11
Trên thế giới đã trải qua nhiều chế độ tỷ giá khác nhau thích ứng với từng giai đoạn phát
triển. Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, các nước đế quốc thực hiện chính sách phân biệt đối xử
trong quan hệ kinh tế và tiền tệ, do đó chế độ nhiều tỷ giá ra đời. Mục đích của chế độ nhiều tỷ
giá là để ảnh hưởng đến cán cân ngoại thương, từ đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế
và tỷ giá hối đoái, đồng thời nó còn có tác dụng như là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt hoặc
tiền thưởng cho xuất khẩu, làm công cụ cho chính sách bảo hộ mậu dịch của ngân sách qua thu
thuế bán ngoại hối.
2.5. Xác định tỷ giá theo phương pháp tính chéo
Hiện nay trên các thị trường hối đoái quốc tế, thông thường người ta chỉ thấy tỷ giá giữa
USD và GBP so với đồng nội tệ. Chẳng hạn ở Việt Nam thì người ta thông báo tỷ giá giữa USD
so với VND, ở các nước cộng đồng chung châu Âu thì USD/EUR Trong giao dịch ngoại hối,
khách hàng còn muốn xác định tỷ giá giữa các đồng tiền khác, chẳng hạn họ muốn xác định tỷ
giá USD/GBP, do vậy họ phải dùng một phương pháp nào đó để tính toán các tỷ giá này. Đó
chính phương pháp tính chéo tỷ giá.
2.5.1 Nguyên tắc cơ bản tính chéo tỷ giá:
Một cách tổng quát, ta có công thức: A/B = A/C x C/B
Ví dụ: Tại Paris, Ngân hàng Quốc gia Paris công bố tỷ giá:
USD/EUR = 0.8100
GBP/EUR = 1.4634
Xác định tỷ giá: USD/GBP
Ta có thể viết như sau:
USD/GBP = USD/EUR x EUR/GBP = (USD/EUR) x {1/ (USD/EUR )}
= (0.8100) x 1/1.4634 = 0.5535
2.5.2 Vận dụng phương pháp tính chéo:
Ví dụ 1: Một công ty Pháp xuất khẩu một lô hàng thu được 100,000 CHF, cần bán cho
Ngân hàng để lấy đồng EUR . Như vậy Ngân hàng sẽ thanh toán cho công ty bao nhiêu EUR ?
Cho biết tỷ giá công bố là:
USD/CHF = 1.6115/25
USD/EUR = 0.8100/0.8110
Áp dụng công thức tính chéo ta có:
CHF/EUR = (CHF/USD) x (USD/EUR ) = 1/(USD/EUR) x (USD/CHF)
Vấn đề ở đây là ta dùng tỷ giá mua hay bán.
Ta suy luận như sau:
Trước hết công ty sẽ bán 100,000CHF cho ngân hàng để mua USD, như vậy ngân hàng sẽ
bán USD cho công ty, tức là ngân hàng s ẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CHF = 1.6125, sau đó công
ty sẽ bán USD để mua EUR, lúc này ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/EUR = 0.8100.
Thế vào công thức ta thu được tỷ giá bán của công ty như sau:
Muốn xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền A so với đồng
tiền B theo phương pháp tính chéo, ta lấy tỷ giá giữa đồng
tiền A so với C nhân với tỷ giá của đồng tiền C so với B
12
CHF/EUR = (1/1.6125)*0.8100 = 0.5023
Vậy tổng số tiền EUR mà ngân hàng sẽ thanh toán cho công ty là:
100,000 0.5023 = 50,230EUR
Ví dụ 2: Một công ty cần mua 100,000CHF trả bằng EUR thì ngân hàng sẽ tính tỷ giá bán
là bao nhiêu?
Áp dụng công thức tính chéo ta có:
EUR/CHF = (EUR /USD) x (USD/CHF) = 1/ (USD/EUR) x (USD/CHF)
Ta suy luận tương tự như ví dụ 1.
Trước hết công ty bán EUR để mua USD, ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/EUR =
0.8110, sau đó khi công ty bán USD để mua CHF thì ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua
USD/CHF = 1.6115. Thay thế vào công thức trên ta có:
EUR/CHF = (1/0.8110) x1.6115 = 1.9870
Số tiền mà công ty phải trả cho Ngân hàng để mua 100,000CHF là:
100 000 / 1.9870 = 50,327.13 EUR
Nhận xét:
- Khi ngân hàng bán thì ngân hàng sẽ dùng tỷ giá cao
- Khi ngân hàng mua thì ngân hàng sẽ dùng tỷ giá thấp
Do đó bất lợi vẫn thuộc về khách hàng cần mua hay cần bán.
Ví dụ 3: Một công ty cần bán cho ngân hàng 100,000GBP để lấy EUR . Như vậy ngân
hàng sẽ trả cho công ty bao nhiêu EUR ?
Cho biết tỷ giá:
GBP/USD = 1.5810/20
USD/EUR = 0.8270/80
Áp dụng công thức tính chéo, ta có:
(GBP/EUR ) = (GBP/USD) x (USD/EUR )
Ta suy luận như sau:
Trước hết công ty sẽ bán GBP cho ngân h àng để mua USD, do vậy ngân h àng sẽ áp dụng
tỷ giá mua GBP/USD = 1.5810; sau đó công ty sẽ bán số USD n ày cho ngân hàng để lấy EUR,
do đó ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/EUR = 0.8270.
Thay vào công thức ta có:
GBP/USD = 1.5810 x 0.8270 = 1.3075
Số tiền mà ngân hàng trả cho công ty là:
100,000GBP x 1.3075 = 130,750 EUR
Nhận xét:
- Khi khách bán thì phải chịu hai tỷ giá mua cùng một lúc.
Ví dụ 4: Một công ty cần mua 100,000 GBP trả bằng EUR . Vậy công ty phải trả cho
Ngân hàng bao nhiêu EUR ?
Cho biết tỷ giá:
GBP/USD = 1.5810/20
USD/EUR = 0.8270/80
Áp dụng công thức tính chéo, ta có:
GBP/EUR = (GBP/USD) x (USD/EUR )
Ta suy luận như sau:
13
Trước hết công ty sẽ bán EUR để mua USD, do đó ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán
USD/EUR = 0.9280; sau đó công ty sẽ bán USD để lấy GBP, do đó ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá
bán GBP/USD = 1.5820.
Thay vào công thức trên ta tính được tỷ giá:
GBP/EUR = 1.5820 x 0.8280 = 1.3099
Vậy công ty phải trả cho ngân hàng số tiền:
100,000GBP x 1.3099 = 130,990 EUR
Nhận xét:
- Khi khách hàng mua thì phải chịu hai tỷ giá bán cùng một lúc và ngược lại.
2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái
Sau 1971 với sự sụp đổ của chế độ tiền tệ Bretton Woods, quan hệ tiền tệ giữa các nước
được thả nổi, điển hình là ở các nước tư bản. Với cơ chế này, tỷ giá hối đoái của các nước biến
động hàng ngày, hàng giờ trên thị trường do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như lạm phát, tình
hình cán cân thanh toán quốc tế, tình hình cung và cầu ngoại hối trên thị trường v.v
Chúng ta cần hiểu rằng tỷ giá hối đoái là một loại giá, vậy về bản chất nó g iống như bất
kỳ một loại giá nào trong nền kinh tế, tức là sẽ vận động theo quy luật cung-cầu. Tuy nhiên cần
nhấn mạnh ngay rằng xét về phạm vi ảnh hưởng tỷ giá hối đoái bao giờ cũng được coi là loại giá
quốc tế, do đó nó sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau trong không gian này.
Dưới đây chúng ta sẽ xét ảnh hưởng của 5 nhân tố quan trọng đến biến động của tỷ giá hối
đoái.
2.6.1. Liên quan giữa tỷ giá hối đoái với tỷ lệ lạm phát hay sức mua
Nói cách khác ở đây muốn nói đến mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và sức mua của mỗi
đồng tiền trong mỗi cặp tiền tệ. Để thấy rõ mối liên quan này ta sử dụng lý thuyết sức mua của
Ricardo- Cassel. Lý thuyết này giả thuyết rằng tỷ giá hối đoái ở mức cân bằng phải thể hiện sự
ngang bằng trong sức mua giữa hai đồng tiêng tương ứng và nó được gọi là lý thuyết 3P
(Purchashing Power Parity).
Lý thuyết này giả thuyết trong một nền kinh tế cạnh tranh lành mạnh, tức là trong đó cước
phí vận chuyển, thuế hải quan giả định bằng 0. Do đó nếu các hàng hóa đồng nhất thì người tiêu
dùng sẽ mua hàng ở nước nào có giá thật sự thấp. Theo giả thiết đó, một kiện hàng A ở Mỹ có
giá là 100USD và ở Pháp là 80EUR , có nghĩa là theo ngang giá sức mua đối nội của hai đồng
tiền này là: USD /EUR = 0.8000. Nếu ở Mỹ mức lạm phát là 5%/năm và ở Pháp là 10%/năm thì
giá kiện hàng A ở Mỹ sẽ tăng lên là 105USD, ở Pháp tăng lên là 88EUR . Do đó ngang giá sức
mua đối nội sẽ là 105USD = 88EUR , hay USD/EUR = (88/105) = 0.8381
Như vậy: -Tỷ giá trước lạm phát là USD/EUR = 0.8000
- Tỷ giá sau lạm phát là USD/EUR = 0.8381
Mức chênh lệch tỷ giá là 4,76% trong khi đó mức chênh lệch lạm phát là 5%, hai mức
này có thể coi là tương tự như nhau. Qua đó cho thấy tỷ giá biến động do lạm phát phụ thuộc
mức chênh lệch của lạm phát của hai đồng tiền yết giá và định giá.
Từ ví dụ trên, ta có thể đi đến công thức sau:
Giả sử đồng tiền của 2 nước là A và B, trong đó đồng tiền A là yết giá và B là đồng tiền
định giá.
Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền nước đó có sức mua thấp h ơn, nước
nào có mức độ lạm phát cao hơn mức độ lạm phát trung bình của thế giới hoặc của khu vực th ì
đồng tiền nước đó mất giá liên tục.
Tỷ giá cuối kỳ A/B = tỷ giá đầu kỳ A/B x {(1+lạm phát B)/(1+lạm phát A)}
14
Ngoại hối có giá cả vì nó cũng là một loại hàng hóa và là một loại hàng hóa đặc biệt. Giá
cả của ngoại hối cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả của các loại hàng hóa thông
thường như mức độ lạm phát, và giảm phát, cung và cầu hàng hóa trên thị trường, sự lũng đoạn
về giá cả v.v.
Nếu không tính đến các nhân tố khác mà chỉ tính riêng ảnh hưởng của nhân tố lạm phát,
ta có thể dự đoán được sự biến động của tỷ giá trong tương lai.
Ví dụ: Tỷ giá USD/VND bình quân năm 2004 là 15,500. Mức độ lạm phát của Mỹ là 5%
và của Việt Nam là 8% năm. Dự đoán tỷ giá USD/VND năm 2005 sẽ là:
USD/VND = 15,500 x (1.08/1.05) = 15,943
2.6.2. Tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế có tác động rất quan trọng đến tỷ giá hối đoái. Tình trạng của
cán cân thanh toán quốc tế sẽ tác động trực tiếp đến cung và cầu ngoại hối, do đó nó tác động
trực tiếp và rất nhạy bén đến tỷ giá hối đoái. Về nguyên tắc, nếu cán cân thanh toán quốc tế dư
thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn hơn cầu ngoại hối, từ đó làm cho tỷ giá hối
đoái có xu hướng giảm. Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế thiếu hụt có thể dẫn đến cầu
ngoại hối lớn hơn cung ngoại hối, từ đó tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng. Trong cán cân thanh
toán quốc tế, cán cân thương mại có tác động cực kỳ quan trọng đến sự biến động của tỷ giá hối
đoái mà các nhà kinh tế đều công nhận. Đây là nhân tố cơ bản đứng sau lưng tỷ giá hối đoái.
Tuy nhiên tuỳ vào điều kiện của mỗi n ước và trong từng giai đoạn phát triển, các cán cân khác
cũng có vai trò rất lợi hại, ví dụ như cán cân giao dịch vốn. Cụ thể ở điều kiện của Việt Nam
trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh tạo nên dòng chảy ngoại tệ
vào trong nước rất lớn thể hiện trong tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế, từ đó tác
động lên cung ngoại hối và tỷ giá hối đoái.
2.6.3. Tỷ giá hối đoái và mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Nói chung, nếu các điều kiện và môi trường kinh doanh của các nước là tương đương
nhau, nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh
lệch do tiền lãi tạo ra, do dó sẽ làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, tỷ giá
hối đoái sẽ giảm xuống.
Chẳng hạn, khi Việt Nam nâng cao lãi suất tiền gửi hơn các nước trong khu vực thì
lượng ngoại tệ sẽ chạy vào Việt Nam để mua các tín phiếu ngắn hạn, do đó sẽ làm cho cung
ngoại tệ và đồng thời cũng làm giảm nhu cầu ngoại tệ xuống. Tỷ giá hối đoái do đó cũng giảm
xuống. Tuy nhiên điều này có thực sự xảy ra hay không còn phụ thuộc vào điều kiện và môi
trường kinh doanh của Việt Nam có đảm bảo an to àn cho các nhà đầu tư hay không, bởi vì các
nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến lợi nhuận thu được từ đầu tư mà còn rất quan tâm đến yếu tố
an toàn vốn đầu tư.
2.6.4. Yếu tố tâm lý
Yếu tố tâm lý là một yếu tố chủ yếu dựa v ào sự phán đoán từ các sự kiện, tình hình chính
trị, kinh tế của các nước và thế giới có liên quan. Chẳng hạn, mức thu nhập thực tế (mức độ tăng
GNP thực tế) tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho
nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu cũng tăng lên. Tăng trưởng hay suy thoái kinh
tế cũng có ảnh hưởng tới t ỷ giá hối đoái. Khi nền kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nhu
cầu về ngoại tệ tăng và lúc đó giá ngoại tệ có xu hướng tăng. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế
suy thoái, khủng hoảng, nhu cầu về ngoại tệ giảm làm cho giá ngoại tệ có xu hướng giảm.
Tỷ giá hối đoái là giá quốc tế, do đó những sự kiện kinh tế, chính trị tr ên thế giới cũng sẽ
gây ảnh hưởng rất nhạy bén đến tỷ giá hối đoái. Chẳng hạn như sự kiện ở Mỹ xảy ra v ào tháng
15
9/2001 hay chiến tranh Iraq tháng 3/2003 vừa qua đã làm khuynh đảo thị trường hối đoái thế
giới, giá USD đã giảm đáng kể.
2.6.5. Vai trò quản lý của ngân hàng trung ương
Trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý, vai tr ò can thiệp của Nhà nước giữ vị trí
quan trọng. Cần nhấn mạnh rằng Nhà nước can thiệp bằng công cụ của thị trường thông qua
Ngân hàng Nhà nước Trung ương chứ không phải bằng các công cụ hành chính, tức là Ngân
hàng Trung ương tham gia vào thị trường với tư cách là người tham gia trên thị trường (người
mua hoặc người bán) trong từng thời điểm để tác động lên cung hoặc cầu ngoại hối, từ đó tác
động lên tỷ giá hối đoái phù hợp với chính sách tiền tệ của Nhà nước.
2.6.6. Những yếu tố chính trị và điều kiện kinh tế
Các điều kiện kinh tế thay đổi hoặc các sự kiện kinh tế, tài chính sẽ ảnh hưởng đến các
hoạt động kinh doanh và đầu tư của quốc gia, từ đó ảnh hưởng đến các luồng tiền chạy ra và
chạy vào quốc gia đó và kết quả là ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Ví dụ như cuộc khủng tài
chính năm 1997 ở Châu Á đã làm đồng tiền của một số nước Châu Á mất giá khá nhiều. Các
chính sách thuế, mức độ tăng trưởng kinh tế, chính sách đầu t ư của các quốc gia đều có thể ảnh
hưởng đến sự dịch chuyển các luồng vốn đầu tư giữa các nước, từ đó tác động lên tỷ giá hối
đoái.
2.7. Phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và biến động một cách tự phát. Tuy
nhiên Nhà nước có thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái, trong đó chủ
yếu là chính sách chiết khấu, chính sách hối đoái, lập quỹ bình ổn hối đoái, vay nợ, phá giá,
nâng giá tiền tệ.
2.7.1. Chính sách chiết khấu
Đây là chính sách của ngân hàng trung ương dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu của
ngân hàng mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường. Khi tỷ giá hối đoái lên cao đến
mức nguy hiểm, ngân hàng sẽ nâng cao tỷ suất chiết khấu lên để giảm tỷ giá hối đoái xuống. Bởi
vì khi ngân hàng nâng cao t ỷ suất chiết khấu dẫn đến lãi suất trên thị trường cũng tăng lên, vốn
ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ chạy vào góp phần làm dịu sự căng thẳng của cầu ngoại hối,
do đó tỷ giá hối đoái sẽ có xu hướng hạ xuống.
Tuy nhiên chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định đối với tỷ giá hối đoái
bởi vì giữa chúng không có quan hệ nhân quả. Lãi suất không phải là nhân tố duy nhất quyết
định sự vận động vốn giữa các nước. Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu của
vốn cho vay. Lãi suất có thể biến động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận b ình quân và trong m ột
tình hình đặc biệt có thể vượt qua tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn tỷ giá hối đoái lại do quan hệ
cung cầu ngoại hối quyết định mà quan hệ này do tình hình của cán cân thanh toán d ư thừa hay
thiếu hụt quyết định. Như vậy nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó
không nhất thiết là biến động của lãi suất, lên cao chẳng hạn, sẽ đưa đến biến động về tỷ giá, hạ
xuống chẳng hạn.
Trong trường hợp lãi suất lên cao, nhưng tình hình kinh tế, chính trị và tiền tệ của nước
đó không ổn định thì không hẳn là vốn ngắn hạn sẽ chạy vào, bởi lúc đó vấn đề đặt lên hàng đầu
là sự bảo đảm an toàn cho vốn chứ không phải thu được lãi nhiều. Nếu tình hình tiền tệ của các
nước gần tương tự như nhau thì hướng đầu tư ngắn hạn sẽ nhắm vào các nước có lãi suất cao, do
đó chính sách chiết khấu có ý nghĩa quan trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái của các nước.
16
2.7.2. Chính sách hối đoái
Hay còn gọi là chính sách hoạt động công khai trên thị trường: có nghĩa là ngân hàng
trung ương hay các cơ quan ngoại hối của nhà nước dùng nghiệp vụ trực tiếp mua bán ngoại hối
để điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá hối đoái lên cao, ngân hàng trung ương tung ngoại hối
ra để bán nhằm kéo giá hối đoái giảm xuống. Muốn thực hiện được biện pháp này, ngân hàng
trung ương phải có dự trữ ngoại hối đủ lớn. Nhưng nếu tình hình thâm hụt cán cân thanh toán
quốc tế của nước đó kéo dài thì khó có nguồn dự trữ ngoại hối đủ lớn để thực hiện biện pháp
này.
Có thể nói chính sách chiết khấu và chính sách hối đoái đều dẫn đến mâu thuẫn giữa các
tập đoàn tư bản trong nước, giữa thương nhân nhập khẩu và xuất khẩu vì tỷ giá của một nước
nâng lên thì hạn chế xuất khẩu hàng của nước khác nhưng lại khuyến khích xuất khẩu vốn của
nước khác, do đó làm cho cán cân thanh toán của nước ngoài đó với nước thực hiện hai chính
sách này bị thiệt hại.
2.7.3. Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái
Mục đích của quỹ này là nhằm tạo ra một cách chủ động một lượng dự trữ ngoại hối để
ứng phó với sự biến động của tỷ giá hối đoái thông qua chính sách ho ạt động công khai trên thị
trường. Như vậy đây là một hình thức biến tướng của chính sách hối đoái.
Về nguyên tắc, ngân hàng trung ương không chịu trách nhiệm điều tiết sự biến động của
tỷ giá thả nổi, nhưng khủng hoảng ngoại hối trầm trọng làm cho đồng tiền của các nước ngày
một mất giá, tỷ giá ngoại hối biến động lớn đã ảnh hưởng đến sản xuất và lưư thông hàng hóa,
vì vậy các nước đã lập ra quỹ bình ổn hối đoái để điều tiết tỷ giá của đồng tiền nước mình.
Kinh nghiệm cho thấy tác dụng của quỹ này rất hạn chế. Quỹ này chỉ có tác dụng khi
khủng hoảng ngoại hối ít nghiêm trọng và có nguồn tín dụng quốc tế hỗ trợ, ví dụ nh ư tín dụng
“SWAP”.
2.7.4. Phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ n ước mình so với ngoại tệ hay là nâng
cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ.
Ví dụ: tháng 12/1971, đô la phá giá 7.89%, t ức là giá của 1 GBP tăng lên từ 2.40USD lên
2.605USD, hay là sức mua của USD giảm từ 0.416GBP xuống còn 0.383GBP.
Tác dụng của phá giá tiền tệ có thể là:
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, hạn chế nhập khẩu h àng hóa, do đó có tác dụng khôi
phục lại sự cân bằng của cán cân ngoại thương, nhờ vậy góp phần cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế.
- Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài, chuyển
tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng tăng khả năng cung ngoại hối, giảm nhu cầu về ngoại hối,
nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.
-Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vì vậy quan hệ cung
cầu ngoại hối bớt căng thẳng.
- Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền phá giá trong tay.
Tác dụng chủ yếu của phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện cán cân thương mại. Tuy nhiên có
thực hiện được điều này hay không còn phụ thuộc vào khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước
tiến hành phá giá tiền tệ và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước đó.
17
2.7.5. Nâng giá tiền tệ
Nâng giá tiền tệ là việc nâng chính thức đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, tức là
nâng cao hàm lượng vàng của tiền nước mình lên, tỷ giá của ngoại hối so với đồng tiền nâng giá
bị đánh sụt xuống, tỷ giá hối đoái hạ thấp xuống.
Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nước hoàn toàn ngược lại
với phá giá tiền tệ. Nâng giá tiền tệ thường xảy ra dưới áp lực của nước khác mà nước này mong
muốn tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa của mình vào nước có cán cân thanh toán và cán cân
thương mại dư thừa.
Ví dụ Đức là nước có cán cân thanh toán và cán cân thương mại dư thừa đối với Mỹ,
Anh và Pháp. Để hạn chế xuất khẩu hàng hóa của Đức vào các nước này, 3 nước này ép Đức
phải nâng giá đồng tiền của mình. Dưới áp lực của các nước bạn hàng Đức đã phải nhiều lần
tăng giá DEM. Đối với đồng JYP của Nhật cũng tương tự như vậy.
Ngoài ra, không ngoại trừ khả năng để tránh phải tiếp nhận đồng USD mất giá chạy vào
nước mình và giữ vững lưu thông tiền tệ và tín dụng, duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái,
chính phủ Đức và Nhật coi biện pháp nâng giá đồng tiền của mình như là một biện pháp hữu
hiệu. Việc nâng giá đồng JYP của Nhật cũng tạo điều kiện để Nhật chuyển vốn ra nước ngoài
nhằm xây dựng một nước Nhật “kinh tế” trong lòng các nước khác, nhờ dó mà Nhật giữ vững
được thị trường bên ngoài.
2.8. Sơ lược lịch sử phát triển tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Qua trình phát triển của tỷ giá hối đoái ở Việt Nam gắn liền với quá trình cải cách hệ
thống ngân hàng và đổi mới kinh tế của đất nước. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), có thể
chia qua trình phát triển của tỷ giá hối đoái Việt Nam thành hai giai đoạn lớn: giai đoạn trước
pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 và giai đoạn sau pháp lệnh, tức là sau 1990, trong đó xem xét
hai thời điểm trước và sau khủng hoảng tài chính năm 1997.
2.8.1. Giai đoạn trước Pháp lệnh Ngân hàng ra đời 1990:
Theo Pháp lệnh ngân hàng, đơn vị tiền tệ nước ta là đồng, ký hiệu quốc tế là VND. Do
Việt Nam không công bố hàm lưiợng vàng trong VND do vậy tỷ giá phải được xác định dựa
trên cơ sở so sánh sức mua giữ VND và tiền tệ các nước khác. Trong giai đoạn này tỷ giá hối
đoái của Việt Nam là chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá, vì Nhà nwocs độc quyền về ngoại
thương và độc quyền về ngoại hối, ngân hàng là hệ thống một cấp trong điều kiện nền kinh tế kê
shoạch hoá tập trung. Tỷ giá cố định là tỷ giá chính thức do Nhà nước công bố và điều chỉnh.
Đa tỷ giá thể hiện là trong giai đoạn này tồn tại cùng lúc nhiều tỷ giá khác nhua sử dụng trong
các mối quan hệ trao đổi khác nhau. Lúc này có sự phân biệt giữa tỷ giá hối đoái áp dụng với
các giao dịch với các nước XHCN. Với đối tượng này, Việt Nam thực hiện thanh toán bù trừ
nhiều bên thông qua đồng Rúp chuyển nhượng. Cho đến năm 1991, khối XHCN tan vỡ, đồng
Rúp chuyển nhượng không tồn tại nữa. Đối với tỷ giá hối đoái giữa VND với đồng tiền các
nước tư bản chủ nghĩa được xác định căn cứ vào sự biến động của thị trường mà Nhà nwocs
công bố, còn trong quan hệ thanh toán vói các nwocs khác thì tỷ giá hình thành trên cơ sở các
nghị định thư ký kết giữa hai nước với nhau. Trong quan hệ với ngân sách Nhà nước chỉ sử
dụng tỷ giá kết toán nội bộ, điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc xác định hiệu quả kinh
doanh cảu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), trong giai
đoạn này tỷ giá hối đoái ở Việt Nam được ấn định một cách chủ quan, tuỳ tiện, thiếu cơ sở khoa
học, chưa gắn liền với cugn và cầu ngoại tệ. Tỷ giá chính thức th ường rất thấp so với tỷ giá trên
thị trường.
18
2.8.2. Giai đoạn sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đời
Giai đoạn sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đ ời năm 1990 và trước khủng hoảng tài chính
Châu Á năm 1997, là giai đoạn Việt Nam chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp,
từ chế độ độc quyền ngoại hối sang chế độ quản lý thống nhất ngoại hối. Tỷ giá hối đoái trở
thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong chính sáhc tiền tệ - tài chính quốc gia. Lúc này Nhà
nước chủ trương áp dụng một tỷ giá và tỷ giá được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại hối trên
thị trường. Một sự kiện quan trọng đó l à sự ra đời của Thị trường Ngoại tệ liên ngân hàng vào
năm 1994. Tuy nhiên hoạt động trên thị trường còn nhiều hạn chế, thủ tục mua bán và thanh
toán ngoại tệ còn nhiều khó khăn.
Sau năm 1997, nhà nước chủ trương quản lý tỷ giá theo hướng điều hành linh hoạt trên cơ
sở đảm bảo ổn định giá trị VND, do vậy Ngân hàng Nhà nước đã liên tục mở rộng thêm biên độ
dao động của tỷ giá chính thức, bám sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường tiến đến tự do hoá tỷ
giá, nâng cao uy tín của VND trên thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc
tế của nền kinh tế đất nước.
2.9. Thị trường hối đoái
Hiện nay trên thế giới nhiều nước đã tổ chức thị trường hối đoái. Có khoảng trên 40 thị
trường hối đoái. Mỗi ngày có hàng tỷ USD được giao dịch trên toàn cầu. Chúng ta có thể liệt kê
các thị trường hối đoái lớn nhất trên thế giới hiện nay như thị trường London, Newyork, Tokyo,
Singapore, Paris, Zurich, Franfut, Mila
2.9.1. Khái niệm thị trường hối đoái
Thị trường hối đoái là nơi thực hiện việc mua và bán, trao đổi ngoại hối, trong đó chủ
yếu là trao đổi, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán quốc tế, mà giá cả ngoại tệ
được hình thành trên cơ sở cung cầu. Hoặc có thể nói thị trường hối đoái là nơi chuyên môn hóa
về trao đổi mua bán ngoại tệ, thông qua sự cọ sát giữa cung và cầu ngoại tệ để thỏa mãn nhu cầu
của các chủ thể kinh tế đồng thời xác định các điều kiện giao dịch tức là giá cả và số lượng
ngoại tệ mua bán.
Trung tâm của thị trường hối đoái là thị trường liên ngân hàng, thông qua đó mà mọi
giao dịch mua bán ngoại hối có thể tiến hành trực tiếp với nhau. Quá trình hình thành và phát
triển của thị trường hối đoái trên thế giới đã hình thành hai tổ chức khác nhau. Hệ thống hối đoái
Anh - Mỹ và hệ thống hối đoái châu Âu.
Theo hệ thống Anh - Mỹ thì thị trường hối đoái có tính chất biểu tượng, chỉ giao dịch ngoại
hối thường xuyên giữa một số ngân hàng và người môi giới, quan hệ này có thể là trực tiếp,
nhưng chủ yếu là thông qua điện thoại, telex.
Ngược lại theo hệ thống lục địa châu Âu thì thị trường hối đoái có địa điểm nhất định,
hàng ngày những người mua bán ngoại hối tới đó để giao dịch và ký hợp đồng. Các ngân hàng
thương mại lớn có chi nhánh ở nước ngoài có vai trò quan tr ọng trong thị tr ường hối đoái. Các
ngân hàng này kinh doanh ngoại hối là chủ yếu, các ngân hàng khác đóng vai trò phụ thuộc vào
hoạt động kinh doanh dưới sự chỉ đạo của các ngân hàng lớn.
Trên thị trường hối đoái, các tỷ giá niêm yết có ý nghiã quan trọng. tuy nhiên nó chỉ là tỷ
giá cơ bản dùng để tham khảo mà thôi, còn tỷ giá hối đoái của mỗi hợp đồng, mỗi giao dịch mua
bán ngoại hối được quyết định bởi quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường.
Nếu hiểu theo nghiã rộng, thị trường hối đoái là một phần của thị trường tài chính, hoạt
động mang tính chất đa dạng phong phú với những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thị trường hối đoái mang tính quốc tế vì nó hoạt động không chỉ trong phạm vi
một nước, mà tren phạm vi toàn thể giới. Mối sự biến động của tỷ giá hối đoái trên một thị
trường này đều có ảnh hưởng đến tỷ giá trên những thị trường khác.
19
Thứ hai, thị trường hối đoái mang tính liên tục, các giao dịch diễn ra 24/24 trong các ngày
làm việc trong tuần.
Thứ ba, thị trường hối đoái chỉ giao dịch một số ngoại tệ nhất định, trong đó đồng USD
được coi là đồng tiền chuẩn. Trên thị trường hối đoái hiện nay tập trung giao dịch 15 đồng tiền
chủ yếu, được công bố qua Forex.com.
Thứ tư, sản phẩm giao dịch trên thị trường ngoại hối đã gia tăng rất mạnh, đặc biệt là sự
tăng trưởng rất cao của các nghiệp vụ phái sinh như forward, option
Thứ năm, phương thức giao dịch trên thị trường hối đoái chủ yếu là không qua quầy OTC
(over the counter) mà được thực hiện qua qua điện thoại, telex, fax, vi tính nối mạng
2.9.2. Phân loại thị trường hối đoái
Thị trường hối đoái được chia làm 2 loại cơ bản: thị trường giao ngay và thị trường giao
dịch có kỳ hạn (spot market và forward market)
Thị trường giao ngay là thị trường mà việc mua bán, thanh toán và giao nhận ngoại hối
xảy ra đồng thời tùy theo tập quán.
Chẳng hạn ở thị trường hối đoái giao ngay ở châu Âu, việc giao nhận ngoại hối xảy ra sau
2 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua ngoại hối. Ở đây cần lưu ý những ngày nghỉ đối
với các nước nghỉ hai ngày cuối tuần thứ bảy, chủ nhật và những ngày nghỉ hàng tuần của các
quốc gia tôn giáo như Cô Oét và Ả Rập nghỉ thứ sáu và chủ nhật.
Thị trường giao dịch có kỳ hạn là thị trường mà việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại hối
và việc giao nhận ngoại hối không diễn ra đồng thời mà việc giao nhận ngoại hối sẽ diễn ra sau
một số ngày nhất định nào đó do hai bên thỏa thuận. Ngày giao nhận ngoại hối trong hợp đồng
mua bán có kỳ hạn được tính bằng ngày giao nhận ngay cộng với số ngày kỳ hạn của hợp đồng.
Ví dụ: hợp đồng kỳ hạn 3 tháng, ký vào ngày 12 tháng 1 n ăm 2006 thì ngày giao nhận ngay là
ngày 14 tháng 1 năm 2006, nên ngày giao kỳ hạn 3 tháng sẽ là ngày 15 tháng 4 năm 2006.
2.8.3. Những ưu điểm của thị trường hối đoái
Hiện nay quan hệ thương mại quốc tế ng ày càng phát triển từ đó làm nảy sinh nhiều hợp
đồng mua bán ngoại thương. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là tổ chức nhập khẩu cần mua ngoại tệ
để thanh toán cho nước ngoài, tổ chức xuất khẩu cần bán ngoại tệ để lấy đồng nội tệ trang trải
các chi phí phát sinh trong. Các tổ chức này sẽ mua, bán ngoại tệ ở đâu, với giá cả là bao nhiêu.
Để giải quyết được vấn đề này cần thiết phải tổ chức thị trường hối đoái. Bởi thị trường hối đoái
sẽ giải quyết những vấn đề cơ bản sau đây:
- Giá cả hàng hóa ở thị trường hối đoái, tức là tỷ giá hối đoái sẽ được hình thành một cách
thích hợp trên cơ sở cọ xát giữa cung và cầu ngoại hối. Đó chính là giá phải chăng, giá vừa lòng
người mua, thuận lòng người bán.
- Thị trường cũng cho ta biết ai là người bán, ai là người có ngoại tệ nhàn rỗi tạm thời
- Số lượng ngoại tệ mua, bán là bao nhiêu
- Thông qua thị trường hối đoái giúp Nhà nước có thể tham gia kiểm soát ngoại h ối và có
thể can thiệp vào thị trường thông qua sự tác động vào cung hay cầu ngoại tệ nhằm thực hiện
chính sách kinh tế quốc dân.
- Thị trường hối đoái giúp người mua và người bán gặp nhau khi cần thiết, thay vì phải
điện thoại hỏi các đơn vị khác nhau, có khi mua phải giá cao, giá thấp, hoặc trậm trễ trong thanh
toán
Ở Việt Nam, ngày 29/9/1994 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định số
203/QĐ-NH ban hành quy chế "Tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng".
20
2.9.4. Đối tượng tham gia thị trường hối đoái
Tùy theo luật lệ của mỗi quốc gia mà đối tượng tham gia vào thị trường hối đoái có thể
có những khác nhau. Nh ưng có thể có 4 đối tượng sâu đây: các ngân hàng thương mại, các nhà
môi giới, ngân hàng trung ương, các công ty kinh doanh.
Các ngân hàng thương mại
Đây là nhân vật chính của thị trường. Các ngân hàng này mua bán ngoại tệ không chỉ để
thực hiện các lệnh của khách hàng mà còn kinh doanh cho chính bản thân các ngân hàng. Các
ngân hàng lớn còn hình thành bộ phận kinh doanh ngoại tệ quốc tế. Bộ phận này có vai trò quan
trọng trong việc điều phối vốn, kinh doanh tiền gửi, mua bán ngoại tệ. Nó được trang bị nhiều
phương tiện thông tin hiện đại như telex, fax, điện thoại, máy tính. Bộ phận này thường bao gồm
các tiểu bộ phận sau đây:
- Tiểu bộ phận chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ
- Tiểu bộ phận gồm các nhà phân tích để dự đoán tỷ giá, tính toán tỷ giá
- Tiểu bộ phận quản trị, kiểm soát.
Các nhà môi giới
Họ là trung tâm giữa ngân hàng và qua đó họ phân tích các hoạt động của thị trường bằng
cách làm cho cung và c ầu tiếp cận nhau. Họ cung cấp cho khách hn àg những thông tin tức thời
về thị trường, khả năng tìm thấy bạn hàng khi cần gọi, họ bảo đảm cho sự vận hành tốt của cơ
chế thị trường và qua liên lạc màn hình giữa người mua và người bán cho tới khi thỏa thuận
được giao dịch. Với những thuận lợi, công lao của họ dành cho khách hàng nên nhà môi giới
được tả công cho từng giao dịch mua bán.
Ví dụ: Tiền phí cho môi giới ở Singapore là 25 SGD/ 1 triệu USD mua bán.
Ngân hàng trung ương:
Họ tham gia thị trường với 2 danh nghĩa. Một mặt như mọi ngân hàng khác họ tham gia
thị trường hối đoái là nhằm phục vụ khách h àng của mình; mặt khác họ tham gia với tư cách là
cơ quan giám sát thị trường nhằm điều khiển hoạt động của thị trường trong khuôn khổ các quy
định của luật pháp. Đồng thời qua đó Ngân hàng trung ương theo d õi biến động củ đồng bản tệ
để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết nhằm duy trì ổn định đồng bản tệ.
Các công ty kinh doanh
Các công ty này tham gia mua bán ngoại tệ để thanh toán các khoản nợ thương mại. Dịch
vụ, đầu tư nước ngoài. Thông thường đó là công ty xuất nhập khẩu, dịch vụ quốc tế kể cả
khách du lịch quốc tế.
2.9.5. Các nghiệp vụ hối đoái cơ bản
Trong khuôn khổ môn học này chúng tôi giới thiệu 4 nghiệp vụ hối đ oái cơ bản bao gồm
nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ có kỳ hạn, nghiệp vụ giao hoán đổi và nghiệp vụ quyền chọn.
Nghiệp vụ giao ngay (SPOT)
Đó là nghiệp vụ phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong các nghiệp vụ hối đoái. Nghiệp vụ
giao là hoạt động mua bán ngoại tệ mà theo đó việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay,
theo tỷ giá đã được thỏa thuận.
Nhưng chữ giao ngay ở đây không có nghĩa là ngay tức khắc mà thông thường giữa ngày
giao dịch (ngày thỏa thuận) và ngày thanh toán (ngày giá trị) cách nhau 2 ngày. Đây là thời gian
cần thiết để tiến hành các bút toán, kế toán, để thực hiện lệnh thanh toán chuyển tiền giữa các
Ngân hàng quốc gia. Như vậy nếu bạn muốn mua ngoại tệ để chuyển trả cho một công ty Pháp
chẳng hạn vào ngày 12/9 thì bạn phải mua trên thị trường vào ngày 10/9 và không kể ngày lễ,
thứ bảy và chủ nhật.
Một trong những khó khăn trong quan hệ thanh toán quốc tế là cơ chế chuyển nhượng tiền
tệ. Bởi vì khi ký kết hợp đồng mua bán, các bên mua bán phải thỏa thuận với nhau là dùng đồng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét