Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

chuẩn mực đạo đức kiểm toán năm 2005

11. Đơn vị niêm yết: Là đơn vị có chứng khoán được niêm yết chính thức trên sàn
giao dịch chứng khoán, hoặc được mua, bán theo quy định của sàn giao dịch hoặc
các tổ chức tương đương như: công ty cổ phần, tổ chức kinh doanh chứng khoán,
công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán.
12. Đáng kể (Trọng yếu): Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một
thông tin, một số liệu mà nếu thiếu hoặc không có thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến
quyết định của người có liên quan. Thông tin đáng kể thể hiện về số lượng hoặc bản
chất của thông tin.
13. Giám đốc (Thành viên Ban Giám đốc): Là những người có trách nhiệm về quản
trị công ty (kể cả các chức danh khác có trách nhiệm quản trị công ty).
- Giám đốc phụ trách hợp đồng đảm bảo (Hợp đồng kiểm toán): Là người chịu
trách nhiệm chính trong hai người chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán báo cáo
tài chính hoặc báo cáo tài chính hợp nhất của khách hàng kiểm toán, và cũng có thể
chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính các cấu phần của báo cáo
tài chính hợp nhất nếu yêu cầu phát hành một Báo cáo kiểm toán độc lập.
14. Hợp đồng kiểm toán (Hợp đồng đảm bảo): Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa
doanh nghiệp kiểm toán với khách hàng về các điều khoản và điều kiện thực hiện
kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm
của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện, các điều khoản về
phí, về xử lý khi tranh chấp hợp đồng. Hợp đồng kiểm toán là hợp đồng cung cấp
dịch vụ kiểm toán. Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ cung cấp một mức độ đảm bảo cao
về việc các báo cáo tài chính không còn chứa đựng các sai sót trọng yếu hoặc nếu
còn sai sót trọng yếu thì đã được phát hiện. Hợp đồng kiểm toán là một loại hợp
đồng đảm bảo.
15. Hợp đồng đảm bảo (Dịch vụ đảm bảo): Là hợp đồng dịch vụ, theo đó kiểm toán
viên hành nghề đưa ra ý kiến kết luận nhằm nâng cao mức độ tin cậy của người sử
dụng thông tin. Hợp đồng đảm bảo được thực hiện để cung cấp:
a) Sự đảm bảo ở mức độ cao các vấn đề phù hợp với các tiêu chuẩn được đặt ra từ
trước xét trên các khía cạnh trọng yếu; hoặc
b) Sự đảm bảo ở mức độ vừa phải các vấn đề hợp lý trong các trường hợp cụ thể.
Hợp đồng đảm bảo bao gồm hợp đồng tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam, được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế chung về hoạt động đảm
bảo, do Bộ Tài chính ban hành, hoặc tuân thủ các chuẩn mực cụ thể về hợp đồng
đảm bảo do Bộ Tài chính ban hành, ví dụ cuộc kiểm toán báo cáo tài chính hoặc
soát xét báo cáo tài chính theo các Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam.
16. Kế toán viên (Người làm kế toán): Là những người của doanh nghiệp hoặc tổ
chức (có hoặc không có Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ hành nghề kế
toán) chịu trách nhiệm thực hiện công việc kế toán của đơn vị đó. Người làm kế
toán bao gồm cả người hành nghề kế toán.
17. Kế toán viên chuyên nghiệp: Là những người có Chứng chỉ hành nghề kế toán
của Việt Nam hay của nước ngoài nhưng làm việc trong các doanh nghiệp và tổ
chức.
18. Người hành nghề kế toán: Là những người có Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc
Chứng chỉ hành nghề kế toán có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán, hành nghề cá
nhân hoặc hành nghề trong các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán.
19. Khách hàng kiểm toán: Là các doanh nghiệp, đơn vị và tổ chức được doanh
nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ kiểm toán theo yêu cầu. Khách hàng kiểm toán
5
còn bao gồm cả các bên có liên quan, nhất là khi khách hàng kiểm toán là công ty
niêm yết.
20. Khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo (dịch vụ kiểm toán): Là các doanh nghiệp
và tổ chức được doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ đảm bảo (dịch vụ kiểm
toán) theo yêu cầu.
21. Kiểm toán viên: Là những người có Chứng chỉ kiểm toán viên nhưng chưa đăng
ký hành nghề kiểm toán hoặc đã đăng ký hành nghề kiểm toán nhưng chưa được
công ty kiểm toán giao trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán (là người có đủ tiêu
chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật cho người hành nghề kiểm toán
nhưng chưa được công ty kiểm toán giao trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán).
- Kiểm toán viên hành nghề: Là những người có Chứng chỉ kiểm toán viên đã đăng ký
hành nghề tại một doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt
Nam và được công ty kiểm toán giao trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán.
22. Kiểm toán viên tiền nhiệm: Là kiểm toán viên hành nghề đã thực hiện hợp đồng
kiểm toán hoặc đã thực hiện công việc kế toán, thuế, tư vấn cho khách hàng kỳ
trước hoặc các kỳ trước.
- Kiểm toán viên hiện thời: Là kiểm toán viên hành nghề hiện đang thực hiện một
hợp đồng kiểm toán hoặc đang thực hiện công việc kế toán, thuế, tư vấn hoặc dịch
vụ chuyên nghiệp cho một khách hàng.
- Kiểm toán viên được mời: Là kiểm toán viên hành nghề (Kiểm toán viên hiện thời
hoặc kiểm toán viên tiền nhiệm) được khách hàng mời thực hiện các dịch vụ liên
quan đến kiểm toán, kế toán, thuế, tư vấn hoặc các dịch vụ tương tự, hoặc người
được yêu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của khách
hàng.
- Trợ lý kiểm toán viên: Là những người cùng tham gia nhóm kiểm toán nhưng
chưa có Chứng chỉ kiểm toán viên.
23. Người làm kiểm toán: Là những người gồm: Kiểm toán viên hành nghề, kiểm
toán viên và trợ lý kiểm toán.
24. Nhóm kiểm toán (Nhóm cung cấp dịch vụ đảm bảo): Là nhóm bao gồm:
a) Kiểm toán viên hành nghề, các kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán tham gia hợp
đồng kiểm toán (hợp đồng đảm bảo);
b) Tất cả các nhân viên khác trong công ty kiểm toán có ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả của báo cáo kiểm toán, gồm:
- Người đề xuất phí kiểm toán hoặc giám sát trực tiếp, quản lý hoặc thực hiện
các hoạt động giám sát khác đối với Giám đốc phụ trách hợp đồng đảm bảo
trong quá trình thực hiện hợp đồng đảm bảo. Đối với hợp đồng kiểm toán,
những người này còn gồm tất cả các nhân viên cấp cao, từ Giám đốc phụ trách
cuộc kiểm toán cho tới những người điều hành của công ty kiểm toán;
- Những người tham gia tư vấn về các vấn đề, nghiệp vụ hoặc sự kiện có tính
chất kỹ thuật hoặc liên quan đến các chuyên ngành cụ thể của hợp đồng đảm
bảo; và
- Những người phụ trách kiểm soát chuyên môn các hợp đồng đảm bảo, kể cả
người soát xét quy trình kiểm soát chất lượng dịch vụ.
c) Đối với khách hàng kiểm toán, nhóm kiểm toán bao gồm tất cả
những người trong mạng lưới của công ty có ảnh hưởng trực tiếp đến ý kiến
kiểm toán.
6
- Nhóm cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ những người trực tiếp và gián tiếp tham gia
thực hiện một dịch vụ, kể cả các chuyên gia do công ty kiểm toán thuê để thực hiện
dịch vụ đó.
25. Lợi ích tài chính: Là các khoản đầu tư về vốn hoặc các chứng khoán, giấy nợ,
khoản nợ hoặc các công cụ nợ khác của đơn vị, bao gồm các quyền và nghĩa vụ để
mua các khoản lợi ích tài chính đó cũng như các công cụ phát sinh liên quan trực
tiếp đến những lợi ích này.
26. Lợi ích tài chính trực tiếp: Là lợi ích tài chính:
a) Thu được do sở hữu trực tiếp hoặc do có quyền kiểm soát của một cá nhân hay tổ
chức; hoặc
b) Thu được từ các hình thức sở hữu thông qua việc đầu tư vào quỹ đầu tư tài chính,
đầu tư bất động sản, ủy thác hoặc các hình thức trung gian khác mà cá nhân hoặc
tổ chức đó có quyền kiểm soát.
27. Lợi ích tài chính gián tiếp: Là lợi ích tài chính thu được từ các hình thức sở hữu
thông qua việc đầu tư vào quỹ đầu tư tài chính, đầu tư bất động sản, ủy thác hoặc
các hình thức trung gian khác mà cá nhân hoặc tổ chức đó không có quyền kiểm
soát.
28. Mạng lưới công ty: Là các tổ chức chịu sự kiểm soát, quyền sở hữu hoặc quản lý
chung của một công ty hoặc bất cứ tổ chức nào mà bên thứ ba dễ dàng kết luận được
đó là một phần của công ty trong phạm vi quốc gia hoặc quốc tế, như công ty mẹ,
công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện.
29. Quan hệ gia đình ruột thịt: Là những người trong mối quan hệ: Bố, mẹ, vợ,
chồng, con, anh, chị, em ruột.
- Quan hệ gia đình trực tiếp: Là vợ, chồng và những người trong mối quan hệ bố,
mẹ, con, anh, chị, em ruột và những người khác chịu sự phụ thuộc về kinh tế.
30. Quảng cáo: Là hoạt động cung cấp thông tin, hình ảnh tới công chúng về doanh
nghiệp và các dịch vụ kế toán, kiểm toán, về kiểm toán viên, người hành nghề kế
toán trong thực hành kế toán, kiểm toán và các dịch vụ khác nhằm mục đích lôi kéo
khách hàng, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kế toán, kiểm toán.
31. Sự lôi kéo khách hàng: Là việc một kiểm toán viên hành nghề hoặc người hành
nghề kế toán tiếp cận với khách hàng tiềm năng (khách hàng hiện thời của doanh
nghiệp kiểm toán khác, doanh nghiệp chưa bao giờ kiểm toán hoặc mới thành lập)
nhằm mục đích để được cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán cho khách hàng
đó.
- Soát xét quy trình kiểm soát chất lượng dịch vụ: Là quy trình được thiết kế nhằm
đánh giá một cách khách quan về các đánh giá quan trọng mà nhóm cung cấp dịch
vụ đã thực hiện và các kết quả mà họ đưa ra trong quá trình lập báo cáo kiểm toán
trước khi phát hành chính thức.
32. Tiền của khách hàng: Là bất cứ khoản tiền nào - gồm tiền mặt và các giấy tờ có
giá trị, ví dụ trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu và các giấy tờ có giá khác có thể chuyển
thành tiền (như trái phiếu có ghi tên) thuộc quyền sở hữu của khách hàng.
33. Tính độc lập: Tính độc lập bao gồm:
a) Độc lập về tư tưởng - Là trạng thái suy nghĩ cho phép đưa ra ý kiến mà không
chịu ảnh hưởng của những tác động trái với những đánh giá chuyên nghiệp, cho
phép một cá nhân hành động một cách chính trực, khách quan và có sự thận trọng
nghề nghiệp, và
7
b) Độc lập về hình thức - Là không có các quan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnh
hưởng đáng kể làm cho bên thứ ba hiểu là không độc lập, hoặc hiểu là tính chính
trực, khách quan và thận trọng nghề nghiệp của nhân viên công ty hay thành viên
của nhóm cung cấp dịch vụ đảm bảo không được duy trì.
34. Tính khách quan: Là sự kết hợp giữa tính công bằng, trung thực, tôn trọng sự
thật và không có các xung đột về lợi ích.
35. Nguyên tắc cơ bản của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán,
gồm:
a) Độc lập (áp dụng chủ yếu cho kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế
toán);
b) Chính trực;
c) Khách quan;
d) Năng lực chuyên môn và tính thận trọng;
e) Tính bảo mật;
f) Tư cách nghề nghiệp;
g) Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn.
36. Độc lập: Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên hành nghề
và người hành nghề kế toán.
Trong quá trình kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán viên hành nghề và
người hành nghề kế toán phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật
chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề
nghiệp của mình.
Kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế toán không được nhận làm kiểm toán
hoặc làm kế toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp
vốn, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có
ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hóa.
Kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế toán không được nhận làm kiểm toán
hoặc làm kế toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ gia đình ruột thịt (như có bố, mẹ,
vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) là người trong bộ máy quản lý diều hành (Hội đồng quản
trị, Ban Giám đốc, kế toán trưởng, các trưởng, phó phòng và các cấp tương đương) trong
đơn vị khách hàng.
Kiểm toán viên hành nghề không được vừa làm dịch vụ kế toán, như ghi sổ kế toán, lập báo
cáo tài chính, kiểm toán nội bộ, định giá tài sản, tư vấn quản lý, tư vấn tài chính, vừa làm
dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng. Ngược lại, người làm dịch vụ kế toán không
được làm kiểm toán cho cùng một khách hàng.
Trong quá trình kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, nếu có sự hạn chế về tính độc lập
thì kiểm toán viên hành nghề, người hành nghề kế toán phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế
này. Nếu không thể loại bỏ được thì phải nêu rõ điều này trong Báo cáo kiểm toán hoặc Báo
cáo dịch vụ kế toán.
37. Chính trực: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thẳng thắn, trung thực và có
chính kiến rõ ràng.
38. Khách quan: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải công bằng, tôn trọng sự
thật và không được thành kiến, thiên vị.
39. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Người làm kế toán và người làm kiểm toán
phải thực hiện công việc kiểm toán, kế toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự
thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần. Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập
8
nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ
kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.
40. Tính bảo mật: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải bảo mật các thông tin có
được trong quá trình kiểm toán; không được tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được
phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp
luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình.
41. Tư cách nghề nghiệp: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải trau dồi và bảo
vệ uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp.
42. Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: Người làm kế toán và người làm kiểm toán
phải thực hiện công việc kế toán, kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực
chuyên môn đã quy định trong chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam,
quy định của Hội nghề nghiệp và các quy định pháp luật hiện hành.
43. Mục tiêu và các nguyên tắc cơ bản của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế
toán, kiểm toán là đưa ra các quy định nhằm để giải quyết các vấn đề về đạo đức
của người làm kế toán và người làm kiểm toán trong các trường hợp cụ thể. Các
quy định trong Chuẩn mực này cung cấp các hướng dẫn về mục tiêu và các tiêu
chuẩn phổ biến để áp dụng trong hành nghề đối với các trường hợp điển hình cụ
thể xảy ra trong nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Chuẩn mực này chỉ quy định và
hướng dẫn phương pháp tiếp cận chứ không liệt kê tất cả các trường hợp có thể
gây ra nguy cơ không tuân thủ và các biện pháp xử lý cần thực hiện.
44. Nội dung Chuẩn mực này gồm 3 phần sau:
a) Phần A: Áp dụng cho tất cả người làm kế toán và người làm kiểm toán;
b) Phần B: Áp dụng cho kiểm toán viên hành nghề, nhóm kiểm toán và công ty
kiểm toán;
c) Phần C: Áp dụng cho người có Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ
hành nghề kế toán đang làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức.
Tuỳ theo hoạt động thực tế, một người có thể vừa phải tuân thủ các quy định tại
Phần A vừa phải tuân thủ các quy định ở Phần B hoặc Phần C. Ví dụ: Một người có
Chứng chỉ kiểm toán viên, nếu cung cấp dịch vụ kiểm toán thì phải thực hiện quy
định tại Phần A và quy định tại Phần B, nếu làm kế toán trong các doanh nghiệp, tổ
chức thì phải thực hiện quy định tại Phần A và quy định tại Phần C.
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
- PHẦN A -
ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ NGƯỜI LÀM KẾ TOÁN VÀ NGƯỜI LÀM KIỂM TOÁN
Cách tiếp cận về mặt nhận thức
45. Môi trường làm việc của những người làm kế toán và người làm kiểm toán có thể tạo ra
một số nguy cơ trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực đạo đức. Không
thể xác định được toàn bộ những trường hợp có thể dẫn đến những nguy cơ đó để xác định
các biện pháp bảo vệ thích hợp trong từng trường hợp. Do bản chất của từng dịch vụ và
công việc có thể khác nhau nên các nguy cơ cũng khác nhau đòi hỏi phải áp dụng các biện
pháp bảo vệ khác nhau. Cách tiếp cận về nhận thức, mà theo đó lợi ích của công chúng
được đề cao, đòi hỏi người làm kế toán và người làm kiểm toán phải xác định, đánh giá và
xử lý các nguy cơ đe dọa sự tuân thủ các nguyên tắc cơ bản chứ không chỉ đơn thuần tuân
thủ các quy định một cách máy móc. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp này đưa ra một
khuôn khổ nhằm hỗ trợ những người làm kế toán và người làm kiểm toán xác định, đánh
9
giá và xử lý những nguy cơ đe dọa việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Nếu các nguy cơ
được xác định là đáng kể, thì người làm kế toán và người làm kiểm toán cần áp dụng các
biện pháp bảo vệ thích hợp để loại bỏ hay làm giảm nhẹ các nguy cơ này xuống mức có thể
chấp nhận được để việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản không bị ảnh hưởng.
• Khi người làm kế toán và người làm kiểm toán biết được hoặc có căn cứ
hợp lý để phải biết về các trường hợp hoặc các mối quan hệ có thể làm ảnh hưởng đến việc
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, những người làm kế toán và người làm kiểm toán có nghĩa
vụ đánh giá bất cứ nguy cơ nào đối với việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực
đạo đức.
• Người làm kế toán và người làm kiểm toán cần xem xét đến các yếu tố
định tính và định lượng khi đánh giá mức độ của một nguy cơ. Nếu không thể áp dụng các
biện pháp bảo vệ thích hợp, người làm kế toán và người làm kiểm toán cần khước từ hoặc
dừng không tiếp tục cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp có liên quan, khi cần thiết phải từ chối
cung cấp dịch vụ cho khách hàng (áp dụng cho kiểm toán viên hành nghề, nhóm kiểm toán
và công ty kiểm toán) hay từ chối làm việc cho tổ chức sử dụng lao động (áp dụng cho
người có Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ hành nghề kế toán đang làm việc cho
các doanh nghiệp, tổ chức).
• Người làm kế toán và người làm kiểm toán có thể vô ý vi phạm quy định
của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp này. Tùy thuộc bản chất và mức độ quan trọng của
vấn đề, nếu vi phạm một cách vô ý có thể không làm ảnh hưởng tới việc tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản với điều kiện là khi phát hiện ra vi phạm thì người làm kế toán và người
làm kiểm toán phải sửa chữa ngay các vi phạm đó và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần
thiết.
46. Các Phần B và C của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp này đưa ra các ví dụ với mục đích
minh họa cách thức áp dụng cách tiếp cận về nhận thức. Những ví dụ minh họa này không
phải và cũng không được coi là toàn bộ các trường hợp tạo ra những nguy cơ về sự tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản mà người làm kế toán và người làm kiểm toán có thể gặp phải. Do
vậy, việc người làm kế toán và người làm kiểm toán chỉ làm theo những ví dụ đó là không
đầy đủ mà phải tham chiếu đến khuôn khổ của chuẩn mực trong từng trường hợp cụ thể.
Các nguy cơ và biện pháp bảo vệ
47. Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản có thể bị đe dọa trong rất nhiều trường hợp. Các
nguy cơ có thể được phân loại như sau:
a) Nguy cơ do tư lợi: Nguy cơ này có thể xảy ra do việc người làm kế toán và người làm
kiểm toán hoặc thành viên trong quan hệ gia đình ruột thịt hay quan hệ gia đình trực tiếp
của người làm kế toán và người làm kiểm toán có các lợi ích tài chính hay lợi ích khác;
b) Nguy cơ tự kiểm tra: Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kế toán và người làm
kiểm toán phải xem xét lại các đánh giá trước đây do mình chịu trách nhiệm;
c) Nguy cơ về sự bào chữa: Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kế toán và người làm
kiểm toán ủng hộ một quan điểm hay ý kiến tới mức độ mà tính khách quan có thể bị ảnh
hưởng;
d) Nguy cơ từ sự quen thuộc: Nguy cơ này có thể xảy ra khi, do các mối quan hệ quen
thuộc mà người làm kế toán và người làm kiểm toán trở nên quá đồng tình đối với lợi ích
của những người khác; và
e) Nguy cơ bị đe dọa: Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kế toán và người làm kiểm
toán có thể bị ngăn cản không được hành động một cách khách quan do các đe dọa (các
đe dọa này có thể là có thực hoặc do cảm nhận thấy).
Phần B và C của Chuẩn mực Đạo đức Nghề nghiệp này đưa ra các ví dụ về các trường hợp
các kiểm toán viên hành nghề, nhóm kiểm toán và công ty kiểm toán hay những người có
10
Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ hành nghề kế toán đang làm việc cho các doanh
nghiệp, tổ chức có thể gặp phải các nguy cơ nói trên.
48. Các biện pháp bảo vệ có thể loại bỏ hay làm giảm nhẹ các nguy cơ xuống mức chấp nhận
được bao gồm hai nhóm lớn như sau:
a) Các biện pháp bảo vệ do pháp luật và chuẩn mực quy định; và
b) Các biện pháp bảo vệ do môi trường làm việc tạo ra.
• Các biện pháp bảo vệ do pháp luật và chuẩn mực quy định bao gồm
nhưng không giới hạn ở các biện pháp sau:
- Yêu cầu về học vấn, đào tạo và kinh nghiệm làm nghề kế toán và kiểm toán.
- Các yêu cầu về cập nhật chuyên môn liên tục.
- Các quy định về bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp.
- Các chuẩn mực nghề nghiệp và quy định về thủ tục soát xét.
- Các quy trình kiểm soát của Hội nghề nghiệp hay của cơ quan quản lý nhà nước và các
biện pháp kỷ luật.
- Kiểm soát từ bên ngoài do một bên thứ ba được ủy quyền hợp pháp đối với các báo cáo,
tờ khai, thông báo hay thông tin do người làm kế toán và người làm kiểm toán lập.
• Phần B và C của Chuẩn mực này sẽ quy định về các biện pháp bảo vệ
trong môi trường làm việc của các kiểm toán viên hành nghề, nhóm kiểm toán, công ty
kiểm toán và những người có Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ hành nghề kế toán
đang làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức.
• Một số biện pháp bảo vệ có thể nâng cao khả năng phát hiện hay ngăn cản hành vi vi
phạm đạo đức nghề nghiệp. Những biện pháp bảo vệ đó có thể do Hội nghề nghiệp hướng
dẫn hoặc quy định của pháp luật, hoặc quy định của tổ chức sử dụng lao động, bao gồm
nhưng không giới hạn ở những biện pháp sau:
- Các hệ thống khiếu nại hữu hiệu, được quảng bá rộng rãi, được tổ chức sử dụng lao động,
Hội nghề nghiệp kế toán hay cơ quan quản lý nhà nước thực hiện. Những hệ thống này
tạo điều kiện cho các đồng nghiệp, chủ doanh nghiệp và công chúng chú ý đến các
hành vi thiếu tính chuyên nghiệp hay vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
- Quy định rõ ràng trách nhiệm báo cáo các vi phạm về đạo đức nghề nghiệp.
• Bản chất của các biện pháp bảo vệ cần được áp dụng sẽ thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh.
Khi đưa ra các xét đoán chuyên môn, người làm kế toán và người làm kiểm toán cần cân
nhắc áp dụng các biện pháp bảo vệ để không bị một bên thứ ba với hiểu biết đầy đủ về tất cả
các thông tin liên quan kể cả mức độ quan trọng của nguy cơ và các biện pháp được áp
dụng cho là không phù hợp.
Tính chính trực và tính khách quan
49. Tính chính trực không đơn thuần chỉ tính trung thực mà còn nhấn mạnh đến sự
công bằng và sự tín nhiệm. Nguyên tắc về tính khách quan nói đến nghĩa vụ của tất cả
người làm kế toán và người làm kiểm toán phải công bằng, trung thực trong tư tưởng
và không có xung đột về lợi ích.
Người làm kế toán và người làm kiểm toán trong các lĩnh vực khác nhau cần thể
hiện tính khách quan của họ trong các hoàn cảnh khác nhau. Kiểm toán viên hành
nghề tham gia vào các hợp đồng cung cấp dịch vụ đảm bảo, dịch vụ kê khai thuế và
các dịch vụ tư vấn quản lý khác. Người làm kế toán và người làm kiểm toán khi
chuẩn bị báo cáo tài chính, thực hiện kiểm toán nội bộ hoặc tham gia quản lý tài
chính trong các doanh nghiệp và đơn vị kế toán. Bất kể dịch vụ hay quyền hạn như
11
thế nào, người làm kế toán và người làm kiểm toán cũng cần phải bảo vệ tính chính
trực khi làm việc hoặc cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp và giữ tính khách quan
trong những đánh giá của họ.
50. Khi lựa chọn và áp dụng các tiêu chuẩn về đạo đức có liên quan đến tính khách
quan, cần có sự quan tâm đáng kể đối với các nhân tố sau:
a) Người làm kế toán và người làm kiểm toán, trong các trường hợp phải chịu áp
lực mạnh, có thể dẫn đến việc vi phạm tính khách quan.
b) Do không thể định nghĩa và quy định được tất cả các trường hợp phải chịu áp lực
nên phải quy định các tiêu chuẩn để xác định các mối quan hệ có khả năng dẫn
đến việc vi phạm tính khách quan của người làm kế toán và người làm kiểm toán.
c) Cần tránh các mối quan hệ dẫn đến sự thành kiến, thiên vị hoặc bị ảnh hưởng của
những người khác có thể dẫn đến vi phạm tính khách quan.
d) Người làm kế toán và người làm kiểm toán có nghĩa vụ đảm bảo tôn trọng tính
khách quan đối với các quan hệ cá nhân liên quan đến dịch vụ chuyên nghiệp.
e) Người làm kế toán và người làm kiểm toán không nên nhận quà hoặc tặng quà, dự
chiêu đãi hoặc mời chiêu đãi đến mức có thể làm ảnh hưởng đáng kể tới các đánh
giá nghề nghiệp hoặc tới những người họ cùng làm việc. Quà tặng hoặc chiêu đãi
là quan hệ tình cảm cần thiết nhưng người làm kế toán và người làm kiểm toán nên
tránh các trường hợp có thể ảnh hưởng đến tính chính trực, khách quan hoặc dẫn
đến tai tiếng nghề nghiệp.
• Người làm kế toán và người làm kiểm toán không nên có liên quan đến
các báo cáo, tờ khai, các trao đổi hay các thông tin khác nếu họ tin rằng những thông tin
này:
- Có các nhận định sai lệch hoặc gây hiểu nhầm một cách trọng yếu;
- Có các thông tin hay số liệu được cung cấp một cách cẩu thả; hay
- Bỏ sót hay che đậy thông tin được yêu cầu cung cấp trong trường hợp sự bỏ sót hay che
đậy như vậy làm lệch lạc thông tin.
• Người làm kiểm toán không bị coi là đã vi phạm điều trên nếu người
làm kiểm toán này đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần do các
vấn đề đã đề cập trong điều đó.
Xung đột về đạo đức
51. Trong nền kinh tế thị trường, càng ngày càng có nhiều tình huống có thể dẫn
đến các xung đột về lợi ích trong nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Những xung
đột này có thể nảy sinh từ nhiều con đường khác nhau, từ những tình huống khó xử,
không quan trọng cho đến những trường hợp gian lận và vi phạm pháp luật đặc biệt
nghiêm trọng. Khó liệt kê hết danh sách các trường hợp có nguy cơ xảy ra xung đột
lợi ích. Người làm kế toán và người làm kiểm toán cần phải thường xuyên tỉnh táo,
có sự hoài nghi nghề nghiệp và cảnh báo về các nhân tố có thể nảy sinh xung đột về
lợi ích. Sự khác nhau về ý kiến trung thực giữa một người làm kế toán và người
làm kiểm toán với một bên khác không chỉ là vấn đề đạo đức. Tuy nhiên, thực tế và
hoàn cảnh của từng trường hợp cần được các bên liên quan xem xét cụ thể.
52. Các nhân tố cụ thể có thể xảy ra khi trách nhiệm của người làm kế toán và người
làm kiểm toán bị xung đột về đạo đức:
a) Áp lực từ cơ quan quản lý, đơn vị cấp trên, giám đốc, người lãnh đạo công ty
kiểm toán; hoặc khi có các quan hệ gia đình hay cá nhân. Các mối quan hệ hay
12
lợi ích có thể có ảnh hưởng trái ngược, làm vi phạm hay đe dọa đến tính chính
trực của người làm kế toán và người làm kiểm toán thì cần được loại bỏ hoặc hạn
chế.
b) Người làm kế toán và người làm kiểm toán có thể bị yêu cầu hành động trái với
các chuẩn mực nghề nghiệp và chuyên môn.
c) Có thể có vấn đề về lòng trung thành giữa một bên là cấp trên và một bên là yêu
cầu của chuẩn mực nghề nghiệp mà người làm kế toán và người làm kiểm toán
cần tuân thủ.
d) Xung đột có thể nảy sinh khi thông tin không trung thực được công bố có thể ảnh
hưởng đến lợi ích của chủ doanh nghiệp hoặc khách hàng, người làm kế toán và
người làm kiểm toán.
53. Khi áp dụng chuẩn mực đạo đức, người làm kế toán và người làm kiểm toán có
thể gặp khó khăn trong việc xác định hành vi vi phạm đạo đức hoặc giải quyết các
xung đột về lợi ích. Khi đối mặt với các vấn đề về đạo đức, người làm kế toán và
người làm kiểm toán cần phải làm theo các chính sách của doanh nghiệp nơi họ làm
việc để tìm kiếm cách giải quyết xung đột. Nếu những chính sách này không giải
quyết được các xung đột về đạo đức thì cần phải xem xét các vấn đề sau:
a) Xem xét lại vấn đề xung đột với cấp trên trực tiếp. Nếu không thể giải quyết
được thì phải báo cáo với cấp quản lý cao hơn sau khi đã báo cáo với cấp trên
trực tiếp về quyết định này. Nếu cấp trên cũng có liên quan đến vấn đề xung đột
thì phải báo cáo lên cấp quản lý cao hơn nữa. Cấp trên trực tiếp có thể là trưởng
phòng, cấp trên cao hơn là giám đốc chi nhánh, cao hơn nữa là giám đốc công ty
hoặc Đại hội cổ đông.
b) Trao đổi với chuyên gia (Hội nghề nghiệp, cơ quan nhà nước hoặc chuyên gia tư
vấn pháp luật).
c) Nếu xung đột về đạo đức vẫn còn và là trọng yếu sau khi đã báo cáo tất cả các
cấp soát xét nội bộ, người làm kế toán và người làm kiểm toán chỉ còn cách cuối
cùng để không vi phạm đạo đức nghề nghiệp là phải từ chối làm việc đó hoặc từ
chức và nói rõ lý do.
• Nếu các xung đột về đạo đức là trọng yếu thì tuỳ theo yêu cầu của pháp
luật và các quy định, người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thông báo
trong thời gian sớm nhất hành vi đó cho cơ quan chức năng có liên quan sau khi
trao đổi với Hội nghề nghiệp, chuyên gia hoặc chuyên gia tư vấn pháp luật.
Chuyên gia tư vấn phải là người có năng lực và phải đảm bảo tính bảo mật cho
người làm kế toán và người làm kiểm toán khi trao đổi về các xung đột về đạo đức.
• Người làm kế toán và người làm kiểm toán khi ở vị trí lãnh đạo công ty
kiểm toán thì cần nỗ lực thực thi các chính sách của doanh nghiệp để giải quyết
được các xung đột về đạo đức.
• Trường hợp có xung đột trong nội bộ một tổ chức hoặc với một tổ chức khác,
người làm kế toán và người làm kiểm toán cần tham khảo ý kiến của những người chịu
trách nhiệm về bộ máy quản lý điều hành của tổ chức đó như Ban giám đốc hay bộ phận
kiểm toán nội bộ.
• Vì quyền lợi của mình, người làm kế toán và người làm kiểm toán nên ghi lại
bằng văn bản bản chất của xung đột và nội dung của bất cứ cuộc trao đổi nào đã được thực
hiện hay bất cứ quyết định nào đã ban hành liên quan đến vấn đề đó.
13
Năng lực chuyên môn và tính thận trọng
54. Người làm kế toán và người làm kiểm toán không được thể hiện là có những
khả năng và kinh nghiệm mà bản thân không có.
55. Nguyên tắc về năng lực chuyên môn và tính thận trọng yêu cầu người làm kế toán và
người làm kiểm toán có các nghĩa vụ sau:
a) Duy trì kiến thức và nghiệp vụ chuyên môn đạt yêu cầu quy định đảm bảo cung cấp dịch
vụ chuyên môn tốt nhất cho khách hàng hay chủ doanh nghiệp;
b) Hành động đúng mực, phù hợp với các chuẩn mực về kỹ thuật và nghề nghiệp khi cung
cấp dịch vụ chuyên nghiệp.
Một dịch vụ chuyên nghiệp tốt yêu cầu người làm kế toán và kiểm toán có các xét đoán
đúng đắn khi áp dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn để thực hiện dịch vụ đó.
Năng lực chuyên môn có thể chia thành hai giai đoạn:
a) Đạt được trình độ chuyên môn: Là đạt được bằng cấp xác nhận trình độ được đào
tạo như: trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ hoặc Chứng chỉ kiểm toán
viên, Chứng chỉ hành nghề kế toán… Trình độ chuyên môn có thể còn yêu cầu về
kinh nghiệm làm việc (thời gian thực tế làm nghề).
b) Giữ vững được trình độ chuyên môn:
(i) Giữ vững được trình độ chuyên môn là yêu cầu sự liên tục cập nhật
những thay đổi trong nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, kể cả những công
bố quốc gia và quốc tế về kế toán, kiểm toán, các quy định phù hợp và các
yêu cầu khác của luật pháp.
(ii) Người làm kế toán và người làm kiểm toán cần phải tham gia, ít
nhất là chương trình cập nhật kiến thức hàng năm theo luật định để đảm
bảo kiểm soát chất lượng trong hoạt động cung cấp dịch vụ chuyên
nghiệp, nhất quán với các quy định của quốc gia và quốc tế phù hợp.
• Việc duy trì năng lực chuyên môn yêu cầu quá trình nhận thức liên tục và hiểu rõ
các phát triển về kỹ thuật chuyên môn và các phát triển trong kinh doanh. Sự phát triển
chuyên môn liên tục giúp xây dựng và duy trì các năng lực để người làm kế toán và người
làm kiểm toán thực hiện công việc một cách hành thạo trong các môi trường chuyên nghiệp.
• Tinh thần làm việc thận trọng bao hàm cả trách nhiệm phải hành động theo đúng
các yêu cầu của dịch vụ một cách cẩn thận, kỹ lưỡng và kịp thời.
• Người làm kế toán và người làm kiểm toán cần thực hiện các biện pháp để bảo
đảm rằng những người làm việc về mặt chuyên môn dưới quyền của mình phải được đào
tạo và giám sát thích hợp.
Tính bảo mật
56. Người làm kế toán và người làm kiểm toán có nghĩa vụ tôn trọng nguyên tắc
bảo mật các thông tin về khách hàng hoặc của chủ doanh nghiệp thu được trong
quá trình tiến hành các hoạt động chuyên nghiệp và phải tôn trọng nguyên tắc
bảo mật ngay cả trong các mối quan hệ gia đình và xã hội. Trách nhiệm bảo mật
phải được thực hiện kể cả sau khi chấm dứt mối quan hệ giữa người làm kế toán và
người làm kiểm toán với khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp, tổ chức.
57. Người làm kế toán và người làm kiểm toán cần phải thực hiện nguyên tắc bảo
mật trừ khi thông tin cần được cung cấp cho cơ quan chức năng có liên quan hoặc
trách nhiệm nghề nghiệp hoặc luật pháp yêu cầu phải báo cáo.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét