Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Cty TNHH Cung Cấp Thiết Bị

lời nói đầu
Sản xuất vật chất trong mỗi giai đoạn lịch sử đợc biểu hiện ở mỗi phơng thức
sản xuất (PTSX) nhất định. PTSX là cách thức mà con ngời làm ra của cải vật chất.
Đó là nhân tố quyết định tính chất, kết cấu của xã hội. Quyết định sự vận động và
phát triển của xã hội loài ngời, song sự phát triển của sản xuất phụ thuộc vào một
PTSX. PTSX là sự tổng hoà mối quan hệ giữa LLSX và QHSX tạo nên một nền
kinh tế có LLSX phát triển kéo theo một QHSX phát triển. Nếu một nền kinh tế có
QHSX phát triển cũng phải đòi hỏi một LLSX phải phát triển đến một chừng mực
nào đó để phù hợp với QHSX đó. Quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình
độ của LLSX là một đIều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế. Vì vậy việc
nghiên cứu về mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là đòi hỏi cần thiết đối với mỗi
một sinh viên chúng ta. Đi sâu vào nghiên cứu quy luật này tạo cho mỗi sinh viên
có một khối lợng kiến thức nhất định để phục vụ cho đất nớc sau này. Nghiên cứu
về quy luật này là nhu cầu đòi hỏi bắt buộc đối với mỗi sinh viên, đặc biệt là các
sinh viên thuộc ngành kinh tế. Đó là những nguồn lực chính cho sự phát triển của
đất nớc. Trong tình hình kinh tế hiện nay cần có những biện pháp thúc đẩy mạnh
mẽ LLSX phát triển và bên cạnh đó không quên nâng cao trình độ quản lý của nhà
nớc để đa đất nớc phát triển.
Để thực hiện ớc mơ xây dựng một đất nớc văn minh giàu đẹp, xã hội công
bằng trên cơ sở toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta, triệu ngời nh một, hãy làm việc
nhiều hơn để củng cố nền tảng cho đất nớc. Đó là việc làm có ý nghĩa và là nghĩa
vụ của mỗi ngời để thúc đẩy nền kinh tế của đất nớc phát triển.
Do thời gian có hạn và tài liệu không thật đầy đủ cũng nh trình độ ngời viết
còn non trẻ. Chắc chắn bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót, bởi vậy em
mong muốn đợc sự chỉ bảo của thầy cô, để có thể sửa chữa, khắc phục, củng cố lại
vốn kiến thức của mình
Em chân thành cảm ơn thầy cô.
1
B Nội dung
I. Quan điểm và lí luận của Các- Mác
1. Quan điểm về QHSX và LLSX
Lực lợng sản xuất ( LLSX) biểu hiện quan hệ giữa ngời với ngời với giới tự
nhiên. Trình độ LLSX biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời. Đó là
kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình tác động vào tự nhiên
tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự phát triển của con ngời. LLSX là sự kết giữa
ngời lao động và t liệu sản xuất (TLSX) trớc hết công cụ lao động (CCLĐ). Với
tính cách là chủ thể trong sản xuất và con ngời với sức lao động kinh nghiệm thói
quen, tri thức khoa học kĩ thuật của mình đẻ sử dụng t liệu lao động. Trớc hết là
công cụ tác động vào đối tợng lao động để tạo ra của cải vật chất. Quá trình đó là
quá trình cải tiến công cụ, bổ sung hoàn thiện t liệu lao động nhằm đạt năng suất
lao động xã hội cao. Với ý nghĩa đó nờ lao động là nhân tố chủ yếu hàng đầu của
LLSX. Lê nin viết: "LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân là ngời
lao động".
(1)
. Trình độ phát triển CCLĐ vừa là thớc đo trình độ chinh phục tự
nhiên của con ngời vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh
tế kĩ thuật. Các mác viết: "Thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản
xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những TLLĐ nào"
(2)
.
Trong thời đại ngày nay khoa học đã trở thành LLSX trực tiếp. Nó vừa là ngành
sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành LLSX, đem lại sự thay đổi
về chất của LLSX. Các yếu tố cấu thành LLSX tác động lẫn nhau một cách khách
quan làm cho LLSX là yếu tố độc nhất. Nó là yếu tố khách quan là nền tảng vật
chất của toàn bộ lịch sử nhân loại. LLSX đợc kế thừa liên tục từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Mỗi một thế hệ sinh ra đều thích ứng với trình độ LLSX của thế hệ tr-
ớc để lại vì "LLSX là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời. Nhng bản thân
(1)
Lênin toàn tập - NXB Tiến Bộ, trang 130
(2)
C. Mác T bản toàn tập - NXB Sự thật, trang 188
2
năng lực này bị quyết định bởi điều kiện trong đó ngời ta sống bởi LLSX đã đạt đ-
ợc bởi hình thái trớc họ không phải do họ mà do thế hệ trớc tạo ra"
(3)
.
Quan hệ sản xuất (QHSX)là quan hệ giữa ngời với nggời trong sản xuất vật
chất, thể hiện quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ chức quản lí và trao đổi
hoạt động với nhau và quan hệ phân phối sản xuất. QHSX do con ngời tạo ra, song
nó đợc hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của LLSX trong một giai đoạn nhất định. Để tiến hành sản xuất con ngời phải
quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng nh kết quả lao động. Các
Mác viết: "Ngời ta chỉ sản xuất bằng cách hợp tác với nhau một cách nào đó và
trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất đợc ngời ta phải có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau và chỉ có trong phạm vi những mối liên hệ, quan hệ đó thì mới có sự
tác động của họ vào giới tự nhiên tức là sản xuất"
(4)
. Có hai hình thức sở hữu cơ
bản về t liệu sản xuất là sở hữu t nhân và sở hữu xã hội. Những hình thức sở hữu
giữa ngời trong xã hội. Đơng nhiên để cho TLSX không trở thành "vô chủ" phải có
chính sách và cơ chế rõ ràng để xác định chủ sở hữu và sử dụng đối với những
TLSX nhất định. Trong sự tác động đến nhau của các yếu tố cấu thành QHSX
quan hệ tổ chức quản lí và quan hệ phân phối có vai trò quan trọng. Những quan
hệ này có thể củng cố quan hệ sở hữu cũng có thể làm biến đổi quan hệ sở hữu.
Mỗi hệ thống QHSX ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại một PTSX nhất định. Hệ
thống QHSX thống trị mỗi hình thái kinh tế xã hội ấy. Vì vậy khi nghiên cứu xem
xét tính chất hình thái của xã hội nào thì không thể chỉ nhìn ở trình độ phát triển
của LLSX mà còn phải xem xét đến tính chất của QHSX.
2. Quy luật về sự phù hợp của QHSX và tính chất và trình độ của LLSX
LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX chúng tồn tại không tách rời nhau mà
tác động biện chứng với nhau hình thành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch
sử loài ngời. Quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của
LLSX vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của QHSX vào sự phát triển của
LLSX. Ngợc lại QHSX tác động trở lại LLSX
(3)
C. Mac - Angghen tuyển tập, trang 141
(4)
C. Mac, Angghen toàn tập, trang 94
3
2. 1: Tính chất và trình độ của LLSX
Tính chất của LLSX là tính chất của TLSX và lao động. Nó thể hiện tính chất
của TLSX là sử dụng công cụ thủ công và tính chất của lao động là lao động riêng
lẻ, những công cụ sản xuất nh búa, rìu, cày. . . do một ngời sử dụng để sản xuất ra
vật dùng không cần đến lao động tập thể, LLSX có tính chất cá nhân. Khi máy
móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều ngời mới sử dụng đợc, để làm ra một sản phẩm
cần có sự hợp tác của nhiều ngời, mỗi ngời phải làm một bộ phận công việc mới
hoàn thành đợc sản phẩm ấy thì LLSX mang tính chất xã hội hoá.
2. 2: LLSX quyết đinh QHSX
Xu hớng của sản xuất là không ngừng phát triển sự biến đổi bao giờ cũng bắt
đầu từ sự biến đổi của LLSX. Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc
và đạt hiệu quả cao con ngời luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo a
những công cụ lao động tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển của công
cụ lao động (CCLĐ) thì kinh nghiệm sản xuất thói quen lao động kĩ năng của sản
xuất kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ. LLSX trở thành yếu tố lao
động nhất, cách mạng nhất. Còn QHSX là yếu tố ổn định có khuynh hớng lạc hậu
so với sự phát triển của LLSX. LLSX là nội dung là phơng thức, còn QHSX là hình
thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ nội dung - hình thức thì nội dung quyết
định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung thay đổi trớc còn hình
thức thay đổi sau. Tất nhiên trong quan hệ nội dung với hình thức không phải là
mức thụ động, nó cũng tác động trở lại đối với sự phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của sản xuất thì QHSX cũng hình thành và biến đổi
cho phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Sự phù hợp đó là động lực cho
sản xuất phát triển. Nhng LLSX thờng phát triển nhanh còn QHSX có xu hớng ổn
định, khi LLSX đã phát triển lên một trình độ mới. QHSX không còn phù hợp với
nó nữa sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của PTSX. Sự phát triển khách
quan đó tất yếu dẫn dến xoá bỏ QHSX cũ thay bằng QHSX mới phù hợp tính chất
và trình độ LLSX mở đờng cho LLSX phá Sự hình thành, biến đổi của QHSX phụ
thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của LLSX. Nhng QHSX là hình thức xã
hội mà LLSX phát triển.
4
2. 3: QHSX tác động trở lạI LLSX:
Dựa vào nó để phát triển, nó tác động trở lại đối với LLSX: có thể thúc đẩy
hoặc kìm hãm sản xuất, nếu QHSX phù hợp vơí trình độ phát triển của LLSX, nó
thúc đẩy sản xuất phát triển. Nếu không phù hợp nó kìm hãm sự phát triển của
LLSX. Song tác dụng đó chỉ là tạm thời theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng nó
sẽ bị thay thế bằng kiểu QHSX khác phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX.
Sở dĩ QHSX có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với LLSX vì nó quy định mục
đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lí sản xuất và quản lí xã hội,
quy định phơng thức phân phối phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động có đợc.
Do đó nó ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng nhân dân lao động LLSX
chủ yếu của xã hội. Nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tạo
CCLĐ, áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao
động. Tuy nhiên không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của QHSX.
QHSX chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu QHSX là một hệ thống,
là một chỉnh thể hữu cơ ba mặt: Quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối, quan hệ quản
lí. Chỉ trong chỉnh thể đó QHSX mới trở thành động lực thúc đẩy con ngời phát
triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ phát triển của
LLSX là quy luật chung nhất về sự phát triển của xã hội. Sự tác động của quy luật
này đã đa xã hội loài ngời trải qua các PTSX: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô
lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa.
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là quy
luật vận động phát triển của xã hội qua sự thay thế kế tiếp nhau từ thấp đến cao
của PTSX.
2. 4: Mối quan hệ biện chứng giữa QHSX và LLSX
Khi trình độ LLSX còn thủ công thì tính chất của nó là cá nhân. Nó thể hiện
ở chỗ chỉ một ngời có thể sử dụng đợc nhiều công cụ khác nhau trong quá trình
sản xuất để tạo ra sản phẩm. Khi sản xuất bằng máy ra đời trình độ LLSX công
nghiệp thì một ngời không thể sử dụng nhiều mà chỉ một công cụ, một bộ phận,
5
chức năng, nh vậy quá trình sản xuất phải nhiều ngời tham gia, sản phẩm lao động
là thành quả của nhiều ngời. Ô đây LLSX đã mang tính chất xã hội hoá và tất yếu
một QHSX thích hợp là quan hệ sở hữu về TLSX. Ăng ghen viết: "giai cấp t sản
không thể biến TLSX thành LLSX mạnh mẽ đợc. Không biến những TLSX cá
nhân thành TLSX có tính xã hội mà chỉ một số ngời cùng làm mới sử dụng đợc".
Quan hệ biện chứng giữa QHSX và LLSX biểu hiện ở chỗ: Xu hớng sản xuất
vật chất không ngừng biến đổi phát triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu từ
sự biến đổi LLSX mà trớc hết là công cụ. Công cụ phát triển đến mâu thuẫn gay
gắt với QHSX hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ QHSX cũ thay
bằng QHSX mới. Nh vậy QHSX là hình thức phát triển của LLSX (ổn định tơng
đối ), QHSX trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của LLSX (không phù
hợp ). Phù hợp và không phù hợp là biểu hiện của mâu thuẫn biện chứng của
LLSX và QHSX tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn bao hàm mâu thuẫn. Khi phù
hợp cũng nh lúc không phù hợp với LLSX, QHSX luôn có tính độc lập với LLSX
thể hiện trong nội dung sự tác động trở lại đối với LLSX, quy định mục đích xã
hội của sản xuất, xu hớng phát triển của quan hệ lợi ích từ đó hình thành những
yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển. Sự tác động trở lại của quan hệ
nói trên của sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật kinh tế cơ bản. Phù hợp
và không phù hợp giữa LLSX và QHSX là khách quan và phổ biến của mọi phơng
thức sản xuất. Sẽ không đúng nếu quan niệm trong chủ nghĩa t bản luôn diễn ra:
"không phù hợp" còn dới chủ nghĩa xã hội "phù hợp" giữa QHSX và LLSX.
II. THựC TRạNG QUá TRìNH PHáT TRIểN KINH Tế VIệT NAM áP
DụNG QUY LUậT qhsx PHảI PHù HợP VớI TíNH CHấT Và TRìNH
Độ CủA llsx
1. Đờng lối phát triển QHSX và LLSX theo định hớng xã hội chủ nghĩa:
Quá trình lãnh đạo đất nớc đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã rút ra những
kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho sản
xuất chậm phát triển đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là: "không nắm vững
QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX". Từ đó Đảng ta đã
6
rút ra đợc cốt lõi để đẩy mạnh việc vận dụng quy luật bằng cách nêu vấn đề gắn
liền với cách mạng QHSX với cách mạng khoa học kỹ thuật, chú trọng việc tổ
chức lại nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bơc đi thích hợp.
Đảng nhận thức rằng: Sự phù hợp giữa LLSX và QHSX không bao giờ phù hợp
tuyệt đối không có mâu thuẫn, không thay đổi. Sự phù hợp QHSX với LLSX
không bao giờ là sự phù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dới những hình thức
cụ thể thích ứng với những đặc điểm nhất định với trình độ nào đó trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế không còn là nền kinh tế t bản nhng cũng
cha hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy công cuộc cải tạo chủ nghĩa
phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành
phần trong cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa
QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX hiện có để xác định bớc đi và
những hình thức thích hợp. Quy luật đó luôn đợc coi là t tởng chỉ đạo công cuộc
cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên những điều kiện phát triển LLSX. Đại
hội VI chỉ rõ: "Đảm bảo sự phù hợp giữa LLSX và QHSX luôn luôn kết hợp chặt
chẽ tạo QHSX với tổ chức và phát triển sản xuất". Không nên nóng vội duy ý chí
trong việc xác định trật tự bớc đi cũng nh trong việc lựa chọn các hình thức kinh tế
cần phải cải tạo nền sản xuất nhỏ, để đa nền sản xuất từng bớc lên sản xuất với
quy mô rộng. Trên cơ sở sản xuất nhỏ xây dựng những hình thức QHSX phù hợp,
từng bớc tiến đến đồng bộ rà soát lại quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Thời gian
qua Đảng ta đã đa ra kết luận: "Theo quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính
chất và trình độ phát triển của LLSX, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải có b-
ớc đi và hình thức thích hợp, phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian quá
độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, trong mỗi bớc đi của quá trình
cải tạo xã hội xã hội chủ nghĩa phải đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật cao tạo ra LLSX. Trên cơ sở đó tiếp tục đa QHSX lên hình thức và quy mô
thích hợp để thúc đẩy LLSX phát triển".
7
2. Thực trạng nguồn lực của LLSX nớc ta hiện nay:
Tài nguyên thiên nhiên, tiền vốn, nhân lực là những nguồn lực vật chất nội
tại, cơ bản cho sự phát triển mỗi quốc gia. Ngày nay, lợi thế so sánh của sự phát
triển nhanh đang chuyển dần từ yếu tố giàu tài nguyên tiền vốn, giá nhân công
càng rẻ sang lợi thế về trình độ trí tuệ tri thức cao của con ngời. Chất xám trở
thành nguồn vốn lớn và quý giá là nhân tố quyết định sự tăng trởng và phát triển
của mọi quốc gia, sự giàu có về tri thức là thớc đo trình độ phát triển giữa các nớc.
Việt Nam là một trong những nớc đông dân, dân số trẻ, số ngời trong độ tuổi từ
16-> 34 chiếm 60% trong tổng số 35. 9 triệu ngời lao động, nguồn bổ sung hàng
năm là 3% tức khoảng 1. 24 triệu ngời. Tỉ lệ ngời lớn biết chữ khá cao 88%, số
năm đi học trung bình của một ngời dân là 5 năm, trình độ dân trí đợc xếp vào loại
trung bình khá cao trong khu vực. Ngời Việt Nam có truyền thống cần cù, ham
học hỏỉ cầu tiến bộ, có ý trí và tinh thần tự lực tự cờng dân tộc phát triển khá về
thế lực, trí lực có tính cơ động cao có thể tiếp thu nhanh kiến thức khoa học công
nghệ hiện đại. Có thể nói dây là một lợi thế so sánh của ta trong quá trình hội
nhập.
Việt Nam có nguồn lực dồi dào, nhng cha sử dụng hết mới chỉ sử dụng hết
50% tổng nguồn lực. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 1997 là 6. 01% ở một số
thành phố lớn tỷ l;ệ còn cao hơn là 7->8%và có khoảng 27. 65% lao động ở nông
thôn thiếu việc làm. Trong đội ngũ thất nghiệp 80% lại là thanh niên mà phần
đông là cha đào tạo nghề. Tỷ lệ lao động đợc đào tạo cha cao, số ngời lao động
làm trong lĩnh vực kĩ thuật và chân tay cao, số lao động trí thức chủ yếu tập trung
ở thành phố nhiều. Hiện nay rất dồi dào về số lợng nhng do cơ cấu nhân lực còn
nhiều bất hợp lí và mâu thuẫn trong nội tạI nên chất lợng còn nhiều hạn chế.
Trong khi đó xu hớng đào tạo công nhân kĩ thuật đang giảm cả về giá trị tyệt đối
và tơng đối so với đào tạo đại học.
3. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam:
Tại Đại hội lần VI của Đảng t tởng giải phóng và phát triển trong đờng lối
mới kinh tế phaỉ thực hiện thông qua 5 chính sách lớn. Đó là: chính sách bố trí lại
8
cơ cấu sản xuất và đIũu chỉnh lại về cơ cấu đầu t, chính sách xây dựng nền kinh tế
nhiều thành phần chính sách phát huy mạnh mẽ khoa học kĩ thuật, chính sách mở
rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Những chính sách biện pháp mang
tính cách mạng đó suốt trong những năm 1986->1991đã đem lại cho đất nớc ta
nhiều thay đổi lớn. Đến Đại hội VII Đảng ta lạI nhấn mạnh định hớng trong phát
triển kinh tế đó là "đặt con ngời vào vị trí trung tâm thống nhất tăng trởng kinh tế
với công bằng và tiến bộ xã hội" . Trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh Đại hội VII
khẳng định: "thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa: mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật, đợc bảo hộ
quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp. Các doanh nghiệp đều tự chủ kinh doanh hợp
tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trớc pháp luật. Nhà nớc quản lí nền kinh tế
bằng pháp luật, kế hoạch chính sách và các công cụ khác. "Một thời kì phát triển
của đất nớc đợc mở ra. Thời kì tăng cờng sự kết hợp giữa tăng trởng kinh tế với
phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh. Sự kết hợp đó dựa trên một hệ quan
điểm. Một là, thúc đẩy sự kết hợp ấy ngay trong từng bớc đi ngay ở giai đoạn đầu
của quá trình phát triển. Mỗi chính sách kinh tế đều phải nhằm mục đích phát
triển xã họi hoàn thiện mối quan hệ giữa nguời với ngời. Mỗi chính sách xã hội
đều phải có ý nghĩa thúc đẩy tăng trởng kinh tế xã hội. Hai là bảo đảm cho mọi
ngời dân đều đợc làm chủ TLSX, đợc hởng nền giáo dục cơ bản, đợc bồi dỡng về
nhân cách đợc chăm sóc y tế, đợc hớng dẫn và đào tạo nghề nghiệp. Đặt mỗi cá
nhân vào "bệ phóng" bình đẳng trong những đIều kiện ban đầu đẻ vơn lên tự
khẳng định mình. Ba là xã hội hoá mọi hoạt động nhằm huy động tối đa nguồn lực
tạo sức mạnh vật chất và tinh thần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống QHSX mới theo định hớng xã hội
chủ nghĩa cũng có nhiều chuyển biến. ". . . Chế độ sở hữu cơ chế quản lí và chế độ
phân phối gắn kết với nhau giải phóng sức sản xuất, tạo ra động lực phát triển
mạnh mẽ thúc đẩy tăng trởng kinh tế thực hiện công bằng xã hội"
(5)
. Cả trong nhận
thức và hành động thực tế chúng ta đã dứt khoát chuyển hẳn nền kinh tế hiện vật
thuần nhất công hữu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế
(5)
Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
9
nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Chức năng trực tiếp quản lí kinh doanh đợc chuyển
giao cho các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế theo kế hoạch định
hớng vĩ mô, phù hợp với cơ chế thị trờng. áp dụng chế độ phân phối theo lao động
hết hợp với phân phối theo vốn, tài sản đóng góp vào kết quả quá trình kinh doanh
phân phối phúc lợi đã khuyến khích hớng làm giàu hợp pháp đồng thời bảo đảm
lợi ích chính đáng của ngời lao động.
Những kết quả đạt đợc mới chỉ là bớc đầu còn rất khiêm tốn xong mấy năm
qua nhà nớc và nhân dân ta sớm xây dựng đợc ý thức t duy mới và có nhiều hành
động thực tế kết hợp tăng trởng kinh tế với phát triển mối quan hệ giữa con ngời
với con ngời hớng tới sự tiến bộ bình đẳng và công bằng xã hội.
iii. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay
1. Những khó khăn trên con đờng phát triển đất nớc:
Khó khăn thứ nhất là tiềm lực kinh tế nớc ta còn quá nhỏ bé, đầu t cho phát
triển còn ít "Chất lợng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, nguy cơ tụt hậu còn
lớn". Kết cấu hạ tầng cha đáp ứng đợc yêu cầu hiện tại còn cách xa yêu cầu phát
triển kinh tế hiện đại. Trình độ thiết bị máy móc công nghệ lạc hậu chắp vá không
đồng bộ. Vốn và vấn đề huy động vốn đang và sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn. Khả
năng cạnh tranh hàng hoá của ta do nhiều nguyên nhân vẫn trong tình trạng thấp,
cán cân xuất nhập khẩu mất cân đối.
Khó khăn thứ hai là việc lãnh đạo xây dựng QHSX mới có phần lúng túng
vừa buông lỏng, vừa nhiều bất hợp lí trong đIều tiết và phân phối thu nhập.
Khó khăn thứ ba là tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực làm tổn hại nghiêm
trọng đến kỉ cơng phép nớc và trật tự xã hội.
Khó khăn thứ t là sự phân hoá giàu nghèo tăng nhanh đặt mối quan hệ giữa
các tầng lớp nhân dân vào tình trạng chứa đựng nhiều cách biệt bất bình đẳng,
khoảng cách giàu nghèo biên độ ngày càng tăng. Lãnh thổ miền núi nớc ta chia
làm ba miền khu vực. Riêng khu vực ba gồm các vùng sâu vùng xa chiếm 85%
10
diện tích thiên nhiên, 60% dân số vậy mà mức thu nhập bình quân bằng 34% mức
trung bình cả nớc.
Khó khăn thứ năm là một số giá trị cao đẹp về quan hệ xã hội về truyền
thống Việt Nam, về con ngời Việt Nam đang bị xem nhẹ. Liên minh công nông trí
thức, khối đại đoàn kết rờng cột của dân tộc cha đợc phát triển ngang tầm với yêu
cầu và nhiệm vụ mới. Đành rằng khi nền kinh tế và hàng loạt yếu tố khác đã thay
đổi thì định hớng giá trị cũng thay đổi theo, đó là đIều bình thờng và là lẽ đơng
nhiên. Xong cái không bình thờng ở đây là xuất hiện các mối quan hệ thất nhân
tâm chà đạp lên đạo lí, chạy theo cái lợi vật chất sùng bái đồng tiền. Đó là những
điểm đáng lo ngại hiện nay.
2. Bài học từ sự bất hợp lí trong mối quan hệ QHSX và LLSX:
Đã có một thời nền kinh tế luôn luôn trì trệ. Mặc dù với nội lực và tiềm năng
đất nớc dồi dào và điều kiện đất nớc là một nớc nông nghiệp nhng thờng xuyên
phảI đi vay, kêu gọi viện trợ của nớc ngoài. Đó là hậu quả của việc không hiểu rõ
quy luật QHSX luôn luôn phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Sau
chiến tranh thứ hai Đảng, cách mạng đã giành đợc chính quyền và đứng lên lãnh
đạo đất nớc. Do những hạn chế về kinh nghiệm và trình độ giai cấp lãnh đạo lúc
đó đã không nhìn rõ đợc trình độ LLSX của đất nớc mình, do không nắm vững nội
dung quy luật QHSX phảI luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ LLSX, dẫn
đến những sai lầm về việc ban hành và quản lí đất nớc làm cho đất nớc rơi vào thời
kì tụt hậu. Thực vậy sau cách mạng thành công đất nớc còn nghèo nàn do sự tàn
phá của chiến tranh, trình độ dân trí kém 90% dân số không biết chữ, trình độ sản
xuất lạc hậu Trong hoàn cảnh đát n ớc nh vậy mà giai cấp lãnh đạo lại đặt ra ph-
ơng pháp quản lí tập trung về TLSX. Các mục tiêu kế hoạch phát triển đều đợc lập
từ trên xuống. Bên cạnh đó còn thực hiện cơ chế bao cấp càng làm cho đát nớc suy
thoái.
Qua bài học này Đảng và Nhà nớc cần nghiên cứu kĩ hơn về nội lực của mình
đẻ tránh lặp lại những khuyết điểm đã qua. Cần xây dựng một QHSX phù hợp với
tính chất và trình độ của LLSX
11
3. Mục tiêu phát triển kinh tế ở Việt Nam:
Trong tình hình đất nớc đang bớc vào thế kỉ XXI, để phát triển một nền kinh
tế vững mạnh về mọi mặt Đảng và Nhà nớc cần chú trọng phát triển trình độ
LLSX, luôn luôn phải điều chỉnh QHSX sao cho phù hợp với trình độ phát triển
của LLSX hiện hành.
Tình hình thực tế và yêu cầu cuộc sống đặt cho năm 2001 mục tiêu tổng quát
về kinh tế là chặn đà giảm sút nhịp độ tăng trởng phát triển kinh tế với tốc độ cao
hơn năm 2000, xúc tiến việc hoạch định và chuẩn bị thực hiện chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội 10 năm 2001->2010 nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện
đại hoá, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trờng, chủ động hội nhập và nâng cao vị thế
của nớc ta trên thị trờng quốc tế.
IV. Một số giảI pháp để vận dụng quy luật QHSX phảI phù
hợp với tính chất và trình độ của LLSX vào nền kinh tế
nớc ta hiện nay.
1. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ hữu hiệu cho sản xuất kinh doanh của
mọi tầng lớp nhân dân.
Nhiệm vụ hàng đầu của bộ máy chính quyền các cấp là phải tạo điều kiện
thuận lợi cho nhân dân thực hiện quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Yêu cầu
trớc mắt về chính sách về tháo gỡ vớng mắc trong quy định của thế chế, thứ tự
đang gây phiền hà khó khăn cho dân, tìm kiếm thị trờng tiếp cận các nguồn vốn,
kĩ thuật, đợc cung cấp thông tin đào tạo nghề nghiệp , đồng thời thiết lập kỉ c -
ơng theo pháp luật trong hoạt động kinh tế xã hội.
Đây chính là động lực quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế và kinh tế nông thôn
đạt đợc thành tựu to lớn trong thời gian qua và nay cần tiếp tục phát huy mạnh hơn
nữa đẻ đạt đợc sự phát triển toàn diện với chất lợng cao hơn. Phải thực hiện tốt
chính sách nhất quán của
Đảng và Nhà nớc ta là khuyến khích kinh tế hộ nông dân, các hình thái kinh
tế hợp tác ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công nghiệp chế biến
12
nông sản theo nhiều trình độ quy mô công nghệ. Nhân rộng mô hình liên kết giữa
công nghiệp chế biến và nguồn nguyên liệu, bảo đảm tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
của nông dân, ng dânCác hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình cũ chuyển đổi
sang hình thức tổ chức mới theo luật hợp tác xã ban hành năm 1997. Đối với các
nông, lâm trờng quốc doanh và quốc doanh thuỷ sản triển khai thực hiện các quy
định mới ban hành về sắp xếp lại đổi mới tổ chức và hoạt động theo hớng chính là
hỗ trợ có hiệu quả cho kinh tế hộ nông dân, ng dân trong cả sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm. Chính phủ tiếp tục tăng đầu t cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tập
trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Đầu t thích đáng cho công tác
giống, giảm sự phụ thuộc vào giống trực tiếp từ bên ngoài. Đặc biệt coi trọng chỉ
đạo hớng dẫn việc gắn sản xuất, chế biến nông, thuỷ sản, lâm sản với mở rộng thị
trờng tiêu thụ trong và ngoài nớc. Nghiên cứu việc miễn thuế sử dụng đất ở vùng
nghèo, bỏ thuế buôn chuyển đối với nông - thuỷ sản.
Chúng ta cần đặc biệt trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh
doanh cá thể là loại hình kinh tế chiếm số đông trong dân c, hoạt động trên cả nớc,
tạo ra nhiều việc làm trong xã hội, có nhiều khả năng kinh doanh năng động có
hiệu quả
2. Đổi mới nâng cao nội lực điều hành của chính phủ:
Chơng trình cải cách hành chính cần đợc tiếp tục tiến hành với tinh thần dựa
vào dân, phát huy tính năng động của doanh nghiệp, tính chủ động và trách nhiệm
của cấp dới. Đề cao trách nhiệm cá nhân hơn hành động nhiều, thực thi pháp luật,
giữ gìn kỷ cơng nghiêm túc hơn trong bộ máy nhà nớc và trong xã hội.
Nhiệm vụ xây dựng thế chế đặt trọng tâm vào việc đồng bộ hoá khung pháp
lý nhằm tạo thuận lơị cho công việc làm ăn của doanh nghiệm và nhân dân. Đồng
thời, đổi mới phơng thức xây dựng và ban hành văn bản pháp quy, bảo đảm sự
thống nhất về nội dung, ăn khớp về thời gian thực hiện giữa văn bản chính và văn
bản hớng dẫn thi hành. Tăng cờng việc kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các
văn bản pháp quy. Mở rộng các hình thức lấy ý kiến của nhân dân, của những ngời
thuộc đối tợng điều chỉnh của thế chế trớc khi ban hành, không chỉ đối với luật,
13
pháp lệnh, nghị định mà cả các văn bản pháp quy do các bộ, ngành, địa phơng ban
hành. Có quy chế bảo đảm cho dân đợc thông tin đầy đủ về các văn bản pháp quy
đã ban hành.
Đề cao kỷ luật, chấp hành luật pháp, thế chế đã ban hành. Tăng cờng hoạt
động của các tòa kinh tế, toà hành chính, toà lao động để xét xử các tranh chấp có
thể giải quyết theo quan hệ dân sự. Đẩy mạnh việc phân cấp cho chính quyền địa
phơng. Việc gì giao cho chính quyền cấp dới chịu trách nhiệm thì phải giao đủ
quyền hạn và đIều kiện thực hiện, đặc biệt là quyền sắp xếp tổ chức, bố trí nhân sự
và thu chi ngân sách. Cơ quan cấp trên có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện của
cấp dới, không can thiệp, làm thay, làm hộ cho cấp dới. Cần soát xét sự phân công
trách nhiệm trên các lĩnh vực giã các cấp hành chính, trớc hết là giữa cấp trung -
ơng và cấp tỉnh. Việc nào có thể giải quyết và giao cho chính quyền địa phơng thì
phân cấp ngay. Công việc này đi liền với việc đa nhanh bộ máy chính quyền các
cấp, địa phơng mới đợc bầu vào vận hành một cách đồng bộ, nâng cao trách nhiệm
và tăng hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở đổi mới thế chế, đẩy mạnh phân cấp, phân
biệt cơ quan hành chính công quyền với đơn vị sự nghiệp làm dịch vụ công, cần
soát xét chức năng nhiệm vụ của bộ máy hành chính, khắc phục sự chồng chéo, để
tinh giảm tổ chức và biên chế theo nghị quyết TW VII. Tiếp tục cải tiến công tác
đIều hành của chính phủ. Tăng cờng công tác thông tin sát thực nhanh nhạy hơn.
Bên cạnh việc sử dụng các cơ quan chức năng trong bộ máy hành chính. Chính
phủ sẽ phát huy khả năng của các tổ chức khác và các nhà nghiên cứu vào việc
phân tích tình hình kinh tế xã hội. Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện các thế
chế, các giải pháp đIều hành của nhà nớc. Dự báo tình hình đất nớc và đề xuất các
giải pháp về chủ trơng, chính sách, thăm dò d luận xã hội, phân tích tâm trạng của
dân chúng. Chính phủ cố gắng dành nhiều thời gian hơn cho việc nắm thực tế
kiểm tra công tác ở địa phơng, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, hoạch định chính
sách
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét