Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
- Gây ra những lo ngại đối với ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là gia tăng lạm phát, đẩy tỷ
giá hối đoái lên cao, đe dọa xuất khẩu và làm mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế.
- Những biểu hiện dễ thấy nhất là tăng trưởng nền kinh tế quá nóng, kéo theo lạm
phát; làm biến động và thay đổi cơ cấu tài trợ, tiềm ẩn rủi ro đối với sự ổn định cán cân
thanh toán; đồng bản tệ có thể chịu sức ép lên giá, dẫn đến tính cạnh tranh của nền kinh tế
bị kém đi.
Vì vậy dòng vốn ngoại (bao gồm cả FDI, FII) mặc dù được đánh giá là nguồn lực cho
tăng trưởng nhưng nếu không kiểm soát và hướng chúng theo chiều tích cực, sẽ để lại
không ít "phiền toái". Trong xu thế toàn cầu hóa, chu chuyển các luồng vốn giữa các quốc
gia tăng mạnh cả về qui mô và tốc độ, mỗi quốc gia cần có chính sách và biện pháp đối phó
thích hợp nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững.
2. Tự do hoá tài khoản vốn:
2.1 Khái niệm:
Tự do hóa tài khoản vốn là việc cho tự do tiến hành chuyển đổi các tài sản tài chính
trong nước thành tài sản tài chính ở nước ngoài và ngược lại theo tỷ giá hối đoái do thị
trường quy định
2.2 Vì sao phải tự do hóa tài khoản vốn:
Hình thành sự bình đẳng trong hoạt động đầu tư tài chính, các luồng vốn luân chuyển
linh hoạt và hiệu quả, tạo điều kiện tiếp cận các luồng vốn quốc tế tăng vốn đầu tư trong
nước, chuyển giao công nghệ và phát riển thị trường tài chính;
5
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn
trong và ngoài nước với chi phí thấp, nâng cao tính tự chủ của nhà đầu tư và khả năng phản
ứng của thị trường, góp phần hoàn thiện thể chế;
Việc mở cửa thị trường tín dụng làm tăng tính linh hoạt của các doanh nghiệp trước
những biến động về hàng hóa và lợi nhuận.
2.3 Hạn chế của việc tự do hóa tài khoản vốn:
Tự do hóa giao dịch vốn tác động mạnh đến hệ thống ngân hàng, cả chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Trung ương và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, các tập đoàn
và ngân hàng lớn ngày càng có ảnh hưởng mạnh đến chính sách của các quốc gia. Quá trình
tự do hóa giao dịch vốn ảnh hưởng đến các NHTM – thành viên trực tiếp tham gia các giao
dịch vốn quốc tế và thông qua hoạt động của những khu vực khác trong nền kinh tế, gây
khó khăn về quản lý tài sản, nhất là trong việc điều chỉnh tỉ giá, lãi suất, phòng ngừa rủi ro
nhằm cân bằng lợi ích giữa việc nắm giữ ngoại tệ và nội tệ cũng như cơ cấu tiền gửi và cho
vay.
Trong quá trình tự do hóa giao dịch vốn, các luồng vốn vào ngày càng tăng mạnh.
Nếu chính sách vĩ mô không đủ mạnh và quản lý tài chính yếu kém, việc gia tăng luồng
vốn vào quá mức có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế quá nóng, nếu tiền cung ứng tăng quá
mức so với tăng trưởng GDP thực tế sẽ làm tăng tổng phương tiện thanh toán (M2), gây áp
lực lạm phát và biến động về tỉ giá hối đoái, làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai, nhất là khi
sản xuất trong nước phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, làm thay đổi cơ cấu tài trợ và
tiềm ẩn rủi ro cán cân thanh toán và tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Trong xu thế toàn cầu hóa, chu chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia tăng mạnh cả
về qui mô và tốc độ, mỗi quốc gia cần có chính sách và biện pháp đối phó thích hợp nhằm
đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Đặc biệt là, cần xác định rõ liều
lượng, lộ trình và thời điểm áp dụng chính sách, trước hết cần dựa trên mục tiêu kinh tế của
nước thụ hưởng, cơ chế tỉ giá, các qui định về thể chế. Trong đó, cần xác định được động
cơ và nguyên nhân của luồng vốn vào, cơ cấu luồng vốn, tác động của nó đến nền kinh tế
6
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
và hệ thống tài chính. Nếu luồng vốn vào do cầu tiền trong nước tăng lên, giá chứng khoán
và bất động sản giảm, dẫn đến điều chỉnh danh mục đầu tư và không cần can thiệp vì việc
mở rộng tiền sẽ không gây áp lực lạm phát. Trái lại, khi luồng vốn vào do lãi suất thế giới
thấp hơn, giá của tài sản tài chính và bất động sản tăng lên, trường hợp này cần có biện
pháp điều chỉnh.
Luồng vốn vào quá nhiều đòi hỏi phải can thiệp nhằm giảm áp lực tăng M2, nhưng rất
tốn kém, hiệu quả của biện pháp này tùy thuộc vào trình độ phát triển thị trường tài chính
trong nước, thậm chí có thể làm nguồn vốn vào tăng trở lại, gây khó khăn cho các nhà tạo
lập chính sách, việc điều hành chính sách tiền tệ trở nên khó khăn nếu đồng thời phải thực
hiện mục tiêu ổn định tỉ giá, duy trì chính sách tiền tệ độc lập và tài khoản vốn mở.
Tự do hóa giao dịch tài chính quốc tế mà trọng tâm là giao dịch vốn là vấn đề quan
trọng nhưng rất phức tạp và cần được tiến hành một cách có trật tự và thận trọng, tùy thuộc
và điều kiện của mỗi nước, những lợi ích tiềm năng và khả năng cạnh tranh của hệ thống
tài chính.
Tự do hóa giao dich vốn cần được thực hiện từ từ và chỉ khi đã có đủ những điều kiện
cơ bản sau đây:
- Hệ thống ngân hàng đã phát triển mạnh, có khả năng hấp thụ và phân bổ hiệu quả
các nguồn vốn vào. Đồng thời, có qui định pháp lý đầy đủ và đồng bộ nhằm đảm bảo an
toàn cho hoạt động ngân hàng và hạn chế độc quyền.
- Cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cao, có khả năng thích ứng với những thay
đổi kinh tế trong và ngoài nước, các công ty được sắp xếp lại và đổi mới công nghệ nhằm
tăng hiệu quả sử dụng vốn vay.
- Môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh để tránh thâm hụt ngân sách, thể hiện qua các
chỉ tiêu tăng trưởng GDP, tỉ lệ lạm phát, thất nghiệp, cán cân thanh toán.
7
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
- Xây dựng hệ thống qui định thận trọng và đủ mạnh, đảm bảo thực hiện hệ thống kế
toán, kiểm toán và chế độ báo cáo phù hợp. Cơ chế thị trường phát triển đồng bộ và có hiệu
quả, có khả năng huy động mọi nguồn lực cho tăng trưởng.
- Đảm bảo hiệu lực của các chính sách kinh tế vĩ mô và cơ chế điều hành tỉ giá hối
đoái, đảm bảo mức dự trữ ngoại hối phù hợp, có khả năng đối phó với những biến động
trên thị trường ngoại hối và tỉ giá hối đoái, đáp ứng đủ ngoại tệ cho nhu cầu của đất nước.
- Tạo lập hạ tầng cơ sở cho thị trường trong nước trước khi tự do hóa các GDV, đặc
biệt là cơ sở hạ tầng cho hoạt động đầu tư gián tiếp vào cổ phiếu và các công cụ nợ, góp
phần giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
3. Kiểm soát vốn (controlled capital) :
3.1 Khái niệm:
Kiểm soát vốn chính là thực hiện các biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều
hình thức khác nhau để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và ra khỏi
một quốc gia để nhằm đạt “mục tiêu nhất định” của chính phủ.
3.2 Các biện pháp kiểm soát vốn của chính phủ:
Tranh luận về các mục tiêu của kiểm soát:
- Thông qua hạn chế cán cân tài khoản vốn để cải thiện phúc lợi kinh tế.
- Điều hoà những mục tiêu chính sách.
- Bảo vệ sự ổn định về tài chính và tiền tệ.
Lý thuyết bộ ba bất khả thi:
8
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
- Chính sách tiền tệ độc lập.
- Ổn định tỷ giá.
- Hội nhập tài chính hoàn hảo.
Đây là mô hình lý thuyết rất phổ biến, gọi là mô hình Mundell- Fleming được Robert
Mundell và Marcus Fleming phát triển trong những năm 1960. Và vào những năm 1980 khi
vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ
giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì Lý thuyết bộ ba bất khả thi đã trở
thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở.
Trên thực tế không thể đạt được cùng lúc cả ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập,
ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính hoàn toàn. Một quốc gia chỉ có thể đạt được tối đa hai
trong ba mục tiêu này và việc áp dụng chính sách nào cũng phải trả giá. Do đó, tuỳ từng
tình hình cụ thể và tuỳ vào mục tiêu của từng quốc gia sẽ áp dụng chính sách nào trong bộ
ba bất khả thi này.
Một quốc gia có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa
dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát vốn, nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn
9
Dỡ bỏ hạn chế
vệ tài chính
Thả nổi tỷ giá
hoàn toàn
Chính sách
tiền tệ độc
Kiểm soát hoàn toàn
tài khoản vốn
Ổn định tỷ giá
Cố định tỷ giá
hoàn toàn
Hôi nhập tài
chính hoàn toàn
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi hoặc có thể chọn kiểm soát vốn và
ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái.
Một kiểu khác của lý thuyết bộ ba bất khả thi rất được chú ý - với một chính sách ổn
định tỷ giá hoàn hảo, với một tài khoản vốn mở (không bị kiểm soát) hoàn hảo, nhưng một
quốc gia vẫn hoàn toàn không thể tự chủ chính sách tiền tệ. Những ví dụ lặp lại trên thế
giới cho thấy ở những nơi và thời điểm mà tài khoản vốn bắt đầu được tự do , thì cùng lúc
xuất hiện một chính sách tỷ giá cứng nhắc hơn và sự tự chủ về chính sách tiền tệ cũng giảm
đi.
Song song với sự phát triển thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện đại, kiểm soát
vốn rất dễ bị lãng quên. Thêm nữa, vấn đề kiểm soát vốn còn thể hiện những thay đổi của
quốc gia không đúng thực tế. Do vậy rất khó để một quốc gia có được một hệ thống kiểm
soát vốn thật sự hiệu quả. Lý thuyết bộ ba bất khả thi khẳng định rằng: trong điều kiện ngày
nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thiểu sự thay đổi tỷ giá hoặc điều hành
một chính sách tiền tệ độc lập ổn định. Nó không thể có đồng thời cả hai.
Về phương diện lý thuyết, có hai phương thức kiểm soát vốn:
- Kiểm soát vốn trực tiếp (hay còn gọi là kiểm soát mang tính hành chính) là việc hạn
chế những giao dịch vốn, những khoản thanh toán liên quan đến giao dịch vốn và việc
chuyển ngân quỹ bằng những ngăn câm triệt để, những hạn chế mang tính số lượng. Thông
thường, loại kiểm soát này áp đặt những nghĩa vụ hành chính lên hệ thống ngân hàng để
kiểm tra dòng vốn.
- Kiểm soát vốn gián tiếp (dựa trên cơ sở thị trường) là việc hạn chế những biến động
của dòng vốn và những giao dịch khác thông qua các biện pháp thị trường, chủ yếu là làm
cho các giao dịch vốn phải tốn kém nhiều chi phí hơn, từ đó hạn chế các giao dịch này.
Việc kiểm soát như thế có thể xảy ra dưới các hình thức khác nhau mà điển hình nhất
là đánh thuế cao trên các dòng vốn ngắn hạn, đi liền với việc miễn thuế đối với các dòng
10
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
vốn mang tính dài hạn,hoặc xếp hạng tín nhiệm. Đây chính là những phương thức mà
chúng ta cần phải thực hiện trong thời gian tới.
Trong hai biện pháp trên, cần phải hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp kiểm soát
mang tính hành chính. Ngoại trừ một số ngành nghề và lĩnh vực nhạy cảm, việc dừng lại
chủ trương mở (kiểm soát trực tiếp) đồng loạt cho các lĩnh vực như trong thời gian qua là
điều mà Chính phủ cần phải xem xét lại bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến chủ trương thu hút
vốn hiện nay.
• Chính sách đối với dòng vốn vào :
- Can thiệp vô hiệu hóa.
- Nâng tỷ giá.
- Các chính sách tiền tệ.
• Chính sách đối với dòng vốn ra :
- Nhằm mục đích kiềm chế đầu cơ tiền tệ và ổn định thị trường ngoại hối
- Kiểm soát dòng vốn ra trong suốt thời kỳ khủng hoảng tài chính chỉ tạm thời mang
tính đối phó của chính phủ.
3.3 Hạn chế của kiểm soát vốn:
Có nhiều quan điểm lầm tưởng rằng nếu như áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn
gián tiếp thì sẽ không phải trả giá. Trên thực tế, đã gọi là kiểm soát vốn thì cho dù là áp
dụng các biện pháp kiểm soát vốn như thế nào cũng phải trả một giá nhất định. –
Cái giá chung nhất chính là sẽ làm chậm lại các cơ hội thu hút vốn đầu tư khi mà các
quốc gia ngày càng cạnh tranh quyết liệt để thu hút dòng vốn toàn cầu. Đi vào từng lĩnh
vực cụ thể thì kiểm soát vốn sẽ có những tác động nhất định.
11
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
Kiểm soát vốn không khéo có thể mâu thuẫn với chủ trương tự do hóa các giao dịch
ngoại hối.
Kiểm soát vốn làm chi phí giao dịch vốn (tính trên tổng qui mô dòng vốn) tăng cao và
sẽ làm cho dòng vốn chuyển hướng sang các quốc gia khác. Theo nhiều khảo sát, chi phí
giao dịch tại Trung Quốc hiện là 1,2%, Việt Nam là 2%; trong khi Hong Kong chỉ là
0,013%. Nếu áp đặt thêm các biện pháp kiểm soát vốn nặng về hành chính, có khả năng
dòng vốn đang chảy vào Việt Nam sẽ chuyển huớng ngược trở về các nước có chi phí giao
dịch vốn thấp hơn như Trung Quốc chẳng hạn. Đây là cái giá phải trả cần phải đuợc cân
nhắc thấu đáo trước khi ban hành các biện pháp kiểm soát vốn chính thức.
Kiểm soát vốn là cần thiết tuy nhiên vì sự phát triển ổn định và lành mạnh của hệ
thống tài chính, các biện pháp cần phải theo nguyên tắc bất hồi tố, rõ ràng và có thể dự
đoán được.
Làm chậm tiến trình hội nhập của một quốc gia.
Làm tăng nhận thức xấu về thị trường.
12
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
CHƯƠNG II: NHỮNG TRANH LUẬN VỀ CÁC QUAN ĐIỂM
KIỂM SOÁT VỐN :
Song song với sự phát triển thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện đại, kiểm soát
vốn rất dễ bị lãng quên. Mỗi quốc gia có một chính sách kiểm soát vốn khác nhau tùy theo
tình hình kinh tế chính trị của nước đó. Thêm nữa, vấn đề kiểm soát vốn còn thể hiện
những thay đổi của quốc gia không đúng thực tế. Do vậy rất khó để một quốc gia có được
một hệ thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả. Đã có rất nhiều ý kiến quan điểm trái ngược
nhau của các nhà kinh tế học về vấn đề kiểm soát vốn.Có nên hay không nên kiểm soát
vốn,và nếu có thì kiểm soát như thế nào thì hiệu quả.
1/ Những quan điểm trái ngược nhau nên hay không nên kiểm soát vốn :
1.1/ Về lý thuyết :
Có các bất đồng về những lợi ích của việc kiểm soát vốn đầu tư:
- Những nhà nghiên cứu ủng hộ việc tự do hóa vốn đầu tư đã chỉ ra rằng chính các tài
khoản vốn có tính khả hoán sẽ thu hút vốn cho các hoạt động đầu tư, mà điều này đóng vai
trò quyết định đối với một nền kinh tế mới nổi. Ngoài ra, kiểm soát vốn sẽ tạo ra một thị
trường méo mó, ngăn cản tiến trình phân phối các nguồn lực một cách hiệu quả. Allen và
13
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
Gale (1998), thậm chí đã chứng minh rằng, theo một số điều kiện nhất định, khủng hoảng
tài chính được tối ưu, thì nó cũng có nghĩa là thị trường tự kỷ luật mình.
- Các tác giả khác, những người ủng hộ việc kiểm soát vốn, thì lại trình bày 3 tranh
luận khác :
+Trước tiên, tự do hóa nguồn vốn sẽ dễ đẩy quốc gia vào tình trạng của sự tấn công từ
việc đầu cơ.
+Thứ hai, nó thúc đẩy những tiềm ẩn của rủi ro đạo đức do sự dễ dàng trong việc
khuếch trương tín dụng cùng với các khoản tiền gửi hoặc cho vay bảo đảm.
+Cuối cùng, trong một cuộc khủng hoảng, thì mục tiêu ngắn hạn sẽ là điều hòa, và
làm ổn định thị trường tài chính của một quốc gia, chứ không phải lo lắng về mặt hiệu quả.
1.2/ Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn trong cuộc khủng hoảng tài chính
Châu Á năm 1997:
“Việc xem kiểm soát vốn như là một phương thuốc cho cuộc khủng hoảng”, điều này
được chứng minh bằng cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997.(còn được gọi là
Khủng hoảng tiền tệ Đông Á hay Khủng hoảng IMF )
Khủng hoảng tiền tệ Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm
1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và
giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là
"những con Hổ Đông Á" như : Malaysia, Hàn Quốc, Inđônêxia Còn Đại lục Trung Hoa,
Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng
nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài
hạn của chính bản thân mình.
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" nhưng ảnh hưởng của nó lại lan
truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn
lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét