đọan đáy" của thị trường chứng khoán đã qua. Cơ bản nhất có lẽ là
thị trường đã điều chỉnh khá sâu trong thời gian vừa qua và ngược
chiều với cả các thông tin về kinh tế vĩ mô, cũng như thông tin hoạt
động vi mô tại các doanh nghiệp.
Sự điều chỉnh giảm sâu của thị trường thời gian vừa qua nói
chung đã không phản ánh đúng sức tăng trưởng và hoạt động hiệu
quả của các doanh nghiệp với một loạt báo cáo tài chính với những
kết quả rất tốt. Tất nhiên sai lầm lớn nhất sẽ là đánh giá xu hướng
của TTCK bằng xu hướng của tình hình kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, khi
thị trường phục hồi thì đây lại là những thông tin mang lại sự ủng hộ
bền vững cho xu hướng tăng trở lại.
Theo thống kê của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TPHCM,
phiên 11/5 ghi nhận sự tăng giá trở lại của 62 mã chứng khoán (trong
đó có 1 chứng chỉ quỹ), 27 mã đứng giá và chỉ có 20 mã giảm giá.
Cổ phiếu blue-chips dẫn đầu thị trường về mức lên điểm, cùng với
khối lượng và giá trị giao dịch nhích lên khá lớn so với phiên hôm
qua đã giúp VN-Index ghi thêm được gần 20 điểm, đạt mức 1039,63
điểm.
Như vậy, kể từ phiên giao dịch ngày 15/4 đến nay, VN-Index đã
trải qua 9 phiên tăng giá liên tiếp. Trong 9 phiên này, có lúc VN-Index
ghi điểm mạnh mẽ (như phiên của ngày 7 và 8/5), có lúc chững lại
với giao dịch cầm chừng (phiên ngày 10/5).Xem xét diễn biến trên thị
trường th ơ ời gian này có thể thấy, nhóm cổ phiếu blue-chips lại có
một phiên tăng giá mạnh. Trong top 5 mã cổ phiếu tăng giá mạnh
nhất, ngoại trừ PVD, 4 mã còn lại đều đạt mức tăng trần. BMC lập kỉ
lục mới khi tăng tới 30.000đ, lên mức giá 635.000đ/cp; FPT tăng
26.000đ, lên 551.000đ/cp; SJS tăng 15.000đ, lên 330.000đ/cp; PVD
tăng 9.000đ, lên 243.000đ/cp; NAV tăng 8.000đ, lên 180.000đ/cp.
Nằm trong top 5 mã cổ phiếu giảm giá nhiều nhất phiên, ngoại trừ
SSC giảm tới 45.000đ (tương ứng 57,69%), xuống mức giá
78.000đ/cp do rơi vào ngày giao dịch không hưởng quyền; 4 mã còn
lại chỉ giảm nhẹ. VNM giảm 4.000đ, xuống 188.000đ/cp; VIS giảm
2.500đ, xuống 50.000đ/cp; IMP và KDC cùng giảm 2.000đ, rơi xuống
các mức giá 108.000đ/cp và 186.000đ/cp.
Một cái nhìn lạc quan sẽ cho phép trông đợi rằng thị trường sẽ
tăng. Nhưng như nhiều người phán đoán, quá trình này sẽ chọn lọc
hơn. Dự đoán thời gian tới sẽ có sự tăng tốc của thị trường cổ phiếu,
nhưng sự tăng giá sẽ không đều khắp với tất cả các loại cổ phiếu
như giai đoạn trước, hoặc ít nhất cũng không xảy ra sớm. Sự tăng
5 5
giá sẽ diễn ra mạnh mẽ và tập trung vào những công ty tạo dựng
được hình ảnh rõ rệt về sự tăng trưởng của mình.
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ở thị trường Việt Nam.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán nói
chung và giá cổ phiếu nói riêng, nhưng vế cơ bản có thể chia chúng
thành hai nhóm yếu tố là yếu tố kinh tế và yếu tố phi kinh tế:
1. Các yếu tố kinh tế
a) Tăng trưởng kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng thì hầu như các ngành các lĩnh vực
đều bị ảnh hưởng. Và giá của cổ phiếu cũng nằm trong số đó, giá cổ
phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế tăng trưởng và có xu hướng
giảm khi nền kinh tế kém phát triển. Như các bạn đều biết Việt Nam
là một quốc gia có tốc độ phát triển cao ( 8,3% năm 2006) cộng với
nền chính trị ổn định và mức thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước
ngoài là một trong những nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán
Việt Nam có bước tiến nhảy vọt nói chung và giá cổ phiếu tăng nói
riêng. Tuy nhiên không phải giá cổ phiếu nào cũng tăng và giá lúc
nào cũng tăng mà nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nữa.
Việc giữ vững tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong nhiều
năm liền có tác dụng giữ cho thị trường chứng khoán ổn định, tăng
cường niềm tin của nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên,
để có thể trông chờ vào một sự khởi sắc của thị trường thì chỉ có thể
vào cuối năm khi các nhà đầu tư có thể dự đoán kết quả kinh doanh
của từng doanh nghiệp.
b) Quan hệ cung cầu
Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn
đến giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là
một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu.
William J. Oneil – một nhâ đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ, là
cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả
CAN SLIM, cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô
lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi
lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại
ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị
thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.
Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị
trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với
các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được
6 6
các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ
phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được
công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên
vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu
công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai
nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty
mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng
ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá
xác thực hơn về mức độ nợ của công ty.
Về nguồn cung, giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng bởi những
yếu tố sau: Yếu tố thứ nhất là "Cơn lốc" IPO các doanh nghiệp lớn.
Nó sẽ thu hút một nguồn vốn ước tính khoảng 5 tỷ USD của các nhà
đầu tư. Như vậy, thị trường tập trung ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng từ đợt
IPO này. Các nhà đầu tư có nhiều cơ hội để lựa chọn những cổ
phiếu tốt, các blue- chips trên sàn niêm yết không còn là yếu tố lựa
chọn duy nhất. Giá các cổ phiếu trên sàn có thể sẽ tiếp tục đi ngang
và giảm chút ít như vài tuần gần đây. Cổ phiếu doanh nghiệp nhỏ sẽ
có sự phân loại, chỉ có doanh nghiệp nào có kết quả kinh doanh tốt
mới được quan tâm. Trong thời gian sắp tới, đầu tiên là ngày
21/4/2007, Công ty Phân đạm và Hóa chất dầu khí (PVFCCo) sẽ
phát hành ra công chúng 1.286 tỷ đồng cổ phiếu (vốn điều lệ 3.800
tỷ). Đến tháng 5, Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) dự tính sẽ
thực hiện phương án IPO với điều lệ lên đến 7000 tỷ đồng. Sang
tháng 7 hai "đại gia" bia rượu là Tổng công ty rượu bia, nước giải
khát Hà Nội (Habeco) và Công ty bia Sài Gòn (Sabeco) với vốn điều
lệ ước tính khoảng 7.500 tỷ đồng. Cuối cùng, nếu mọi việc suôn sẻ,
hai "đại gia" ngân hàng Vietcombank (ước đoán 6000 tỷ đồng) và
MHB sẽ IPO vào tháng 8/2007.
Sau "cuộc chiến" IPO của các doanh nghiệp trên, một số nhà
đầu tư sẽ "kiệt sức", một số sẽ dưỡng sức chờ một cơn lốc tiếp theo
với các "đại gia" của ngành viễn thông và ngân hàng như Vinaphone,
Mobiphone, Viettel, Incombank, Agribank, BIDV
Yếu tố thứ hai là vấn đề cổ phần hóa, những thông tin trong
những ngày cuối năm cho thấy, năm 2007 và 2008 sẽ có một lượng
cung cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu chuyển đổi khổng lồ
tung ra thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể: Thủ tướng Chính
phủ đã ký quyết định (ngày 29/12/2006) phê duyệt danh sách 53 tập
đoàn, tổng công ty nhà nước sẽ thực hiện cổ phần hóa trong giai
đoạn 2007-2010. Nhiều chuyên gia thị trường chứng khoán nhận
định, 2 cổ phiếu “bia rượu” lớn sau khi cổ phần hóa và lên sàn sẽ tạo
7 7
ra sự kiện lớn hơn nhiều sự kiện Vinamilk và Sacombank lên sàn
trong năm 2006. Cổ phiếu của MobiFone và Vinafone cũng sẽ xuất
hiện trên thị trường OTC và có thể lên sàn vào cuối năm 2007, sau
khi Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Trần Đức Lai khẳng định
MobiFone chắc chắn sẽ cổ phần hóa xong trong năm 2007. Năm
2007 có thể sẽ là năm “đại náo” cổ phiếu của 4 ngân hàng quốc
doanh trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL, Ngân hàng Đầu
tư phát triển Việt Nam và Ngân hàng Công thương Việt Nam sẽ có
mặt trên thị trường.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cổ phần cũng sẽ tiếp tục
tạo ra một “cơn lốc” tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu
và dự kiến đến cuối năm 2007, hầu hết các ngân hàng thương mại
cổ phần sẽ có vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng. Minh chứng rõ nhất là
hàng loạt ngân hàng thương mại công bố tăng vốn điều lệ nhiều đợt
trong năm 2006 và 2007.
Trên thị trường trái phiếu, ngoài trái phiếu chính phủ, chính
quyền, năm 2007 sẽ có số lượng rất lớn trái phiếu của các tập đoàn
phát hành như Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy,
Tập đoàn Dầu khí
Theo nhận định của một số chuyên gia, tổng giá trị niêm yết cổ
phiếu vào cuối năm 2007 sẽ tăng gấp khoảng 3 lần và đến cuối năm
2008 sẽ gấp 5 lần hiện nay.
Về phía cầu, giá cổ phiếu sẽ bị ảnh hưởng bởi một số nhân tố
sau: Ngày 28/12, Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh ngoại hối, trong đó quy định: người không cư trú là
nhà đầu tư nước ngoài phải mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng
đồng Việt Nam tại các tổ chức tín dụng được phép để thực hiện đầu
tư tại Việt Nam và được dùng tài khoản VND này để mua ngoại tệ tại
các tổ chức tín dụng để chuyển ra nước ngoài. Như vậy, dòng vốn
đầu tư gián tiếp nước ngoài từ năm 2007 sẽ rất thuận lợi vào Việt
Nam và cũng tiềm ẩn khả năng rút vốn ồ ạt chuyển ra nước ngoài khi
có một “cú sốc” nào đó xảy ra. Tuy nhiên, theo TS. Lê Xuân Nghĩa,
Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà
nước), các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thời gian gần đây là
các nhà đầu tư tương đối lớn, nhà đầu tư chiến lược, họ kỳ vọng vào
lợi nhuận lâu dài, tỷ lệ vốn đầu tư gián tiếp ngắn hạn của nước ngoài
vào Việt Nam chỉ khoảng 1%, không đáng kể.
Do thị trường chứng khoán Việt Nam “bùng nổ” trong năm 2006
nên nhiều quỹ đầu tư đã và đang đổ hàng tỷ USD đầu tư gián tiếp
8 8
vào Việt Nam. Trong năm 2007, chủ yếu là vốn của các quỹ đầu tư,
tập đoàn tài chính và ngân hàng lớn với chiến lược đầu tư dài hạn.
Nhu cầu của nước ngoài đầu tư vào chứng khoán Việt Nam không
hề giảm độ nóng. Theo HSBC, trên thế giới hiện có 43 quỹ chuyên
đầu tư vào Việt Nam, trong đó có 23 quỹ mới thành lập từ tháng 11
năm ngoái. Tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của tất cả các quỹ đầu tư
vào Việt Nam hiện lên đến 5,6 tỉ đô la Mỹ. Những tháng gần đây, các
quỹ đầu tư vào Việt Nam liên tiếp ra đời ở Nhật, Hàn Quốc,
Singapore, Malaysia và Israel. Chỉ riêng tại Hàn Quốc, số tiền mà các
quỹ này gọi được đã là 871 triệu đô la Mỹ (xem bảng). Ông Chy Jang
Oak, Chủ tịch bộ phận thị trường chứng khoán của Korea Exchange,
trong chuyến thăm TPHCM tháng 4 vừa qua, cho TBKTSG biết Việt
Nam đang là đề tài nóng của giới đầu tư tài chính Seoul. Họ đánh giá
cao sự tăng trưởng của các công ty niêm yết Việt Nam. Ông Chy
Jang Oak thậm chí nói rằng Sở Giao dịch chứng khoán Hàn Quốc sẽ
giúp giảm bớt chi phí cho các công ty Việt Nam niêm yết trên thị
trường Hàn Quốc.
Một yếu tố nữa có thể tác động không nhỏ đến cầu trên thị
trường chứng khoán năm 2007: ngày 29/12/2006, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã hoàn tất dự thảo về việc sửa đổi bổ sung một số
điều của quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của
tổ chức tín dụng. Trong đó, có quy định làm xôn xao giới kinh doanh
cổ phiếu, đó là cấm không cho các ngân hàng cho vay doanh nghiệp
mà ngân hàng nắm quyền kiểm soát hoạt động trong lĩnh vực tiềm
ẩm rủi ro cao là kinh doanh chứng khoán, không được cho vay không
có bảo đảm đối với các khoản vay nhằm đầu tư kinh doanh chứng
khoán. Nếu quy định trên được chính thức ban hành và có hiệu lực
thì nguồn cầu đầu tư vào cổ phiếu sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ.
Mặt khác, sự "ấm" lên của thị trường bất động sản đã làm giảm
lượng vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán và thậm chí nó còn hút
một phần vốn từ thị trường chứng khoán chuyển sang. Các nhà đầu
tư có nhiều cơ hội để lựa chọn giữa hai thị trường này.
Diễn biến giá cổ phiếu hiện bị tác động chủ yếu bởi quy luật
cung cầu. Tuy nhiên, cầu cũng có loại thật và ảo. Cầu ảo dễ dàng
được tạo ra bởi những nhà đầu tư nắm trong tay khối lượng cổ phiếu
lớn hoặc tài khoản đầy tiền. Cầu ảo được tạo ra bằng những lệnh
mua mà người đặt biết chắc chắn rằng lệnh đó không được khớp
hoặc có khớp thì cũng chỉ được một khối lượng rất thấp. Với quy
trình khớp lệnh định kỳ, lệnh nhập phải thông qua công đoạn thủ
công tại sàn và trình tự ưu tiên khớp theo thời gian đặt lệnh. Nhà đầu
9 9
tư có ý định tạo cầu ảo căn cứ vào diễn biến giao dịch để đặt lệnh
sát giờ khớp, thường là trong đợt giao dịch thứ ba, đủ để lệnh được
vào hệ thống nhưng không được khớp. Như vậy, khối lượng này sẽ
trở thành dư mua nhưng lại không phản ánh đúng nhu cầu thị trường
mà mang tính chất đổ thêm dầu vào lửa. Nhà đầu tư ít kinh nghiệm
chỉ biết căn cứ vào khối lượng dư mua thông báo lên tới hàng trăm
ngàn cổ phiếu để cho rằng cầu đang rất lớn nghĩa là giá sẽ còn tăng.
Mánh này đặc biệt phát huy tác dụng trong thời điểm lượng bán quá
ít và giá liên tục khớp mức trần."Anh ơi bao nhiêu thì mua được"? Đó
là câu hỏi rất thường thấy tại các sàn giao dịch vì phần đông nhà đầu
tư mới tham gia rất ít kinh nghiệm, thậm chí còn chưa đọc thông
bảng giao dịch điện tử. Kỹ thuật “rải đinh" tung hoả mù trên bảng
giao dịch đã được nhiều nhà đầu tư lão luyện "bật mí" từ lâu và
không còn là bí mật, thậm chí người nước ngoài cũng học được và
sử dụng.
Điểm cân bằng của thị trường sẽ phụ thuộc nhiều vào cung
cầu. Cung hiện ra sao? Nguồn cung đang tăng lên (IPO các doanh
nghiệp tầm cỡ), nhưng điểm rơi của nguồn cung dường như chưa
đúng lúc. Hai tháng cuối năm ngoái, nguồn cung tăng cấp tập với
hàng chục công ty lên sàn, nhưng cầu còn tăng mạnh hơn do khi ấy
thị trường đang trên đà đi lên. Bây giờ khi cung được tung ra ở thời
điểm thị trường đang xuống dốc, thì hàng hóa chất lượng tốt vẫn có
nhu cầu, song sẽ đẩy nhanh sự phân hóa cổ phiếu. Nói ngắn gọn là
cầu vẫn đang rình rập chờ, sẵn sàng vào, nhưng không vào với bất
cứ giá nào.
c) Hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập của các doanh nghiệp
Giá của cổ phiếu hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả
hoạt động kinh doanh hay sức khỏe của doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp hoạt động ổn định mà không gặp phải những biến cố bất ngờ
dẫn đến phải thanh lý hay phá sản thì dòng tiền mà người nắm giữ
cổ phiếu nhận được là cổ tức được chia hàng năm. Con số này có
sự dao động và đôi khi cũng có những khoản bất thường nào đó,
nhưng nhìn chung bình quân trong dài hạn nó chính là lợi nhuận từ
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Về bản chất, giá cổ phiếu
do dòng tiền này và sự biến động của nó quyết định và sự nóng lên
của thị trường là do sự tăng giá của các cổ phiếu gây ra.
Về mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty, giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động hoạt
động kinh doanh, đôi khi xảy ra sau. Thời gian xảy ra và mức độ biến
10 10
động này có sự chênh lệch đáng kể qua theo dõi tình hình. Qua một
thời gian dài, nhiều người cho rằng giá cổ phiếu phổ thông thay đổi
trước hoạt động kinh doanh.
Thu nhập công ty hay lợi nhuận của công ty được coi là nhân
tố quan trọng nhất tác động tới giá cổ phiếu. Ví dụ, giá cổ phiếu của
công ty cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Long An tăng “kịch trần”
nhiều phiên bởi Công ty công bố lợi nhuận sau thuế quý III /2004 đạt
8, 6 tỷ đồng tăng hơn 140% so với cùng kỳ năm trước. Những nhà
kinh doanh và nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu chủ yếu dựa trên cơ
sở dự đoán về mức thu nhập. Tuy nhiên, giá cổ phiếu không phải lúc
nào cũng có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập. Có những thời điểm,
giá cổ phiếu tăng nhanh hơn thu nhập; vào những thời điểm khác, nó
bị tụt lại đằng sau thu nhập. Đôi khi trên thực tế, nó lại biến động
theo chiều hướng ngược lại với thu nhập. Do vậy, dù một người theo
dõi rất sát thị trường đã dự đoán đúng xu hướng thay đổi của thu
nhập, nhưng không có gì bảo đảm rằng anh ta có thể dự đoán chính
xác xu hướng biến đổi của giá cổ phiếu.
d) Cổ tức
Mua cổ phiếu cũng chính là một cách đầu tư. Mục đích cuối
cùng là nhằm thu được lợi nhuận cao. Cổ đông sẽ được hưởng cổ
tức và phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua cổ phiếu. Họ mong
đợi vào mức chênh lệch hơn là cổ tức được hưởng. Tuy nhiên, cổ
tức cũng được đánh giá là nhân tố cơ bản tác động đến giá cổ phiếu.
Trong tất cả các nhân tố sử dụng để giải thích về sự biến động giá
hàng ngày của từng cổ phiếu, các thông tin về cổ tức luôn được xếp
ở vị trí quan trọng gần đầu.
Cổ tức là khoản tiền mà các công ty trích ra từ lợi nhuận để trả
cho cổ đông. Người ta thường tính cổ tức trên một cổ phiếu. Khi mua
cổ phiếu, các nhà đầu tư thường chọn mua cổ phiếu có cổ tức cao
hơn. Ví dụ, cổ phiếu A có cổ tức 2USD/năm, cổ phiếu B có cổ tức là
3USD/năm. Như vậy, cổ phiếu B sẽ được nhiều nhà đầu tư chú ý
hơn. Do đó, giá cổ phiếu B có thể sẽ cao hơn cổ phiếu A. Tuy nhiên,
điều đó chưa hẳn đã đúng hoàn toàn. Khi so sánh cổ tức giữa các
công ty, bạn lại phải quan tâm tới tỷ suất cổ tức. Tỷ suất cổ tức là
một tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và thị giá cổ phiếu. Chỉ tiêu này cho
biết tỷ lệ cổ tức bạn sẽ nhận được so với số tiền bạn phải trả để mua
cổ phiếu. Ví dụ ở trên, đối với cổ phiếu A, nếu bạn nhận được 2
USD/năm từ mỗi cổ phiếu và thị giá cổ phiếu là 50 USD thì tỷ suất cổ
tức sẽ là 2 USD/50 USD = 4%. Đối với cổ phiếu B, thị giá cổ phiếu là
11 11
100 USD thì tỷ suất cổ tức là 3 USD/100 USD = 3%. Rõ ràng đầu tư
vào cổ phiếu A sẽ hiệu quả hơn cổ phiếu B. Vì khi bỏ ra 1 USD sẽ thu
được 0,04 USD với cổ phiếu A, nhưng chỉ thu được 0,03 USD với cổ
phiếu B.
Tuy nhiên, những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao chưa hẳn đã
là sự lựa chọn tốt nhất. Giả sử, cổ phiếu A nói trên có cổ tức 2 USD
và tỷ suất cổ tức 4%, tức là cao hơn hẳn tỷ suất trung bình của thị
trường (2%). Điều này không có nghĩa là mua cổ phiếu đó là tốt nhất.
Hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu công ty đó không thực hiện được
kế hoạch thu nhập và giá cổ phiếu sụt trong vòng 1 đêm từ 50 USD
xuống còn 40 USD một cổ phiếu. Điều đó có nghĩa là giá cổ phiếu
giảm 20% và đẩy tỷ suất cổ tức lên tới 5% (2 USD/40 USD). Liệu bạn
có muốn đầu tư vào một cổ phiếu như vậy chỉ vì tỷ suất cổ tức cao
hơn? Có lẽ là không. Ngay cả những cổ phiếu mang lại nhiều cổ tức,
thì bạn cũng phải chắc chắn là công ty đó không có vấn đề gì về tài
chính. Vì thế, yếu tố cổ tức chưa hẳn đã tác động đến giá cổ phiếu
theo tỷ lệ thuận mà còn do ảnh hưởng của các nhân tố khác.
Một chỉ số nữa về cổ tức cũng ảnh hưởng không nhỏ tới giá cổ
phiếu, đó là tỷ lệ trả cổ tức. Khi bạn tìm mua những cổ phiếu có tỷ
suất cổ tức cao, cần xem xét tỷ lệ trả cổ tức của công ty. Chỉ số này
thể hiện tỷ lệ phần trăm lợi nhuận được trích ra để trả cho cổ đông
dưới hình thức cổ tức. Nếu tỷ lệ này vượt quá 75% có nghĩa là công
ty không tái đầu tư lợi nhuận một cách hợp lý. Một tỷ lệ trả cổ tức cao
thường hàm ý là thu nhập của công ty được sử dụng phần lớn để trả
cho cổ đông và có nghĩa là công ty đang cố gắng thu hút các nhà
đầu tư mua cổ phiếu của mình. Do đó, tỷ lệ này phải ở mức hợp lý
mới có thể thu hút các cổ đông và làm cho giá cổ phiếu đó tăng.
Không phải bất cứ cổ phần nào cũng đem lại cho bạn cổ tức.
Nếu một công ty đang tăng trưởng nhanh có thể làm lợi cho các cổ
đông bằng cách tái đầu tư. Trong trường hợp đó, công ty sẽ không
trả cổ tức hoặc trả với tỷ lệ cổ tức rất thấp. Ví dụ, công ty Microsoft
không trả cổ tức nhưng các cổ đông của công ty không hề phàn nàn
gì về điều này. Và cổ phiếu của công ty vẫn luôn đứng trong danh
sách những cổ phiếu có giá cao nhất. Một cổ phiếu không được trả
cổ tức không hẳn là cổ phiếu của công ty đang làm ăn thua lỗ.
Vì vậy, cổ tức không đóng vai trò quan trọng đối với loại cổ
phiếu tăng trưởng. Cổ phiếu tăng trưởng là loại cổ phiếu mà người ta
coi sự tăng giá của chúng là rất quan trọng, thường xuyên mang lại
lợi suất đầu tư cuối cùng lớn hơn nhiều so với cổ tức hiện tại. Một
công ty tăng trưởng có khả năng sử dụng số vốn này có hiệu quả
12 12
hơn cho các cổ đông, là những người luôn phải tìm kiếm cơ hội đầu
tư. Nguyên tắc quan trọng là doanh nghiệp nên xác định và duy trì cổ
tức nên ở mức khá thấp và chỉ nên tăng mức cổ tức khi có những
khoản thu nhập tăng thêm.
Việc thanh toán, chi trả cổ tức cho cổ đông, có khả năng bằng
tiền mặt hoặc không dùng tiền mặt, dưới 2 hình thức:
♦ Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, giữ tiền mặt cho đầu tư phát triển,
nếu mức chi trả đó chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng 2-5% tổng số cổ phiếu đã
phát hành, thì nhà đầu tư không chú ý đến "loãng giá" (giá cổ phiếu
sẽ giảm xuống), ảnh hưởng không đáng kể đến thu nhập. Nhà đầu tư
yên tâm khi họ nhận được cổ phiếu nhiều hơn; nhưng thực tế họ
không nhận được gì, vì khi công bố trả cổ tức bằng cổ phiếu, thì giá
cổ phiếu sẽ giảm xuống tương ứng với tỷ lệ trả cổ tức bằng cổ phiếu.
♦ Chi trả cổ tức bằng tách cổ phiếu. Tách cổ phiếu sẽ làm tăng số
lượng cổ phiếu đang lưu hành và làm giảm mệnh giá cổ phiếu tương
ứng với tỷ lệ tách. Do đó, giá cổ phiếu trên thị trường cũng sẽ giảm
tương ứng và giao dịch được thực hiện dễ dàng hơn. Việc tách cổ
phiếu thường được thực hiện khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng
quá cao làm cho các giao dịch sẽ khó thực hiện và điều này sẽ làm
giảm tính thanh khoản của cổ phiếu. Vì vậy, khi giá cổ phiếu tăng cao
trên thị trường thì việc tách cổ phiếu là cần thiết để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc giao dịch cổ phiếu. Đồng thời, sau khi tách giá cổ
phiếu thường có xu hướng tăng lên. Mặt khác, sau khi tách cổ phiếu,
số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tăng lên có thể làm
tăng số lượng cổ đông của công ty. Qua đó góp phần làm hạn chế
khả năng công ty bị thâu tóm.
Ví dụ, một công ty cổ phần ABC có 1 triệu cổ phiếu đang lưu
hành, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu (tổng giá trị niêm yết là 10 tỷ
đồng) và giá thị trường tại thời điểm hiện tại là 100.000 đồng/cổ
phiếu. Công ty tiến hành tách cổ phiếu theo tỷ lệ 1:2 (nghĩa là người
sở hữu 1 cổ phiếu cũ sẽ nhận được 2 cổ phiếu mới, khi đó tổng số
cổ phiếu mới của công ty sẽ là 2 triệu cổ phiếu mệnh giá 5.000
đồng/cổ phiếu, tổng giá trị niêm yết vẫn là 10 tỷ đồng nhưng giá thị
trường của cổ phiếu mới sẽ dao động ở mức 50.000 đồng/cổ phiếu.
Cho đến nay, nghiệp vụ tách, gộp cổ phiếu chưa xảy ra trên thị
trường chứng khoán Việt Nam. Nhưng nhiều nhà đầu tư rất quan
tâm đến nghiệp vụ tách, gộp cổ phiếu của các công ty cổ phần như
trường hợp Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông (SACOM)
vừa có dự định tách cổ phiếu để nâng cao giá trị công ty. Do đó, rất
có thể trong tương lai gần, giá cổ phiếu của công ty này sẽ tăng sau
13 13
khi tách. Như vậy, các tổ chức phát hành vẫn giữ lại được nguồn vốn
bên trong để đầu tư phát triển, đồng thời tăng thêm cổ phiếu cho các
cổ đông, nguồn cung cấp cổ phiếu cho thị trường t ăng, do đ ó l àm
giảm biến động giá cả thị trường, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà
đầu tư.
e) Lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn
thay đổi. Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay
đổi theo lãi suất và chúng ta không thể chắc chắn liệu sự thay đổi
của luồng thu nhập này có làm tăng hay bù đắp cho mức biến động
về lãi suất hay không. Lãi suất tăng sẽ rất có khả năng làm giảm giá
các loại cổ phiếu trên thị trường. Người mua cổ phiếu của công ty
mới niêm yết thường trông chờ cổ tức thấp thôi. Nhưng đổi lại, họ
mong giá cổ phiếu sẽ tăng trên thị trường chứng khoán. Giả thử một
người mua cổ phiếu có cổ tức chừng 4% và giá trị cổ phiếu tăng
chừng 10% sau một năm. Cộng lại, người đó sẽ hưởng chừng 14%
trên số tiền bỏ ra đầu tư mua cổ phiếu - cao hơn lãi suất giả định
10% nói ở trên. Tuy nhiên, khi lãi suất tăng kéo theo lãi suất trái
phiếu tăng chắc chắn người ta sẽ trông đợi lợi nhuận có được từ
việc mua cổ phiếu sẽ phải cao hơn mức 14% đề bù vào những rủi ro
của cổ phiếu so với trái phiếu. Trước mắt giá cổ phiếu phải giảm để
nâng mức lợi nhuận này.
Để giải thích rõ chiều hưởng ảnh hưởng của lãi suất tới giá cổ
phiếu cần phải xem xét các khả năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm phát
tăng, cụ thể như sau:
♦ Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó
cũng tăng vì công ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của
chi phí. Trong trường hợp này, giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh
hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ suất lợi nhuận đã được đền bù một
phần hay toàn bộ bởi phần tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ
tức.
♦ Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi rất ít do công
ty không có khả năng tăng giá để phù hợp với chi phí tăng. Do vậy,
giá cổ phiếu giảm. Tỷ suất lợi nhuận quy định có thể tăng nhưng tỷ lệ
tăng trưởng của cổ tức là không đổi, nên mức chênh lệch giữa hai
nhân tố này càng lớn.
♦ Lãi suất tăng trong khi luồng thu nhập giảm vì các nguyên nhân làm
tăng lãi suất lại gây tác động xấu tới thu nhập của công ty. Cụ thể là
khi xảy ra lạm phát thì chi phí sản xuất tăng, nhưng nhiều công ty
14 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét