Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

“Thanh toán quốc tế và một số phương thức thanh toán quốc tế được vận dụng ở Việt Nam

tránh khỏi hoặc hạn chế những tổn thất đó trong các hợp đồng mua bán ngoại thương,
thường được quy định các điều kiện bảo lưu nhằm đảm bảo giá trị thực tế của các khoản
thu nhập khi tiền tệ lên xuống bất thường, đó là điều kiện đảm bảo hối đoái, gồm có:
3.1.2.1. Điều kiện bảo đảm bằng vàng:Hình thức thông thường của điều kiện
đảm bảo vàng là quy định giá cả hàng hoá và tổng giá trị hợp đồng bằng một đồng tiền
nào đó và xác định giá trị vàng của đồng tiền này. Đến thời điểm thanh toán, nếu giá trị
vàng của đồng tiền đó thay đổi thì giá cả hàng hoá và tổng giá trị hợp đồng cũng được
điều chỉnh lại một cách tương ứng. Điều kiện này được áp dụng phổ biến ở chế độ bản
vị vàng. Hiện nay vàng không còn được sử dụng trong lưu thông tiền tệ nữa thì điều
kiện đảm bảo vàng cũng không còn phù hợp.
3.1.2.2. Điều kiện đảm bảo ngoại hối
Có hai trường hợp cụ thể:
- Trong hợp đồng quy định đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán là một loại
tiền, đồng thường xác định tỷ giá của đồng tiền đó với một đồng tiền khác (đồng tiền
tương đối ổn định) làm cơ sở. Đến khi thanh toán nếu tỷ giá giữa hai đồng tiền có thay
đổi thì giá cả hàng hoá và tổng giá trị hợp đồng phải được điều chỉnh lại một cách
tương ứng.
- Trường hợp hợp đồng quy định đồng tiền tính tóan và đồng tiền thanh tóan là hai
đồng tiền. Khi trả tiền căn cứ vào tỷ giá giữa đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán
hình thành ở thị trường. Đây là điều kiện thường được sử dụng trong TTQT hiện nay.
3.1.2.3. Điều kiện đảm bảo theo “rổ” tiền tệ.
Trong điều kiện này người ta phải dựa vào nhiều đồng tiền của nhiều nước để
đảm bảo giá trị thực tế của các khoản thu nhập bằng ngoại tệ trong hợp đồng bảo đó.
Điểm đáng lưu ý là khi áp dụng điều kiện đảm bảo này, các bên phải thống nhất lựa
chọn những đồng tiền nước nào đề đưa vào “rổ” và quy định tỷ giá hối đoái của các
đồng tiền đó so với một đồng tiền được đảm bảo vào lúc ký hợp đồng và vào lúc thanh
toán, để điều chỉnh tổng giá trị của hợp đồng mua bán.
3.1.2.4. Điều kiện đảm bảo căn cứ vào sự biến động của giá cả.
- Căn cứ vào tình hình biến động của chỉ số giá cả mà điều chỉnh số tiền trả trong hợp
đồng cho hợp lý.
5
- Hoặc dựa vào giá linh hoạt, số tiền phải trả căn cứ vào tình hình biến động của giá
cả hàng hoá trên thị trường hay giá thành sản xuất loại hàng hoá đó. Trong tình hình lạm
phát tiền tệ thường xuyên thì điều kiện này có lợi cho người xuất khẩu (nhất là khi ký
kết các hợp đồng dài hạn) và không có lợi cho người nhập khẩu.
3.2 Điều kiện thời gian thanh toán (thời hạn trả tiền)
Điều kiện thời gian thanh toán có liên quan chặt chẽ đến việc luân chuyển
vốn, phi lợi tức và có thể tránh được những rủi ro tổn thất do tỷ giá đồng tiền thanh toán
biến động.
3.2.1 Trả tiền trước
Người mua phải trả một phần hay toàn bộ số tiền hàng trước khi nhận hàng hoá.
Thực chất là người mua đã cấp tín dụng cho người bán.
3.2.2 Trả tiền ngay
Nghĩa là toàn bộ giá trị hàng hoá được thanh toán trong khoảng thời gian kể từ lúc
hàng được chuẩn bị xong để xếp lên tàu đến lúc hàng được đến tay người nhập khẩu
3.2.3 Trả tiền sau
Là sau khi giao hàng một thời gian nhất định người xuất khẩu mới thu được tiền
của người nhập khẩu. Thực chất trường hợp trả tiền của người xuất khẩu cấp tín dụng
cho người nhập khẩu.
3.3 Điều kiện địa điểm thanh toán
Điều kiện địa điểm thanh toán phụ thuộc vào hợp đồng các bên ký kết. Địa điểm
đó có thể ở nước người xuất khẩu, hoặc ở nước người nhập khẩu và cũng có thể ở một
nước thứ ba
3.4 Điều kiện về phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán tức là chỉ người bán dùng cách nào để thu tiền về, người
mua dùng cách nào để trả tiền. Trong buôn bán, người ta có thể lựa chọn về một phương
thức thanh toán khác nhau để thu tiền về hoặc trả tiền, nhưng xét cho cùng việc lựa chọn
phương thức thanh toán nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền
nhanh, đầy đủ và đúng; và xuất phát từ yêu cầu của người mua là nhập hàng đúng số
lượng, chất lượng và đúng hạn.
Đây là điều kiện quan trọng bậc nhất trong các điều kiện TTQT, để đi sâu hơn,
bài viết sẽ đề cập chi tiết hơn về hai vấn đề này ở phần sau.
6
IV. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU
1.1 Phương thức chuyển tiền
1.1.1.Khái niệm:
Là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của
mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địa
điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Các bên tham gia:
- Người trả tiền (người mua) hoặc người chuyển tiền (người đầu tư, kiều bào chuyển
tiền về nước, người chuyển kinh phí ra ngoài nước) là người yêu cầu ngân hàng chuyển
tiền ra nước ngoài.
- Người thụ hưởng (người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư) hoặc là người nào
đó do người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người thụ hưởng.
1.1.2.Nội dung
Khi cần đến chuyển tiền trả cho người hưởng, người chuyển tiền phải viết giấy
uỷ nhiệm cho ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền, ghi rõ:
- Tên và địa chỉ người chuyển tiền
- Số tiền xin chuyển (số lượng, loại tiền)
- Tên và địa chỉ người nhận tiền
- Lý do chuyển tiền
Ngân hàng sau khi nhận được giấy uỷ nhiệm này sẽ nhờ đại lý hoặc chi nhánh của
mình ở nước ngoài để chuyển trả cho người nhận tiển.
1.1.3.Các hình thức chuyển tiền
Chuyển tiền có thể được thực hiện bằng:
- Điện báo: ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở
nước ngoài trả tiền cho người nhận.
- Thư: ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền viết thư (có thể là lệnh chuyển tiền hoặc
là giấy báo có) ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.
1.1.4.Trình tự tiến hành nghiệp vụ:

7
Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng đại lý

(3)
(2) (4)
(1)
(1) Giao dịch thương mại trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau
(2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc bằng điện) cùng với uỷ nhiệm chi
(3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng
(4) Chuyển tiền cho người thụ hưởng
2.Phương thức nhờ thu
2.1 Khái niệm:
Nhờ thu là một phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng sẽ ký phát một hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền
ghi trên tờ hối phiếu đó.
Các bên tham gia:
- Người bán hàng (người xuất khẩu) là người gửi giấy nhờ thu
- Ngân hàng chuyển chứng từ là ngân hàng phục vụ bên người xuất khẩu
- Ngân hàng thu tiền là ngân hàng phục vụ bên người nhập khẩu
- Người mua (người nhập khẩu) là người trả tiền
2.2.Các loại uỷ nhiệm thu và trình tự thực hiện.
Có nhiều cách phân loại uỷ nhiệm thu.
2.2.1Căn cứ vào cách thực hiện, chia ra 2 loại:
- Uỷ nhiệm thu bằng thư
Người nhập khẩu sau khi hoàn thành việc giao hàng (theo hợp đồng) cho nhà
nhập khẩu, lập bộ chứng từ hàng hoá và hối phiếu uỷ nhiệm cho ngân hàng phục vụ
mình đòi tiền người nhập khẩu, thông qua ngân hàng nước nhập khẩu bằng thư uỷ
nhiệm (giấy nhờ thu). Người nhập khẩu sẽ thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán ngay
khi ngân hàng nhập khẩu trao chứng từ.
- Uỷ nhiệm thu bằng điện
8
Người chuyển tiền Người thụ hưởng
Người xuất khẩu uỷ nhiệm cho ngân hàng nước mình thông qua ngân hàng nước
ngoài nhập khẩu để đòi tiền người nhập khẩu bằng cách điện báo thu tiền. Căn cứ vào
điện báo đó người nhập khẩu sẽ trả tiền ngay hoặc chấp nhận khi được ngân hàng phục
vụ mình báo tin mà không căn cứ vào chứng từ hàng hoá
2.1.2.Căn cứ vào nội dung các chứng từ thanh toán uỷ nhiệm thư được chia ra
làm hai loại
- Nhờ thu phiếu trơn
Trình tự thực hiện phương thức thanh toán này như sau:
(3)
(6)
(2) (7) (5) (4)

(1)
(1) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ gửi hàng, gửi thẳng cho
người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu ký phát hối phiếu đòi tiền người nhập khẩu nhờ ngân hàng thu
hộ.
(3) Ngân hàng bên xuất khẩu chuyển hối phiếu sang ngân hàng bên nhập khẩu và
nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
(4) Ngân hàng bên người nhập khẩu chuyển hối phiếu cho người nhập khẩu và yêu
cầu trả tiền.
(5) Người nhập khẩu trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào
thiện chí của họ, nhìn chung họ chỉ trả tiền sau khi đã nhận được hàng hoá.
(6) Ngân hàng bên nhập khẩu chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối thanh
toán cho ngân hàng xuất khẩu.
(7) Ngân hàng bên xuất khẩu chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền
cho người xuất khẩu.
9
Ngân hàng xuất khẩu Ngân hàng nhập khẩu
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu
Trong phương thức thanh toán này, chứng từ hàng hoá tách rời trong quá trình
thanh toán. Nếu như người nhập khẩu không thiện chí thì họ có thể nhận hàng nhưng lại
gây khó khăn trong việc trả tiền. Vì vậy phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn chỉ
được áp dụng trong trường hợp hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng ở
trong nội bộ của một công ty.
- Nhờ thu kèm chứng từ
Nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi
hoàn thành việc giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (gồm chứng từ hàng hoá
và hối phiếu), nhờ ngân hàng thu hộ số tiền trên tờ hối phiếu, với điều kiện người nhập
khẩu trả tiền hoặc chấp nhận thì ngân hàng mới trao chứng từ để người nhập khẩu đi
nhận hàng.
Căn cứ vào thời gian trả tiền, uỷ nhiệm thu chia làm hai loại:
+ Uỷ nhiệm thư trả tiền trao chứng từ (D/P)
Người xuất khẩu sau khi giao hàng, lập đầy đủ bộ chứng từ thanh toán gửi đến
ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ. Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu tiến hành thu
tiền ở người nhập khẩu với điều kiện người nhập khẩu phải trả tiền thì mới trao chứng
từ cho họ để đi nhận hàng.
Phương thức thanh toán này thường được sử dụng trong trường hợp mua bán trả
tiền ngay (hối phiếu trả tiền ngay)
Trình tự thực hiện thanh toán như sau:
(2)

(4)
(1) (5) (3) (3)

(1) Người xuất khẩu sau khi giao hàng cho người nhập khẩu (theo hợp đồng), lập bộ
chứng từ thanh toán (gồm có chứng từ hàng hoá và hối phiếu) gửi tới ngân hàng
ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền.
(2) Ngân hàng bên người xuất khẩu chuyển toàn bộ chứng từ hàng hoá và nhờ thu
sang ngân hàng bên người nhập khẩu, để nhờ thu tiền.
10
Ngân hàng xuất khẩu
Ngân hàng nhập
khẩu
Người xuất khẩu Người nhập khẩu
(3) Ngân hàng bên người nhập khẩu yêu cầu người nhập khẩu trả tiền hối phiếu để
nhận chứng từ. Nếu người nhập khẩu nhất trí trả tiền thì ngân hàng mới trao
chứng từ, nếu họ từ chối trả tiền thì nhân hàng cầm giữ chứng từ lại và báo cho
ngân hàng bên người xuất khẩu biết.
(4) Ngân hàng bên xuất khẩu chuyển trả tiền (hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối) cho
ngân hàng bên xuất khẩu.
(5) Ngân hàng bên xuất khẩu chuyển trả tiền (hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối ) cho
người xuất khẩu.
+ Uỷ nhiệm thư chấp nhận trả tiền trao chứng từ( D/A)
Phương thức này được áp dụng trong hợp đồng mua bán chịu (bằng hối phiếu có
kỳ hạn thanh toán).
Trình tự thực hiện phương thức thanh toán D/A cũng tương tự như D/P, chỉ khác
nhau ở khâu thanh toán. Theo phương thức này người nhập khẩu chỉ phải ký chấp nhận
trả tiền vào hối phiếu (chưa trả tiền ngay) thì sẽ được ngân hàng trao chứng từ để đi
nhận hàng. Khi đến hạn trả tiền ghi trên hối phiếu (30 ngày, 60 ngày hoặc 90 ngày )
người nhập khẩu phải có nghĩa vụ trả tiền cho người nhập khẩu.
So với phương thức nhờ thu phiéu trơn, phương thức thanh toán nhờ thu kèm
chứng từ đựơc đảm bảo hơn vì ngân hàng đã thay mặt người xuất khẩu khống chế
chứng từ.
3. Phương thức ghi sổ
3.1 Khái niệm.
Người bán mở một tài khoản (hoặc 1 quyển sổ) để ghi nợ người mua sau khi
người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm)
người mua trả tiền cho người bán.
3.2.Trình tự tiến hành nghiệp vụ.
(3)
(3) (3)
(2)

11
Ngân hàng bên bán
Ngân hàng bên mua
Người bán Người mua
(1)
(1) Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá
(2) Báo nợ trực tiếp
(3) Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến đầu kỳ thanh toán.
4. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
4.1. Khái niệm
Thư tín dụng ( Letter of Credit – L/C ) là một văn bản cam kết dùng trong thanh
toán, trong đó một ngân hàng ( ngân hàng mở thư tín dụng ) theo yêu cầu của khách
hàng ( người yêu cầu mở thư tín dụng ) mở thư tín dụng uỷ nhiệm cho chi nhánh hay đại
lý của mình ở nước ngoài trả tiền cho một người khác ( người hưởng lợi số tiền của thư
tín dụng – thường là người xuất khẩu ) ghi rõ trong thư tín dụng, một số tiền nhất định,
trong phạm vi thời hạn nhất định với điều kiện là người được hưởng xuất trình đầy đủ
các chứng từ phù hợp các điều kiện quy định trong thư tín dụng.
4.2.Các bên liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ :
a. Người yêu cầu mở thư tín dụng
Còn gọi là người mua người, người nhập khẩu ,người mở L/C ,người phải trích
tài khoản để thanh toán, người uỷ thác.
b.Người hưởng lợi
Là người xuất khẩu, người bán hay người ký phát hối phiếu được hưởng thư tín
dụng do người nhập khẩu mở
c. Các ngân hàng liên quan:
Ít nhất là có hai ngân hàng tham gia.
+ Ngân hàng mở thư tín dụng :là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, phát hành thư
tín dụng theo yêu cầu của người nhập khẩu.
+ Ngân hàng thông báo là ngân hàng có trách nhiệm thông báo cho người xuất khẩu
biết rằng người nhập khẩu đã mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng.
Khi có yêu cầu từ phía ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo có thể xem xét
các điều kiện để tiến hành xác nhận L/C và thanh toán L/C khi được xuất trình bộ chứng
từ phù hợp. Khi đó ngân hàng thông báo này vừa đóng vai trò ngân hàng xác nhận vừa
kiêm thêm vai trò của một ngân hàng thanh toán
Ngoài hai ngân hàng trên, có thể trong L/C còn quy định thêm:
12
Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C đứng ra
xác nhận cho L/C được mở. Thường thì ngân hàng xác nhận là ngân hàng có uy tín trên
thị trường quốc tế. Khi một ngân hàng mở L/C yêu cầu một ngân hàng khác xác nhận
cho mình thì sẽ làm giảm uy tín của nó. Muốn xác nhận ngân hàng mở L/C phải trả thủ
tục phí rất cao và đôi khi còn phải ký quỹ, mức ký quỹ có thể đạt 100% trị giá của thư
tín dụng.
Ngân hàng chỉ định :trong L/C ghi rõ ngân hàng được uỷ quyền để thanh toán,
ngân hàng này sẽ tiến hành thanh toán chấp nhận hối phiếu.
Ngân hàng thanh toán :có thể là ngân hàng mở L/C hoặc một ngân hàng được
ngân hàng mở L/C uỷ thác trả tiền cho người bán. Nếu mở L/C tại nước của người xuất
khẩu thì ngân hàng thanh toán thường là ngân hàng thông báo. Sau khi đã kiểm tra tính
phù hợp của bộ chứng từ hàng xuất, ngân hàng này sẽ quyết định thanh toán hay không.
Ngân hàng chiết khấu: Là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu chưa đến hạn trả tiền
do người bán ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C.Việc
mua này thường đảm bảo là có thể truy đòi, nghĩa là nếu ngân hàng mở không thể thanh
toán cho ngân hàng chiết khấu thì ngân hàng này có thể truy đòi lại khách hàng số tiền
trên.
4.3. Nội dung chủ yếu của một L/C:
+ Số hiệu của L/C: mỗi L/C phải được đánh số để tiện cho việc trao đổi thông tin
giữa các bên có liên quan trong quá trình thực hiện.
+ Địa điểm và ngày mở
+ Loại thư tín dụng: các loại L/C khác nhau sẽ phát sinh những quyền lợi và nghĩa
vụ khác nhau giữa các bên.
+ Tên và địa chỉ của những người có liên quan đến L/C
+ Số tiền của L/C: số tiền phải được ghi cả bằng số và bằng chữ, đồng thời phải ghi
rõ đơn vị tiền tệ.
+ Thời hạn hiệu lực của L/C
+ Thời hạn trả tiền của L/C: liên quan đến việc trả tiền ngay ( D/P ) hay trả tiền sau (
D/A ), phụ thuộc quy định của hợp đồng.
+ Thời hạn giao hàng :do hợp đồng ngoại thương quy định.
13
+ Ngoài ra, trên L/C cũng phải ghi chi tiết các nội dung liên quan đến hàng hoá: tên
hàng, số lượng hàng, trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu
+ Các nội dung liên quan đến vận chuyển, giao nhận hàng hoá: điều kiện gửi hàng
( FOB, CIF, ), nơi gửi hàng, giao hàng, phương tiện vận chuyển, cách giao hàng.
4.4. Các hình thức của thư tín dụng:
- căn cứ vào công dụng của thư tín dụng :
+ Thư tín dụng có thể huỷ ngang :là loại L/C mà ngân hàng mở L/C và tổ chức nhập
khẩu có thể sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người
hưởng lợi. Loại thư tín dụng có thể huỷ ngang này ít được sử dụng bởi vì L/C có thể
huỷ bỏ chỉ là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết trả tiền cho người hưởng lợi.
+ Thư tín dụng không thể huỷ ngang : là loại L/C mà ngân hàng mở L/C phải có
trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu trong thời gian hiệu lực của L/C,
không được quyền đơn phương tự sửa dổi hay huỷ bỏ thư tín dụng đó.
+ Thư tín dụng xác nhận : là L/C không huỷ ngang và được một ngân hàng khác có
uy tín hơn đứng ra đảm bảo việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với ngân hàng mở
L/C. Nghĩa là ngân hàng chịu trách nhiệm thanh toán cho tổ chức xuất khẩu nếu như
ngân hàng mở L/C đó không thể trả tiền được
- Căn cứ vào thời hạn thanh tóan của thư tín dụng
+Thư tín dụng trả ngay:là loại L/C không thể hủy ngang và phải thanh tóan ngay khi
hối phiếu đuợc xuất trình.Rủi ro trong loại thư tín dụng này là thương fphải thanh tóan
trứoc khi nhận hàng,vì hối phiếu và bộ chứng từ thường đến trước khi hàng nhập cảng.
+Thư tín dụng trả chậm: là loại L/C không thể hủy ngang trong đó quy định ngân
hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn
bộ số tiền của L/C vào thời hạn cụ thể ghi trên L/C sau khi nhận được chứng từ và
không cần có hối phiếu.
+Thư tín dụng trả dần:là loại thư tịn dụng không thể hủy ngang trong đó quy định
người hưởng sẽ được thanh toán dần tòan bộ số tiền của L/C theo những thời hạn đã
quy định rõ trong L/C đó.
+Thư tín dụng chấp nhận:là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành L/C thực hiện
chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định bên thứ ba chấp nhận hối phiếu,với điều kiện người
thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét