Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Những han chế trong quá trình đổi mới

hoảng bất ổn để gây rối loạn kinh tế như bọn đầu cơ tích trữ. Nạn trộm
cắp, lừa đảo xảy ra ở nhiều nơi khiến cuộc sống của người dân không
được yên ổn. An ninh chính trị ngày càng bất ổn định. Tình hình trên đe
doạ sự tồn tại của nền chuyên chính vô sản. Với thưc trạng đất nước như
vậy khiến cho người dân không thể không đặt ra câu hỏi là liệu chế độ
chuyên chính vô sản có đưa nước Nga đạt tới sự phát triển bền vững hay
không và có thực sự đem lại dân chủ bình đẳng, tự do hạnh phúc cho đời
sống nhân dân hay không?
Nhà nước Xô Viết đã phải thực sụ đương dầu với những thử thách
vô cùng gay go phức tạp. Việc giải quyết những vấn đề đó không phải là
dễ dàng. Giai cấp vô sản đứng lên lãnh đạo chưa lâu chưa có kinh nghiệm
quản lý và lãnh đạo, đặc biêt lãnh đạo một đất nước có nhiều giai cấp
cùng song song tồn tại một quốc gia đa dân tộc rộng lớn. Mặt khác ban
lãnh đạo còn xuất hiện những ý kiến khác nhau, nên khó thống nhất hoạt
động trong khi nội chiến chưa kết thúc, tình hình chính tri vô cùng rối
ren, trong khi kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng.
3. Ngyên nhân:
**. Cơ sở lý luận và sự cần thiết của một chính sách mới:
Trong qúa trình chiến đấu và chiến thắng của nhà nước Xô -Viết suốt bảy
thập kỷ qua, mùa xuân năm 1921 đã đi vào lịch sử Liên Xô và lịch sử chủ
nghĩa xã hội thế giới như một bước ngoặt: Đảng cộng sản và Nhà nước
Xô- Viết trẻ tuổi ban hành chính sách “Kinh tế mới”.
Cuối năm 1920 tình hình kinh tế bị chi phối bởi một mạng lưới dày đặc
các quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa. Quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa chủ yếu
tồn tại trong nông thôn (dân số nông thôn chiếm 82, 4% dân số, kinh tế
nông nghiệp chiếm 51, 4% thu nhập quốc dân) đặc điểm này được Lê-nin
rất chú ýphân tích khi Người vạch ra chiến lược tình thế giải quyết cuộc
khủng hoảng và chiến lược lâu dài xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặt đúng
vị trí của vấn đề nông dân và nông nghiệp trong chiến lược và sách lược
của Đảng có ý nghĩa quyết định đến bảo vệ những thành quả của cách
mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trước đây, chính quyền Xô -Viết đứng vững được trong nội chiến và sự
can thiệp của nước ngoài là nhờ tinh thần hy sinh của nhân dân, trước hết
là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Nhiệt tình cách mạng của
quần chúng là động lực duy nhất trong chiến đấu và chiến thắng.
Sau chiến tranh, giai cấp nông dân vẫn là người chủ yếu nuôi sống đất
nước, đời sống của họ lại đang thiếu thốn, khó khăn. Nếu Đảng giữ được
nhiệt tình cách mạng và lòng tin của họ thì bảo vệ được cách mạng.
Ngược lại nếu làm mất lòng tin của họ thì sự nghiệp cách mạng sẽ hết sức
nguy hiểm. Giữ được lòng tin lúc này có nghĩa là phải tìm ra động lực của
thời kỳ xây dựng. Xuất phát từ sự phân tích đó, Lê- nin đã chỉ ra rằng:
Phải bắt đầu từ nông dân và nông nghiệp, phải cải thiện đời sống của
người lao động trên cơ sở xây dựng quan hệ kinh tế bình thường giữa
5
nông nghiệp và công nghiệp, củng cố liên minh công nông trên cơ sở
kinh tế nhằm lôi cuốn những người sản xuất nhỏ vào việc xây dựng đất
nước và đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có một chính sách như vậy mới tạo
được tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng
của Lê-nin đã đóng vai trò quyết định trong việc đưa lý luận mác-xít về
thời kỳ quá độ vào thực tiễn cuộc sống và làm phong phú thêm lý luận
đó. Nhờ tư tưởng ấy mà Đảng đã sửa chữa được những sai lầm trong thời
kỳ đó.
Sau chiến tranh, khi những hy vọng trông chờ vào việc cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần không không được đáp ứng thì lòng tin giảm dần và
sự bất mãn bắt đầu tăng lên. Đó là điều kiện để bọn phản cách mạng lừa
dối quần chúng, tập hợp lực lượng hòng tấn công vào chính quyền Xô-
viết non trẻ
Những sai lầm chủ quan của người cộng sản cũng là một thực tế phải giải
quyết đồng thời với việc giải quết mâu thuẫn khách quan. Trong những
năm tháng cần thiết phải áp dụng “chính sách cộng sản thời chiến “ đã
hình thành về quan niệm khả năng quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội.
Những chủ trương chính sách sai lầm bắt nguồn từ quan niệm nôn nóng
muốn chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội, đã làm cho thành phần kinh
tế chủ nghĩa xã hội sa sút. Lực lượng sản xuất hiện có không thể sử dụng
và mất mát, hao mòn. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chỉ là hình thức
bề ngoài, xơ cứng và khô héo dần. Nhiều chủ trương biện pháp quá đáng
ra đời từ quan niệm này là một trong những nguy cơ làm tăng khủng
hoảng.
Chính sách kinh tế là cả một cơ chế nhằm phục hồi và phát triển
kinh tế nước Nga đồng thời củng cố vững chắc nền chuyên chính vô sản.
Nền kinh tế có phát triển hay không sẽ qyuết định sự ổn định bền vững
của hệ thống chính trị. Chính sách kinh tế mới được thực hiện với mục
đích khắc phục tình trạng kiệt quệ của nền kinh tế nước Nga và đưa nó
vào quỹ đạo phát triển trong thời kỳ quá độ nên chủ nghĩa xã hội cũng có
nghĩa là giúp cho chế độ chính trị được ổn định. Một nền kinh tế mạnh là
điều kiện kiên quyết để đạt được một chế độ chính trị vững vàng. Khi lợi
ích kinh tế của các giai cấp trong xã hội được đáp ứng một cách tương đối
công bằng thì mâu thuấn với chính trị sẽ đực giải quyết. Muốn nghiên
cứu nội dung của chính sách này, ta phảI đặt chúng trong mối quan hệ tác
động qua lại với nhau. Mối một khâu trong chính sách cần phải thấy rõ ý
nghĩa của thếu lương thực một bước đI dúng đắn của nhà nước Nga trong
con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thếu lương thực cho phép nông
dân có sản phẩm thừa đem trao đổi. Đây hoàn toàn không phải là đi
ngược với mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, nước Nga vừa mới trải
qua chiến tranh, lương thực thiếu. Nếu tiếp tục thực hiện chính sách
lương thực cũ, mà nhà nước độc quyền mua bán lương thực thì chỉ làm
cho nông nghiệp thêm sa sút mà thôi bởi chính sách cũ không còn phù
6
hợp trong đIều kiện mới nữa. Chủ nghĩa cộng sản là mục tiêu hướng tới
của cách mạng vô sản như sử dụng biện pháp nào, cách thức nào để từng
bước đạt được mục tiêu đó lại còn phụ thuộc hoàn cảnh thực tiễn, không
thể ngay một lúc thực hiện phân phối theo phương thức cộng sản chủ
nghĩa. Thuế lương thực là bước đấu tiên tạo cơ sở vật chất cho việc tiếp
tục thực hiện mục tiêu của cách mạng vô sản. Theo như Lê-nin đã nói:
“Thuế lương thự là một trong những hình thức của bước quá độ từ chủ
nghĩa cộng sản quân sự - chủ nghĩa cộng sản đặc biệt do tình trang cùng
khốn cực độ, tình trạng hoang tàn và chiến tranh buộc chúng ta phải thi
hành, để bước sang chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình thường. Và chế
độ này là một hình thức của bước quá độ từ chủ nghĩa xã hội với những
đặc thù do tình trạng tiểu nông chiếm ưu thế trong dân chúng tạo nên,
sang chủ nghĩa cộng sản”. Chỉ có chính sách lương thực như thế mới phù
hợp với nhiệm vụ của giai cấp vô sản đang thực hiện quyền chyên chính
của mình trong một nước tiểu nông.
Nhà nước Xô Viết đã thực sự phải đối mặt với những thử thách vô
cùng gay go phức tạp. Viêc giải quyết tất cả những vấn đề đặt ra không
phải là dễ dàng. Giai cấp vô sản nắm chinh quyền chưa được bao lâu, ít
nhiều còn chưa có kinh nghiệm trong lĩnh đạo và quản lý, đặc biệt là quản
lý một đất nước rộng lớn với cơ cấu giai cấp phức tạp như nước Nga. Mặt
khác, trong ban lãnh đạo xuất hiện những ý kiến, quan điểm khác nhau
nên khó thống nhất hoạt động. Khi nội chiến kết thúc tình hình chính trị
rối ren cũng là điều khó tránh khỏi trong bối cảnh một nền kinh tế đang
khủng hoảng trầm trọng.
Tình hình thực tế trên đây buộc nhà nước Xô-Viết phải xem xét lại
đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải chăng những việc làm trước
đó của nhà nước là đúng đắn, phù hợp với những lý luận về thời kỳ quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội? Chính sách kinh tế Cộng sản
thời chiến được thi hành kéo dài quá mức gây nên những khủng hoảng là
một đIều không thể tránh khỏi. Nó không phải là một giai đoạn tất yếu
trong chính sách kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mặt
khác bản thân nhà nước Xô-Viết cũng nóng vội muốn chuyển trực tiếp
lên chủ nghĩa xã hội không thích ứng với tính chất và trình độ cuẩ lực
lượng sản xuất thì tất yếu không thể tranh khỏi những thiếu sót và thực tế
những thiếu sót đó đã tạo ra những lỗ hổng lớn trong quá trình phát triển
kinh tế. Chính vì quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất trình độ
của lực lượng sản xuất nên khủng hoảng mới xảy ra. Quyền sở hữu, quản
lý và tổ chức sản xuất đều thuộc nhà nước trong khi lưc lượng sản xuất
chậm phục hồi, các cơ sở sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật bị chiến tranh
tàn phá. Trước chiến tranh nước Nga có nền đại công nghiệp phát triển
mạnh nhưng trải qua chiến tranh, đại công nghiệp mạnh đó không còn
nữa. Phân phối lại mang nặng chủ nghĩa bình quân, những kích thích về
lợi ích kinh tế bị hạn chế tới mức tối thiểu trong toàn bộ nền kinh tế hầu
7
như chỉ tồn tạI hình thức kinh tế nhà nước. Tính năng động của cá nhân
không được phát huy. Tính xã hội hoá sản xuất lạI bị cản trở bởi nông
nghiệp và công nghiệp tách rời nhau. Hinh thức sở hữu nhà nước cùng
với việc tổ chức quản lý kém năng động và phân phối mang chủ nghĩa
bình quân không thể phù hợp với lực lượng sản xuất đăng nằm trong giai
đoạn chậm phục hồi do bị chiến tranh tàn phá. Nhìn chung, thì tình trạng
nước Nga bây giờ chứng tỏ một đIều là những chính sách mà nước Nga
đang thực hiện là không hợp thời, không thích ứng với đIều kiện đất nước
bây giờ. Chính sách kinh tế Cộng sản thời chiến đã giúp nước Nga đứng
vững trong chiến tranh nhưng điều đó không có nghĩa là nó sẽ tiếp tục
đem lạI cho nước Nga sự phục hồi và phát triển trong đIều kiện hoà bình.
Thực tế đã chứng minh là việc kéo dài thực hiện chính sách này chỉ làm
cho nước Nga càng chìm sâu trong cuộc khủng hoảng kinh tế mà thôi.
Nếu muốn tiếp tục thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì tất yếu nhà
nước phải xây dựng một chinh sách mơí phù hợp với quy luật kinh tế của
thời kỳ quá độ. Chính sách đó phải khác phục được tính ỳ của nền kinh tế
nước Nga phải đưa công nghiệp và nông nhiệp trở lại với mối quan hệ
trao đổi qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, qua đó củng cố vững chắc khối liên minh
công- nông. Khi đã khắc phục được những khó khăn trong kinh tế thì giải
quyết vấn đề chính trị sẽ dễ dàng hơn.
Năm1918, Lê-nin đã đề ra kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng
việc thực hiện đã bị hoãn lại do chiến tranh. Giờ đây, khi chiến tranh đã
qua đi và trước thực trạng đất nước đang trong tình trạng khủng hoảng, kế
hoạch đó phải được tiếp tục thực hiện. Có thể nói, đây là giải pháp duy
nhất mà nhà nước Xô-Viết có thể tiến hành để đưa đất nước thoát khỏi
cuộc khủng hoảng và tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại
hội X của Đảng cộng sản Bônsêvic Nga họp tư ngày 8 đến ngày16-3-
1921 đã ban hành chính sách kinh tế mới (NEP).
II. Nội dung của chính sách kinh tế mới.
Chính sách kinh tế mới là cả một cơ chế kinh tế nhằm phục hồi và
phát triển kinh tế nước Nga đồng thời củng cố vững chắc nền chuyên
chinh vô sản. Nền kinh tế có phát triển hay không sẽ quyết định sự ổn
định vững chắc của hệ thống chính trị chính sách kinh tế mới đ ược thực
hiện nhằm khắc phục tình trạng kiệt quệ của nền kinh tế nước Nga và
đưa nó vào quỹ đ ạo phát triển trong thời kỳ quá đ ộ lên Chủ Nghĩa Xã
Hội. Một nền kinh tế mạnh là điều kiện để đạt được một chế đ ộ chính trị
vững vàng. Khi lợi ích kinh tế của các giai cấp được đáp ứng một cách
công bằng thì mâu thuẫn chính trị sẽ giảm bớt –đem lại sự ổn định về xã
hội. Nghiên cứu chính sách kinh tế này ta phảI đ ặt chúng trong mối quan
hệ liên hoàn với nhau
1. Thuế lương thực
8
Thuế lương thực là một trong những hình thức của bước quá độ chủ
nghĩa từ chủ nghĩa “ cộng sản quân sự ”, chủ nghĩa cộng sản đặc biệt do
tình trạng cùng khốn cực độ tình trạng hoang tàn và chién tranh buộc
chúng ta phảI thi hành - để bước sang chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa
bình thường. Và chế độ này là một trong những hình thức của bước
quáđộ từ chủ nghĩa xã hội - với những đặc thù do tình trạng tiểu nông
chiếm ưu thế trong dân chúng tạo nên – sang chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa “cộng sản quân sự ” có đIều này đặc biệt là thực tế chúng
ta đã lấy ở nông dân tất cả những lương thực của họ và có khi cả những
lương thực không phải là thừa mà là một phần cần thiết cho sự sống của
họ. Như vậy là để cung cấp cho quân đội và công nhân chúng ta phảI lấy
đI một phàn nguồn sông của nông dân. Nếu không thế chúng ta đã không
thể thắng được bọn địa chủ vá tư bản trong xứ nông nghiệp tiểu nông suy
tàn này và bọn đế đế quốc bên ngoàI. Nhưng cần phải hiểu cho đúng mức
độ của thành tích ấy. Chiến tranh và tình trạng hoang tàn buộc chúng ta
phảI thi hành chủ chủ nghĩa “cộng sản quân sự ”. Nó không phải là một
chính sách phù hợp với nhiêm vụ kinh tế của giai cấp vô sản. Đó là một
biện pháp tạm thời. Đối với giai cấp vô sản đang thực hiện quyền chuyên
chính của mình trong một nước tiểu nông thì một chính sách đúng là phải
tổ chức việc trao đổi những sản phẩm công nghiệp cần thiết cho nông dân
để lấy lúa mì. Chỉ có chính sách ấy mới phù hợp nhiệm vụ của giai cấp
vô sản chỉ có chính sách đó mới tăng cường được cơ sở của chủ nghĩa xã
hội và dưa chủ nghĩa xã hội lên chỗ toàn thắng. Vì vậy đặt ra yêu cầu
thực hiện “thuế lương thực ” để giảI quyết tình hình thực tế của đất nước.
Đây là bước đầu tiên quan trọng trong cơ chế kinh tế của chính sách
kinh tế mới. sở dĩ như vậy bời vì trong điều kiện nước Nga bây giờ, đại
công nghiệp đã mất đi vị thế kinh tế trước đây của nó, tiểu nông nghiệp
tuy khó phat huy vai trò song không phải là ngành tạo ra khối lượng sản
phẩm lớn đáp ứng nhu cầu cấp bách của đất nước, thương nghiệp hầu như
không tồn tại chỉ có nông nghiệp là nguồn chính chủ yếu “nuôi sống”
quốc gia. Mặc dù vậy ngành nông nghiệp cũng đã bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, vì vậy để khôI phục nền kinh tế cần tiến hành khôI phục sản
xuất nông nghiệp đầu tiên. có khôI phục sản xuất lương thực thì mới cảI
thiện đời sống nhân dân, trong điều kiện bây giờ lương thực là nhu cầu
cấp thiết đối với nước Nga. Theo như Lênin đã nói:”Muốn cảI thiện đời
sống công nhân thì phảI có bánh mì và nhiên liệu. Đứng về phương diện
toàn bộ nền kinh tế quốc dân của chúng ta mà nói thì hiện nay điêù
chướng ngại nhất là ở đó. nhưng chúng ta chỉ có thể tăng thêm sức sản
xuất và thu hoạch lúa mì tăng thêm sự dự trữ và vân taqỉ nhiên liệu bằng
cách cảI thiện đời sống của nông dân- bằn cach nâng cao sức sản xuất của
họ ”. Bên cạnh đó thực tế cũng cho they rằng kinh tế nông nghiệp suy sụp
một cách nghiêm trọng lực lượng sản xuất nông nghiệp bị lung lay, lòng
tin của nông dân đối với chính quyền Xô Viết bị giảm sút, tình trạng đầu
9
cơ tích luỹ tràn lan vì vậy việc chỉnh đốn lại nền sản xuất nông nghiệp là
một yêu cầu cấp bách. chính sách kinh tế Cộng sản thời chiến kéo dài,
với nội dung trưng thu lương thực thừa đã thủ tiêu nhưng kích thích đối
với nông dân, kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Do đó tất yếu nó
phảI được thay thế bằng một chính sách kinh tế mới nhằm sửa chữa
nhưng sai sót mà nền kinh tế thời chiến ngây nên cho nông nghiệp nói
riêng và cho nền kinh tế nói chung.
Thuế lương thực được thực hiện thống nhất từ tháng 5/1923 với hình
thức hỗn hợp bằng hiện vật hoặc bằng tiền tệ (từ năm 1924 bằng hiện vật
là chủ yếu). Mức thuế được thu phân biệt đói với các hộ nông dân: Đối
với bần nông thì thu thuế bằng 1. 2% thu nhập, với trung nông thu bằng
3. 5% thu nhập, với phú nông thu bằng 5. 6% thu nhập. Ngoài ra người
nông dân có thể tự do buôn bán lúa gạo sau khi đã nôp đủ thuế.
2. Khôi phục và phát triển sản xuất trao đổi hàng hoá giữa
thành thị và nông thôn giữa công nghiệp và nông nghiệp:
Đổi cho tiểu nông tất cả những sản phẩm mà họ cần dùng do nền đại
công nghiệp xã hội chủ nghĩa cung cấp để lấy lúa mì và nguyên liệu. Đó
là chính sách hay nhất, hợp lý nhất và đó là chính sách mà ta bắt đầu thi
hành. Nhưng chúng ta không thể đổi cho họ tất cả sản phẩm, không thể
như thế đựơc và cũng không thể làm sớm như thế được. Vậy chúng ta
phảI làm thế nào. Hoặc là tìm cách ngăn cấm, bao vây đến cùng mọi sự
phát triển của mậu dịch tư nhân, không phải là của nhà nước nghĩa là mọi
sự phát triển của tư bản thương mại bước phát triển tất nhiên phảI xảy ra
hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một hành động dại dột tự
sát đối với đảng nào tìm cách áp đặt nó. Dại dột vì về phương diện kinh tế
chính sách ấy không thể nào thực hiện được; tự sát vì những đảng nào
thực hiện chính sách như thế nhất định sẽ bị “phá sản”. Trong điều kiện
hiện nay không thể xoá bỏ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và càng
không thể “chỉ có một thị trường tiêu thụ sản phẩm là nông thôn ”. Làm
như vậy sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Vậy chúng ta
phải làm thế nào ?
Cải thiện đời sống của nhân dân là việc đầu tiên cần nhưng nếu chỉ
dựa vào nền nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp, thì không thể cân đối
phát triển kinh tế. Thuế lương thực được thi hành đã tạo đIều kiện cho
người nông dân hăng hái tham gia sản xuất, tạo ra ngày càng nhiều nông
sản nhưng không có trao đổi hàng hoá thì chính sách thuế lương thực sẽ
tự đánh mất tác dụng kích thích lợi ích vật chất của nó. Thuế lương thực
có nghĩa là tự do bán số lương thực còn thừa (của nông dân sau khi họ đã
nộp song thuế), thì chúng ta phải cố sức hướng sự phát triển ấy của chủ
nghĩa tư bản, vì sự tự do buôn bán, tự do thương mại chính là sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản. Chính sách kinh tế mới với nội dung mở rộng
trao đổi hàng hoá giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa thành thị và
10
nông thôn đã đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của sản xuất và tiêu dùng
trong công nông nghiệp nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung. Nó
cho phép người nông dân được tự do trao đổi, buôn bán nông sản để lấy
sản phẩm công nghiệp. Nông nghiệp cần máy móc thiết bị để tiến hành
sản xuất còn lương thực cần cho đời sống của công nhân, các ngành công
nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm cũng cần nguyên liệu để duy trì
hoạt động sản xuất. Những nhu cầu đó chỉ có thể được đáp ứng thông qua
trao đổi hàng hoá giữa hai ngành. Nói chung lại, trao đổi hàng hoá là cầu
nối để gắn kết công nghiệp với nông nghiệp nhằm hỗ trợ nhau thú đẩy
quá trình phụ hồi và phát triển lực lượng sản xuất. Sản xuất nông nghiệp
mang tính chất hàng hoá sẽ mang lại lợi ích cho người nông dân nhiều
hơn so với sản xuất tự cung tự cấp. Trao đổi hàng hoá mang lại sự năng
động cho công nghiệp và nông nghiệp, hai ngành hỗ trợ nhau tự cải tiến
sản xuất đẻ đáp ứng nhu cầu trao đổi. trước đây, do yêu cầu phục vụ quân
đội trong chiến tranh sản phảm làm ra đều thuộc quyền quản lý và phân
phối của nhà nước trao đổi hàng hoá bị cấm. khi bước sang thời kì kiến
thiết đất nước trong hoà bình công nghiệp và nông nghiệp không chỉ đơn
thuần sản xuất ra sản phẩm mà là sản xuất hàng hoá phải tính đến sản
lượng và chất lượng sản phẩm để việc trao đổi được chấp nhận. Mặt khác
yêu cầu của công cuộc khôi phục đất nước và xây dung chủ nghĩa xã hội
là công nghiệp và nông nghiệp phải gắn bó chặt chẽ với nhau. Đây là hai
ngành chủ chốt trong nền kinh tế quốc dân, nếu như mỗi phát triển theo
một hướng riêng lẻ, không ăn khớp với nhau thì hẳn là sẽ nảy sinh sự mất
cân đối, sự lệch lạc trong phát triển. Bên cạnh đó trao đổi hàng hoá được
thực hiện giữa thành thị và nông thôn đã làm sống động lại toàn độ sinh
hoat xã hội thu hẹp khoảng cách về mức sống, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của người dân ở hai khu vực này. Đó chính là mục đích khâu thứ hai
trong chính sách kinh tế mới.
Như vậy vấn đề khôi phục và phát triển sản xuất trao đổi hàng hoá
giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn là vấn đề
tất yếu phải được thực hiện trong cơ chế kinh tế của chính sách kinh tế
mới. Tuy nhiên. Từ đó lại nảy sinh ra một vấn đề cần giải quyết. Đó là
việc khôi phục phát triển hàng hoá trong nông nghiệp sẽ kéo theo sự khôi
phục và kích thích xu hướng Tư Ban chủ nghĩa. Bàn luận về vấn đề này
LêNin cho rằng đó là một tất yếu không tránh khỏi nhưng không nên vì
thế ngăn chặn sự phát triển của trao đổi hàng hoá. Xu hương Tư Bản chủ
nghĩa sẽ nhờ nó mà khôI phục, điều này là đúng. Tuy nhiên nó khôi phục
ở mức độ nào thì điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự quản lý của nhà
nước Nga. Xu hướng này phảI được kiểm soát chặt chẽ bằng cách sử
dụng hình thức kinh tế” chủ nghĩa Tư Bản nhà nước”. Nhà nước liên kết
với tư nhân trong sản xuất và bằng những chính sách, những quy định về
kinh tế hướng nó vào quỹ đạo thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc
11
ngăn chặn xu hướng ấy sẽ có hại cho công cuộc khôI phục và phát triển
nền kinh tế. Để đảm bảo lợi ích của Chủ Nghĩa Xã Hội thì phải phát triển
Chủ NghĩaTư Bản nhà nước và trao đổi hàng hoá để phát triển lực lượng
sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp.
Tóm lại, việc khôi phục và mở rộng sản xuất trao đổi hàng hoá giữa
công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn là đúng đắn và
hợp lý. Nó là một đòn bẩy quan trọng cho sự phát triển sản xuất lương
thực nói riêng và sản xuất công nông nghiệp nói chung. Đồng thời thông
qua trao đổi, tác dụng của thuế lương thực được phát huy hơn nữa. Nó thể
hiện sự phù hợp với quy luật kinh tế của thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa
Xã Hội.
3. Tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của
nông nghiệp:
Muốn trao đ ổi hàng hàng hoá đ ược thực hiện thông suốt, bên cạnh
việc khuyến khích nông dân tích cực sản xuất còn phải tính đ ến việc khôi
phục công nghiệp. Để có đủ hàng hoá trao đổi với nông dân thì công
nghiệp phải phục hồi và phát triển. Do chiến tranh tàn phá sản xuất công
nghiệp đang sa sút thiếu nguyên liệu công nhân thất nghiệp tràn lan, thiếu
lương thực. Kỷ luật lao động lỏng lẻo, năng xuất lao động thấp. Giai cấp
công nhân bị phân tán và đang cò nguy cơ mất dàn bản chất giai cấp - mất
đi ý chí đấu tranh. Việc tổ chức lại nền sản xuất đại công nghiệp là một
yêu cầu cấp bách. Trước chiến tranh nước Nga đ ã từng có một nền đại
công nghiệp rất phát triển. Nhưng trải qua một thời gian dài với biến cố
chiến tranh, đại công nghiệp không còn là thế mạnh của nền kinh tế nước
Nga nữa. Lực lượng sản xuất trong công nghiệp đ ang còn trong tình
trạng thấp kém do cơ sở kỹ thuật chưa kịp phục hồi. Vấn đ ề này đ ặt ra là
phảI sắp xếp lại, tổ chức lại cơ cấu ngành công nghiệp, khai thác thế
mạnh của từng ngành để phát huy vai trò của công nghiệp và giai cấp
công nhân trong khôI phục kinh tế đất nước. Do yêu cầu của ngành công
nghiệp cần máy móc trang thiết bị kỹ thuật để sản xuất nên công nghiệp
phải phục hồi nhanh chóng để tạo cân đối giữa hai ngành, kịp thời hỗ trợ
nông nghiệp trong sản xuất.
Với việc làm này, nhà nước đ ã thực sự khẳng đ ịnh vai trò quan
trọng của mình. Để khôi phục sản xuất công nghiệp nhà nước đã trợ giúp
vốn cho các cơ sở sản xuất, tạo công ăn việc làm thu hút nhân công, ổn
định sản xuất. Đây là việc làm kịp thời đã khắc phục tình trạng thất
nghiệp tràn lan, tình trạng thiếu vốn để cải tiến thiết bị –nâng cao sản
xuất.
Viêc khôi khôi phục sản xuất trên trang thiết bị cũ cũng là việc nên
làm trong điều kiện hiện nay. Trước đ ây khi nước Nga thực hiện chính
sách kinh tế thời chiến đã quốc hữu hoátoàn bộ xí nghiệp vừa và nhỏ. Nhà
nước kiển soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm không những với đại
công nghiệp mà ngay với cả tiểu công nghiệp. Khi thực hiện chính sách
12
kinh tế mới nhà nước chỉ sử dụng một phần các xí nghiệp trước đây đã
quốc hữu hoá, phần còn lại cho tư nhân mua hoăc thuê lại dưới một hình
thức tô nhượng đ ể tư nhân tự do kinh doanh. Đây là một việc làm đ úng đ
ắn bởi trong đ Iều kiện lực lượng sản xuất chậm phục hồi mà chỉ thừa
nhận một hình thức kinh tế là kinh tế nhà nước thì thật là sai lầm. Trình đ
ộ của lực lượng sản xuất chưa cho phép xây dung một quan hệ sản xuất
như vậy. Việc nhà nước công nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân là một
việc làm hợp với đ Iều kiện khách quan của xã hội trong quá trình tiến lên
chủ nghĩa cộng sản.
Quá trình khôI phục và phát triển công nghiệp đ ược tiến hành trình
tựtừ công nghiệp nhẹ đ ến công nghiệp nặng. Công nghiệp nhẹ ưu tiên
những ngành gắn bó với nông nghiệp và nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm.
Công nghiệp nặng chú trọng vào công nghiệp năng lượng nhưnh vẫn cân
đ ối với các ngành công nghiệp nặng khác. Bước đI đầu tiên của quá trình
khôI phục công nghiệp mà chính sách kinh tế mới đ ề ra là xuất phát từ
nhu cầu nông nghiệp và nông thôn. KhôI phục công nghiệp bắt đ ầu từ
công nghiệp thực phẩm, chế biến nông sản. Dưới tác dụng của thuế lương
thực, nông sản sản xuất ra ngày càng đòi phảI có nơI tiêu thụ. Phát triển
công nghiệp nhẹ chính là đ áp ứng đ òi hỏi đó. Sự quan tâm đ ầu tư của
nhà nước, và sự cung cấp nguyên liệu của nông nghiệp sẽ đ ảm bảo cho
phục hồi nhanh chónh công nghiệp nhẹ. Như Lê-Nin đã phân tích, để cảI
thiện đ ời sống của công nhân thì phảI có bánh mỳ và nhiên liệu. Thuế
lương thực đ ã giảI quyết được một phần yêu cầu đó. Để khắc phục tình
trạng thiếu nhiên liệu cho sản xuất và sinh hoạt Nga chủ trương phát triển
công nghiêp nặng và dành phần lớn vốn đầu tư cho công nghiệp năng
lượng góp phần khắc phục và cảI thiện nó về cơ bản. Chúng ta có thể thấy
rằng chính sách kinh tế mới của Lê-Nin đ ề ra là rất hợp lý và chặt chẽ.
Nó đ ã tạo đIều kiện cho nước Nga phát triển, từng bước tháo ngỡ những
khó khăn khắc phục những hậu quả do chiến tranh gây ra. Đặc biệt, trong
chính sách kinh tế mới, nền sản xuất công nghiệp đ ã đ ược tổ chức lại
với cơ cấu nhiếu thành phần. Kinh tế tư nhân được phục hồi. Nước Nga
trước đây đã phát triển với nền đại công nghiệp rực. Đến giai đoạn này,
trong quá trình xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội không thể ngay một lúc xoá
bỏ sở hữu tư nhân mà phảI công nhận sự tồn tại của nó là một tất yếu
khách quan. Đó mới là việc làm hợp với quy luật kinh tế. Thời kì quá đ ộ
lên Chủ Nghĩa Xã Hội. là thời kỳ đ ấu tranh giữa hai thế lực, một bên là
Chủ NghĩaTư Bản chưa bị tiêu diệt, một bên là Chủ Nghĩa Xã Hội còn
non yếu. Thực tế cho thấy không thể không thể chỉ tồn taị một thành phần
kinh tế nhà nước là duy nhất. Vì lợi ích của toàn xã hội nhà nước Xô
-Viết phảI chấp nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân. Sự tồn tại nhiều thành
phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan và nhà nước
Nga là áp dụng chính sách kinh tế mới là hoàn toàn đ úng đắn. Trong thờ
kỳ thực hiện chính sách này kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đ ạo và
13
chiếm ưu thế hơn hẳn so với các thành phần kinh tế khác. Bên cạnh đ ó,
hình tư kinh tế tư bản nhà nước –một sự đ ổi mới trong chính sách kinh tế
của nước Nga –“là những mắt xích trung gian. Có thể tạo đIều kiện
thuận lợi cho bước nước Nga nhanh chóng phục hồi sản xuất tăng trưởng
kinh tế ”. Nhà nước hợp tác với tư nhân trong sản xuất công nghiệp :tư
nhân là trung gian phân phối sản phẩm cho nhà nước, nhà nước cho tư
nhân thuê xí nghiệp, hầm mỏ, đất đai …Sản xuất trong công nghiệp dần
hồi phục.
Chính sách kinh tế mới không chỉ đề cập đến vấn đề đổi mới cơ chế
ngàng mà còn đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô trong công nghiệp tăng
cường phân công hợp tác giưa các ngành rồi qua đó nâng cao trình đ ộ
phân công lao đ ộng xã hội. Các thành phần kinh tế đ ược tự do kinh
doanh là điều kiện đ ể phát triển công nghiệp cho phù hợp với yêu cầu
của nông nghiệp, đ ể hai ngành này có thể hỗ trợ cho nhau, góp phần
củng cố liên minh công-nông về mặt kinh tế. Như chúng ta đ ã biết, cũng
như vật chất quyết định ý thức, kinh tế sẽ quyết định đến sự ổn định hay
không ổn định của hệ thống chính trị. Sau nội chiến liên minh công –
nông có nguy cơ tan vỡ chính là do những lợi ích kinh tế của cả hai giai
cấp không được đảm bảo. Khi mối quan hệ giữa công nghiệp và nông
nghiệp được giảI quyết thì vấn đề này cũng sẽ được giải quyết. Chính
sách kinh tế mới với nội dung tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp cho
phù hợp với yêu cầu của nông nghiệp vừa giảI quyết được yêu cầu khôI
phục công nghiệp vừa giảI quyết một phần nguy cơ tan vỡ của khối liên
minh công-nông. NgoàI ra việc tổ chức lại sản xuất công nghiệp cũng đ
áp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở kinh tế bước đ ầu của Chủ Nghĩa Xã Hội,
ổn định sản xuất giữa các thành phần kinh tế, vân dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác vào thực tiễn xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội
4. Chủ chuyển đ ổi cơ chế quản lý sang hạch toán kinh doanh theo
nguyên tắc tập trung dân
Trong thời gian thực hiện chính sách kinh tế Cộng Sản thời chiến, cơ
chế quản lý tập trung được thực hiện koé dàI sang cả thừi kỳ hoà bình đã
kìm hãm tính năng động của các cơ sở sản xuất. Nhà nước thống nhất
quản lý tập trung bằng mệnh lệnh đối với các xí nghiệp quốc doanh, kiểm
soát sản xuất và phân phối sản phẩm. Tất cả cơ sở sản xuất đều phụ thuộc
vào nhà nước. Tính tự chủ trong kinh doanh bị hạn chế. Vấn đề đặt ra là
nếu muốn khôI phục toàn bộ nền kinh tế thì không thể tiếp tục duy trì
hình thức quản lý kinh tế kém năng động kém tự chủ như vậy. Do đó
chính sách kinh tế mới đã đưa ra biệm pháp chuyển đổi cơ chế quản lý
sang hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tinh thần chung của cơ chế quản lý này là để cho các doanh nghiệp
tự chủ về tài chính, về phân phối lợi nhuận và tiền lương, chịu trách
nhiệm trang trải chi phí, phân phối thu nhập dựa trên số lượng và chất
lượng lao động. Cơ chế quản lý tập trung bằng mệnh lệnh bị xoá bỏ. Các
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét