triển. Nhiều chính sách thơng mại và đầu t đợc
ban hành trong thời gian đã có tác dụng thiết thực trong việc tạo môi trờng kinh
doanh thuận lợi , tháo gỡ những khó khăn của doanh nghiệp dệt may và thu hút
vốn đầu t vào lĩnh vực này.
Các quy định cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đ-
ợc Xuất nhập khẩu hàng hoá theo mã số kinh doanh và giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh và đợc phép nhận gia công, trực tiếp xuất khẩu thành phẩm,
không phải đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu theo tinh thần Nghị định
số 02/1998/NĐ-CP và Nghị định số 57/1998/NĐ-CP đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu.
Luật khuyến khích đầu t trong nớc (sửa đổi) theo Nghị định số
07/1998/NĐ-CP cũng nh Luật đầu t nớc ngoại (sửa đổi ) theo nghị định
10/1998/ NĐ-CP đã quy định các chế độ u đãi đầu t, về giảm thuế, miễn thuế
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
nhập khẩu nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu, về tín dụng u đãi ,
với các dự án sản xuất nguyên phụ liệu may, các dự án có tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu
cao đã thao gỡ phần nào những khó khăn về tài chính của doanh nghiệp cũng nh
khuyến khích về đầu t vào ngành dệt may.
Các thời hạn tăng thời hạn hoàn thuế, miễn thuế nhập khẩu nguyên vật
liệu để sản xuất hàng xuất khẩu; về đơn giản hoá thủ tục thanh lý hợp đồng gia
công cũng nh các quy định về hàng xuất khẩu, thởng hạn ngạch cho các doanh
nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao và xuất khẩu sang các thị trờng không hạn
ngạch đã giải quyết đợc những khó khăn trong tổ chức kinh doanh xuất khẩu và
khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm thị trờng xuất khẩu.
- Xu hớng tự do hoá mậu dịch thế giới: Ngày nay trong tiến trình toàn
cầu hoá kinh tế đang diễn ra gay gắt và Việt Nam cũng không ngoài vòng xoáy
đó. Tham gia hội nhập khu vực và thế giới , ngành dệt may Việt Nam đứng trớc
những cơ hội lớn của một thị trờng thế giới rộng lớn với tiềm năng lớn về khoa
học công nghệ cũng nh về vốn và những thách thức đặt ra cũng rất lớn cần
phải vợt qua.
Tham gia các tổ chức kinh tế, thơng mại khu vực và thế giới nh AFTA,
APEC, ASEM, WTO ngoài các quy chế tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ quốc
gia (NT), ta còn có cơ hội đợc hởng u đãi về thơng mại, đầu t và các lĩnh vực
khác mà các nớc thành viên của tổ chức này dành cho nhau. Các tổ chức
ASEAN/AFTA, APEC, ASEM,WTO, dành những u đãi riêng về miễn trừ, ân
hạn trong việc thực hiện các nghĩa vụ cho các nớc đang phát triển, chậm phát
triển và các nớc trong thời kỳ chuyển đổi (có mức thu nhập dới 1000USD/ngời )
ở tất cả các lĩnh vực. Các nớc đang phát triển sẽ đợc hởng đối xử u đãi về mức
độ cam kết mở cửa và về thời hạn thực hiện các nghĩa vụ để bán sản phẩm của
mình. Gia nhập WTO, tham gia AFTA, APEC sẽ tạo thế và lực giúp ngành
xuất khẩu dệt may của Việt Nam vơn mạnh ra nớc ngoài, mở rộng thị trờng.
- Công tác quảng cáo, Marketing: Quảng cáo và xúc tiến bán hàng là
những hoạt động nhằm giới thiệu và thông tin cho khách hàng về các sản phẩm
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
của doanh nghiệp, đồng thời lôi kéo khách hàng tiêu dùng những sản phẩm đó.
Quảng cáo, đó là hoạt động thông qua các phơng thức để tuyên truyền một cách
rộng rãi các loại hàng hoá, các thông tin dịch vụ nhằm đạt mục đích và mở rộng
thị trờng, tăng hiệu quả kinh doanh của ngành. Ngày nay trong điều kiện nền
kinh tế hàng hoá phát triển, phần lớn hàng hoá, dịch vụ đều phải đợc quảng cáo,
đặc biệt là những sản phẩm mới vì chúng cha đợc mọi ngời biết đến. Với hàng
dệt may Việt Nam, là một sản phẩm tuy đã có tiếng nói của mình trên thị trờng
thế giới, nhng nhìn chung mức độ ảnh hởng của mình còn rất nhỏ. Dệt may Việt
Nam chỉ mới đợc biết đến ở những thị trờng truyền thống nh EU, Nhật, Nga
chính vì thế công tác Marketing, công tác quảng cáo là rất cần thiết để quảng bá
sản phẩm của mình nhằm mở rông hơn nữa thị trờng tiêu thụ của mình.
- Tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệcủa một
quốc gia tính bằng tiền tệ của một nớc khác hay là quan hệ của so sánh giữa hai
đồng tiềncủa các quốc gia khác. Tỷ giá hối đoái là phơng tiện so sánh về mặt
giá trị của các chi phí xản xuất của một ngành nào đó với giá cả thị trờng thế
giới. Khi tỷ giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ tăng tức là sức mua của đồng
nội tệ tăng so với ngoại tệ, thì gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu. Sở dĩ nh
vậy và, khi đồng nội tệ lên giá, giả sử các nhân tố khác không thay đổi, giá cả
của hàng hoá sản xuất trong nớc tính đổi ra ngoại tệ sẽ rở nên đắt hơn so với tr-
ớc đây và điều đó làm giảm sút sự cạnh tranh của hàng hoá trong nớc trên thị tr-
ờng thế giới. Trong khí đó đồng nội tệ lên giá, giá cả của hàng hoá nhập khẩu từ
nớc ngoài sẽ trở nên rẻ hơn trớc nếu nh các điều kiện khác không thay đổi và
điều đó sẽ tạo thuận lợi cho nhập khẩu.
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
II. Thực trạng và xu hớng biến động của các nhân tố tác động tới thị trờng
xuất khẩu hàng dệt may thời gian qua
1. Thực trạng và nguyên nhân của các yếu tố tác động tới thị trờng xuất
khẩu hàng dệt may thời gian qua
1.1.Thực trạng của những nhân tố tác động tới giá cả
- Về quan hệ cung-cầu: Đối với ngành dệt may Việt Nam, thực trạng của
nó trong những năm gần đây rất đáng báo động. Với những công nghệ lạc hậu,
cũ kỹ, quy mô của những nhà cung cấp bé nhỏ, chất lợng cha đạt yêu cầu của
ngành may mặc xuất khẩu. Mặt khác có nhiều nhà máy dệt đã bị thua lỗ và có
những thông tin không tốt của khách hàng về ngành dệt may trong nớc đã khiến
cho các khách hàng chuyển sang tiêu thụ hàng dệt may nớc ngoài. Nh vậy có
thể nói, ngành dệt may trong nớc đang trong tình trạng đáng lo ngại, quyền lực
đàm phán của nhà cung cấp trong nớc hầu nh không có.
Trong khi đó, ngành dệt may hiện nay phát triển hầu hết ở tất cả các nớc
với chất lợng chủng loại rất đa dạng tất cả đều đợc sản xuất và phân phối trên
phạm vi toàn cầu. Cầu của sản phẩm dệt may Việt Nam tơng đối lớn kể từ khi
các chính sách kinh tế mở cửa và hiệp định thơng mại Việt Mỹ đợc ký kết tạo
điều kiện cho ngời tiêu dùng trên thế giới biết đợc sản phẩm may Việt Nam.
Nhng Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tỷ lệ nội địa hoá cha cao, vẫn
phải nhập khẩu nguyên liệu với tỷ lệ lớn và nguyên liệu phải chịu thuế nhập
khẩu. Điều này dẫn đến là tăng giá thành sản phẩm, là giảm khả năng cạnh
tranh trên thị trờng thế giới. Nhng Việt Nam luôn có chính sách giải quyết vấn
đề này, nên giá trị xuất khẩu của ngành may Việt Nam vẫn có xu hớng tăng tức
là cầu của sản phẩm này có xu hớng tăng (Biểu)
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
Hình 2.7
Kim ngach xuất khẩu ngành dệt may
(1992-2001)
850
1450 1450
1892
2000
1747
1150
476
239
190
0
500
1000
1500
2000
2500
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Năm
Triệu USD
- Nhu cầu khách hàng: Xu thế xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu ăn
mặc của con ngời càng tăng lên. Bên cạnh đó, công tác marketing cũng đã đợc
các doanh nghiệp trong và ngoài nớc chú trọng nên thông tin khách hàng rất cụ
thể và chính xác. Do đó khách hàng có quyền chọn lựa, quyết định và gây sức
ép lớn về chất lợng, giá cả sản phẩm. Tuy vậy, ngành dệt may nớc ta cũng cha
chú trọng tới công tác thiết kế mẫu mốt, mẫu mã thiết kế cha thực sự đi vào
cuộc sống, chủ yếu còn nặng về phần trình diễn, còn thời trang hàng ngày phần
lớn đợc su tầm từ các Catologue nớc ngoài, khâu thiết kế còn nhiều hạn chế,
mẫu mã nghèo nàn, cha xây dựng đợc thơng hiệu đặc trng và đạt tầm cỡ quốc
tế. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho ngành dệt may xuất
khẩu Việt Nam khó đứng vững trên thị trờng quốc tế.
Hiện nay khách hàng thờng lựa chọn những sản phẩm đã có tiếng tăm, nhãn
hiệu đợc biết đến rộng rãi trên thị trờng. Do đó muốn xuất khẩu trực tiếp các
sản phẩm may mặc phải tạo lập đợc tên tuổi riêng, nhãn mác riêng cho các sản
phẩm. Nếu không ngành may Việt Nam vẫn mãi chỉ là dệt may gia công .
Phần lớn các sản phẩm của ngành hiện nay cha có tên tuổi trên thế giới, nên
cách tốt nhất để thâm nhập thị trờng nớc ngoài là mua bằng sáng chế, nhãn hiệu
của các doanh nghiệp nớc ngoài để sản xuất ra các sản phẩm có giá thành rẻ
hơn, để có thể thâm nhập vào thị trờng nớc ngoài bằng sản xuất tại Việt Nam .
- Về giá nhân công và nguyên vật liệu đầu vào: Ngành dệt may Việt Nam
với đội ngũ lao động trình độ văn hoá khá, có trình độ tiếp thu nhanh khoa học
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Hơn nữa giá nhân công lao động Việt Nam rẻ, rẻ
hơn rất nhiều các nớc khác trên thế giới ( Giá nhân công của Việt Nam rẻ nhất
khu vực Châu á, từ 0,16-0,35 USD/giờ so với 0,32 USD/giờ của Inđônêsia, 1,13
USD/giờ của Malaixia, 1,18 USD/giờ của Thái Lan, 3,16 USD/giờ của
Singapore). Nh vậy với chi phí nhân công rẻ hơn rất nhiều so với các nớc trong
khu vực và trên thế giới cho thấy ngành dệt may có lợi thế rất lớn trong việc
giảm giá thành sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành dệt may
của mình trên thị trờng khu vực và quốc tế.
Tuy Việt Nam có đợc lợi thế nh vậy nhng sức cạnh tranh của ngành dệt may
hiện nay còn thấp khi tiến hành hội nhập khu vực và thế giới. Nguyên nhân là
hầu hết các loại chi phí cho một đơn vị sản phẩm đều cao hơn từ 15%-20% (trừ
giá nhân công), nên giá thành dệt may cha cạnh tranh đợc với hàng các nớc
trong khu vực và trên thế giới. Các chi phí về nguyên phụ liệu đều cao do chủ
yếu đợc nhập khẩu từ nớc ngoài, do công nghệ lạc hậu, mức tiêu hao lớn, hệ
thống cung cấp đầu vào cha kiểm soát chặt chẽ, chi phí trung gian cao và chủ
yếu Việt Nam làm gia công xuất khẩu thông qua nớc thứ 3 nên dễ bị ép giá gây
nhiều thua thiệt cho các doanh nghiệp xuất khẩu nên giá thành cao làm giảm đi
khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam.
- Cạnh tranh của các đối thủ trên thế giới: Trên thị trờng dệt may thế
giới có nhiều sản phẩm đa dạng về kiểu dáng, kích thớc, màu sắc tuy nhiên
cũng cha đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu của ngời tiêu dùng. Đặc biệt đối với hàng
dệt may xuất khẩu của Việt Nam chỉ có sản xuất một ít kiểu hàng, mẫu mã lại
không phong phú, không linh hoạt đối với nhu cầu thị trờng. Trong khu vực
hàng dệt may Việt Nam phải cạnh tranh rất mạnh với các đối thủ nh Indonesia,
Thái lan Hiện nay thị trờng xuất khẩu chủ yếu của dệt may Việt Nam là EU
và Nhật Bản, nhng thời gian qua ta bị hàng hoá của Trung Quốc cạnh tranh rất
gay gắt về giá do Trung Quốc đã gia nhập WTO nên có rất nhiều thuận lợi trong
việc xuất khẩu. Đối với thị trờng Mỹ là thị trờng nhập khẩu dệt may lớn nhất
thế giới trong những năm qua, nhng do chuea có tối huệ quốc (MFN) nên hàng
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
dệt may việt Nam vẫn còn chịu thuế xuất nhập khẩu cao nên rất khó cạnh tranh
với cacs đối thủ của nớc khác. Dệt may Việt Nam muốn có thị trờng rộng phải
có những kiều hàng thích hợp cho tất cả các loại tuổi, tất cả các khổ ngời, từ
những đàn ông, đàn bà, trẻ em cho đến những ngời già, từ những công nhân áo
xanh tới những thuỷ thủ, các tài xế đến các sinh viên, nữ sinh hay em bé. Ngoài
quần áo may sẳn nên phát triển cả mùng mền, chăn gối, drap trải giờng Việc
đa dạng hoá này sẽ giúp cho ngành dệt may Việt Nam phát triển mở rộng cả
trên thị trờng thế giới, tạo cho ngời tiêu dùng thoả mãn nhu cầu hơn nữa.
Nh vậy: Từ những nhân tố tác động tới giá của hàng dệt may Việt Nam
trên ta thấy rằng giá của các sản phẩm dệt may Việt Nam thời gian qua trên thị
trờng xuất khẩu giảm là điều dễ hiểu. Đây có thể là lợi thế cạnh tranh về giá
thấp, nhng cũng cho thấy rằng chất lợng của dệt may Việt Nam còn thấp so với
các đối thủ trên thế giới, nó làm giảm kim ngạch của xuất khẩu dệt may Việt
Nam.
1.2. Thực trạng của những nhân tố tác động tới chất lợng, mẫu mã
- Về công nghệ: Trong lĩnh vực dệt may hiện nay trang thiết bị máy móc và
công nghệ sử dụng còn lạc hậu, gần 50% máy móc thiết bị đã hết hạn sử dụng
trên 20 năm do đó ngành dệt may Việt Nam cha tạo đợc lợi thế cạnh tranh về
chất lợng so với các nớc khác.
Ngành dệt hiện có 868.000 cọc sợi, cả sợi bông và sợi pha (bông pha với
xơ PE) với chỉ số Nm (Chỉ số Quốc tế ) tử sợi Nm10 đến Nm102 bao gồm cả
sợi chải kỹ, 43200 máy dệt, trong đó các xí nghiệp Quốc doanh T.W quản lý
11000 máy, xí nghiệp Quốc doanh địa phơng - 3200 máy và Hợp tác xã t nhân
29000 máy, các thiết bị nhuộm hoàn tất có thể nhuộm 450 m / năm với các loại
vải từ nguyên liệu dệt khác nhau và các công nghệ nhuộm cũng nh công nghệ in
hoa khác nhau, các thiết bị dệt kim có thể sản xuất 20900 tấn sản phẩm / năm,
bao gồm 19500 tấn dệt kim tròn / năm và 1400 tấn dệt kim dọc/năm. Tuy nhiên,
phần lớn số thiết bị ngành dệt hầu hết đã rất cũ và sự thiếu đồng bộ giữa các
khâu. Thiết bị dệt còn quá ít so với thiết bị kéo sợi phần lớn lại là máy dệt thoi
khổ hẹp, chủng loại nghèo nàn, vải làm ra không đáp ứng nhu cầu thị trờng
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
Về thiết bị kéo sợi cũng có tới hơn 60% là cọc sợi chải thô, chỉ số chất lợng
bình quân thấp chỉ có khoảng 26-30% là cọc sợi chải kỹ chỉ số cao dùng cho
dệt kim và vải cao cấp dây chuyền nhuộm hoàn tất cũng đã lạc hậu phần lớn là
thiết bị khổ hẹp, tiêu hao nhiều hoá chất, thuốc nhuộm, dẫn đến chi phí cao.
Trong khi đó, trang thiết bị ngành may đã tăng nhanh cả về số lợng và chất
lợng, nhất là về tính năng công dụng, từ máy đạp chân C22 của Liên Xô cũ,
máy 8322 của Đức đến JUKI của Nhật Bản và FFAP của CHLB Đức. Số máy
chuyên dùng cũng tăng lên đáng kể để đáp ứng với yêu cầu của sản xuất và của
chủng loại mặt hàng nh máy vắt năm chỉ, máy thùa đính, trần dầy pasant, may
cạp bốn kim, bàn là treo, bàn là hơi có đệm hút chân không Trong từng công
đoạn sản xuất may cũng đợc trong bị thêm máy mọc mới với tính năng công
dụng mới nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lợng sản phẩm trên
mỗi công đoạn của chu trình sản xuất.
Một số năm gần đây, ngành dệt may đã có một số dây chuyền kéo sợi mới,
sử dụng công nghệ hiện đại tự động cao, các máy ghép tự động khống chế chất
lợng, ứng dụng các kỹ thuật vi mạch điện tử vào hệ thống điều khiển tự động và
kiểm tra chất lợng sợi Trong khâu dệt vải bông, nhờ sử dụng các thiết bị xe,
hấp, giảm trọng lợng nhiều sản phẩm giả tơ, giả len, sản phẩm từ microfiber
đã bắt đầu đợc sản xuất và tạo uy tín trên thị trờng. Trong khâu dệt kim, do
phần lớn máy móc đợc nhập chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức
thuộc thế hệ mới, có nhiều chủng loại đã đợc trang bị Computer nên đạt năng
suất chất lợng cao, tính năng sử dụng rộng. Trong lĩnh vực may, công nghệ đã
có những chuyển biến khá kịp thời. Các dây chuyền may đợc bố trí vừa và nhỏ
(25-26 máy), sử dụng 34-38 lao động cơ động nhanh và có nhân viên kiểm tra
thờng xuyên, có khả năng chấn chỉnh sai sót ngay nên đảm bảo đợc sản phẩm
sản xuất chất lợng. Nh vậy, nhìn chung thì công nghệ, thiết bị của ngành dệt
may Việt Nam đã đợc đổi mới khá nhiều nên đã có thể cạnh tranh đợc với các
sản phẩm chất lợng khác.
- Về chất lợng nguyên vật liệu đầu vào: Trong sản xuất của ngành dệt may,
nguyên liệu đóng vai trò quan trọng và có ảnh hởng quyết định tới chất lợng sản
đề án môn học- dự báo kinh tế
Phạm bách khoa-lớp ktpt 41a
phẩm và hiệu quả sản xuất. Ngành dệt may Việt Nam sử dụng các nguyên liệu
chính là: Bông xơ, xơ sợi tổng hợi, len đay, tơ tằm. các loại hoá chất khác và
các thuốc nhuộm Tuy nhiên Việt Nam không chủ động đ ợc trong trong nguồn
nguyên liệu này (90% nguyên liệu sử dụng cho ngành dệt phải nhập khẩu từ n-
ớc ngoài, nguồn nguyên vật liệu trong nớc không sẵn có hay có thì chất lợng lại
kém) nên ngành dệt Việt Nam thờng xuyên phải chịu sức ép nặng nề của nhà
cung cấp nguyên vật liệu trên thế giới. Bên cạnh đó dệt may Việt Nam không có
sự đồng bộ trong công tác nhập khẩu và phân phối nguyên liệu dẫn tới sự không
ổn định của giá khiến cho đầu ra không ổn định theo
- Về kinh nghiệm tay nghề của công nhân: Mặc dù truyền thống của con
ngời Việt Nam là cần cù, chịu khó và khéo léo. điều đó đã có tác động phần
nào tới chất lợng của sản phẩm ( điều này cũng đúng với tý thuyết Đờng cong
kinh nghiệm ). Tuy nhiên, nhu cầu của ngời tiêu thụ ngày càng tăng lên và rất
khắt khe, chính vì lẽ đó kinh nghiệm không phải là tất cả mà cần phải có nghiệp
vụ chuyên môn cao. Trong khi ngành dệt may Việt Nam trình độ công nhân qua
đào tạo còn rất hạn chế, sản xuất phụ thuộc lớn vào lao động thủ công làm cho
chất lợng sản phẩm kém, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt
Nam.
- Về nghiên cứu phát triển: Xét về hình thức và mẫu mã, hàng may mặc của
nớc ta tuy đã có những thay đổi tơng đối nhanh do công nghệ tin học đã đợc đa
vào một số khâu thiết kế, tạo mẫu , công tác đào tạo cán bộ thiết kế chuyên
nghiệp chất lợng cao cũng đã rất đợc chú trọng ở một số công ty lớn.Tuy nhiên,
nhìn chung mẫu mã dệt may Việt Nam vẫn cha đa dạng và phong phú nên cha
gây đợc thiện cảm cho khách hàng. Sản phẩm Việt Nam còn rất đơn điệu, nhàm
chán, cha có sự thay đổi lớn vì cha cập nhật thông tin kịp thời trong khi thị hiếu
may mặc của khách hàng rất khác nhau và khó tính, luôn thay đổi theo mốt và
thời gian. Đây cũng chính là một trở ngại nữa ảnh hởng tới năng lực cạnh tranh
của ngành dệt may mà sắp tới chúng ta cần phải khắc phục.
Tóm lại, từ thực trạng của những nhân tố trên, đây là những nhân tố chủ đạo
nhất ảnh hởng tới chất lợng, mẫu mã của hàng dệt may Việt Nam, ta có thể đi
đề án môn học- dự báo kinh tế
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét