Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Đầu tư Xây dựng và Phát triển Công nghệ.DOC

Luận văn tốt nghiệp 5
LỜI MỞ ĐẦU
Hoà vào xu thế hội nhập của nền kinh tế Thế Giới với nhiều cam go và
thử thách với một nền kinh tế năng động và mang nhiều tính cạnh tranh, Việt
Nam đang cố gắng nỗ lực xây dựng mọi thứ về nhân lực và vật lực để có một
nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế. Một trong những vấn đề mà Việt
Nam cần phải chú trọng đầu tư và phát triển đó là vốn. Vốn có vai trò rất quan
trọng, nó là thứ không thể thiếu của nền kinh tế Thế Giới, của Quốc Gia, của
DN và của từng cá nhân. Vốn là điều kiện “cần” cho quá trình sản xuất kinh
doanh và lưu thông hàng hoá. Đối với mỗi DN thì vốn là điều kiện tiên quyết
để một DN bất kỳ thành lập và đi vào hoạt động. Từ việc hình thành và sản
xuất kinh doanh, DN sẽ đi đến một định hướng, đó là: sự tồn tại lâu dài, sự
phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Muốn làm được
điều này, đòi hỏi DN phải có khả năng sử dụng nguồn vốn của mình sao cho
đạt hiệu quả nhất. Để từ đó, không những DN có thể tồn tại được, có chỗ
đứng của mình trên thương trường, mà còn có thể sử dụng những phần lợi
nhuận từ việc sử dụng hiệu quả của nguồn vốn đem lại để tiến hành đầu tư, tái
sản xuất mở rộng quy mô, đưa DN ngày càng phát triển lớn mạnh hơn.
Hiện nay vấn đề sử dụng vốn tại các cơ quan Nhà nước ở nước ta chưa
thực sự đem lại hiệu quả. Vốn sử dụng chưa đúng mục đích, còn dàn trải gây
thất thoát lớn. Công ty Đầu tư Xây dựng và Phát triển Công nghệ cũng không
nằm ngoài thực trạng đó. Trong quá trình thực tập tại Công ty, em nhận thấy
rằng mặc dù Công ty đã có những nỗ lực đáng kể trong việc sử dụng vốn song
kết quả mang lại vẫn chưa cao: lợi nhuận thấp, chi phí tăng nhanh. Vì vậy với
những kiến thức thu thập được từ chuyên ngành Quản lý kinh tế và một số
kiến thức về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp em đã chọn cho mình đề tài:
”Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Đầu tư Xây dựng và Phát
triển Công nghệ”. Qua nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng vốn tại công
ty, em đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Luận văn tốt nghiệp 6
đối với công ty. Em hi vọng rằng nó sẽ phần nào giúp cho Công ty nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn hơn nữa trong thời gian tới.
Nội dung bài viết của em bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về vốn
Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Đầu tư Xây
dựng và Phát triển Công nghệ.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty.
Do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế cả về lý luận và thực tiễn,
nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận
được sự quan tâm và đóng góp ý kiến của quý thầy cô, quý cơ quan thực tập
để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Đỗ Hải Hà – người hướng dẫn
khoa học, các cô chú trong toàn thể Công ty, đặc biệt là các cô các chị trong
phòng Tài chính – Kế toán đã giúp đỡ chỉ bảo em rất tận tình, để em có thể
hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất.


Luận văn tốt nghiệp 7
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN
I. Vốn và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của vốn.
1.1. Khái niệm vốn.
Như chúng ta đã biết, bất kì một doanh nghiệp (DN) nào muốn đi vào
hoạt động đều cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết để một DN được
thành lập và tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong mọi loại hình DN, vốn
phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư cho hoạt động kinh doanh của DN. Vậy
vốn là gì?
Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “ Capital ” có
nghĩa là “ Tư bản ”. Tuy nhiên trên thực tế, khi nói về vốn thì chưa có một
khái niệm nào được thống nhất. Qua mỗi hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác
nhau mà có những quan điểm khác nhau về vốn.
Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hóa
thành phạm trù tư bản. K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị
thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất
1
. Định nghĩa này có một tầm khái
quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Qua định nghĩa
ta thấy được bản chất của vốn là giá trị dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau như: tài sản cố định, nhà cửa, phân xưởng, Vai trò của vốn
chính là tạo ra giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên do hạn chế về hoàn cảnh xã hội lúc
bấy giờ, K.Marx chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong lĩnh vực sản xuất vật chất
và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho
nền kinh tế.
1
Giáo trình kinh tế chính trị Mac-Lênin – Trang 104.

Luận văn tốt nghiệp 8
Theo Paul A.Samuelson và William D.Nordhaus thì: Vốn bao gồm các
loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu
ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại vài
năm, trong khi một số khác có thể tồn tại tới một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc
điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu
ra, vừa là yếu tố đầu vào của sản xuất
1
. Còn David Begg, Stanley Fich thì cho
rằng: Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các
hàng hóa, sản phẩm đã được sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác. Vốn
tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp
2
. Theo định nghĩa này
D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Như vậy, các khái niệm về vốn tuy có khác nhau về góc độ nhìn nhận
nhưng chung quy lại có thể coi vốn là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu
của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Vì vậy, vốn phải có trước khi
diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh và sau một chu kì kinh doanh phải
được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ tiếp theo
3
. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
thực sự là một mục tiêu mà doanh nghiệp luôn phải đặt lên hàng đầu trong
danh sách các mục tiêu của mình.
Nói thêm rằng, hiện nay khái niệm về vốn ở nước ta được định nghĩa
như sau: Về mặt pháp luật, vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản của mọi
người gồm chủ sở hữu, các thành viên, Nó tượng trưng các quyền, nhất là
quyền sở hữu mà người chiếm hữu vốn đó có thể tùy ý sử dụng và do đó nhận
được thu nhập trong lao động mà không bị phản đối. Về mặt kế toán tài chính,
vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, bao gồm
tiền mặt và hiện vật được sử dụng trong kinh doanh. Giá trị của những tài sản
này bất biến nhờ khấu hao. Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định, vốn
lưu động và vốn chuyên dụng
4
.
1
Kinh tế học tập I – Paul A.Samuelson, tr.513.
2
Kinh tế học – David Begg, tr.23.
3
Tài chính học – trang 103.
4
Vốn - www.dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Luận văn tốt nghiệp 9
Như vậy dưới góc độ DN, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ
bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình
SXKD. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất vật
chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt
thời gian tồn tại của DN. Vốn không thể mất đi mà phải ngày càng sinh sôi
nảy nở. Mất vốn đối với DN đồng nghĩa với nguy cơ phá sản. Do vậy, DN
muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có phương pháp sử dụng vốn một cách
hiệu quả nhất.
1.2. Đặc trưng cơ bản của vốn
1
.
Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, là yếu tố tiên quyết và không thể
thiếu đối với mọi hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn có một số nét đặc trưng
riêng biệt sau:
Đặc trưng cơ bản đầu tiên mà khi nhắc tới vốn không thể không nghĩ
tới, đó là tính tuần hoàn và vận động sinh lời. Trong quá trình tái sản xuất,
vốn của các đơn vị hoạt động kinh doanh luôn vận động không ngừng qua các
giai đoạn khác nhau. Qua mỗi giai đoạn vận động, vốn không ngừng biến đổi
cả hình thái biểu hiện lẫn quy mô. K.Marx đã tìm thấy quy luật vận động của
vốn mà quy luật này nếu ta trừu tượng biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ
thấy một điều bổ ích qua công thức:

TLLĐ
T – H Sản xuất H’ T’
ĐTLĐ
Công thức này tương ứng với ba giai đoạn: Mua – Sản xuất – Bán
hàng. Ở giai đoạn một là mua: doanh nghiệp phải có vốn tiền tệ để mua sắm
những tư liệu sản xuất như thiết bị, máy móc, nhà xưởng, và thuê nhân
1
Tài chính học – trang 104.

Luận văn tốt nghiệp 10
công. Hình thái của vốn ở giai đoạn này được chuyển từ vốn tiền tệ thành vốn
dự trữ cho sản xuất.
Giai đoạn hai – giai đoạn sản xuất là giai đoạn kết hợp giữa lao động,
tư liệu lao động và đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Ở giai đoạn này
vốn không chỉ biến hóa hình thái mà còn thay đổi về lượng giá trị, tạo ra
lượng giá trị mới của sản phẩm hàng hóa. Lúc này vốn được biểu hiện dưới
giá trị của các sản phẩm hàng hóa.
Giai đoạn ba là giai đoạn bán hàng. Lúc này vốn được chuyển từ hình
thái hiện vật sang hình thái tiền tệ - hình thái ban đầu và tăng lên về giá trị so
với giá trị ban đầu bỏ ra. Phần chênh lệch này được tạo ra từ quá trình sản
xuất, được thực hiện ở khâu tiêu thụ và biểu hiện dưới hình thái lợi nhuận.
Đây được coi là kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Đối với lĩnh vực phân phối, lưu thông (thương mại) vốn vận động qua
hai giai đoạn: T – H – T’. Trong trường hợp này, H là hàng hóa dịch vụ được
lưu thông và thực hiện giá trị. Với phương thức đầu tư vốn kinh doanh thì vốn
vận động qua công thức: T – T’.
Như vậy, dù đối với lĩnh vực nào thì đồng vốn vẫn luôn chứa đựng
trong nó tính tuần hoàn và tính sinh lợi. Cho dù trong suốt chu kỳ kinh
doanh, vốn được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng khi kết
thúc một chu kỳ vốn sẽ quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu với mức giá trị
lớn hơn. Do vậy, mỗi doanh nghiệp hay mỗi người sản xuất đều phải biết tìm
các cấu trúc giai đoạn một cách khôn ngoan các yếu tố tiền vốn, đầu tư nhằm
tạo ra nhiều của cải nhất cho mỗi cá nhân, doanh nghiệp và xã hội.
Thứ hai, vốn đại diện cho một khối lượng hàng hóa nhất định. Hay nói
cách khác, vốn phải được đảm bảo bằng một tài sản có thực. Tài sản đó được
thể hiện bằng tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình của doanh nghiệp như: nhà
xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, Với hình thức này các tài sản tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không bị mất đi mà thu hồi lại được

Luận văn tốt nghiệp 11
giá trị qua hoạt động trích khấu hao. Đây cũng chính là hoạt động bảo toàn
vốn.
Thứ ba, vốn phải được tích tụ và tập trung tới một mức nhất định. Sự
tích tụ và tập trung một lượng vốn đến một hạn độ nào đó mới làm cho nó có
đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh, cho dù là nhỏ nhất. Vì thế, một
doanh nghiệp muốn khởi nghiệp thì nhất thiết phải có một lượng vốn pháp
định đủ lớn. Tuy nhiên, vốn không tự dưng mà có, để có vốn doanh nghiệp
phải tìm các biện pháp khai thác, thu hút các nguồn tiền tệ nhàn rỗi thành một
“món lớn” để đầu tư kinh doanh.
Thứ tư, vốn gắn liền với chủ sỡ hữu nhất định. Ở đâu có những đồng
vốn vô chủ thì ở đó có tình trạng chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả. Tuy nhiên
tùy theo hình thức đầu tư vốn mà người sở hữu vốn và người sử dụng vốn có
thể đồng nhất hoặc là tách rời. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là
một loại hàng hóa đặc biệt bởi người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng
vốn trong một thời gian nhất định. Chi phí của việc sử dụng vốn chính là lãi
suất. Chính nhờ đặc điểm này mà vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh
doanh để sinh lợi.
Thứ năm, vốn có giá trị về mặt thời gian vì sức mua của đồng tiền ở mỗi
thời điểm khác nhau là khác nhau. Điều này là do ảnh hưởng khách quan từ
nền kinh tế: lạm phát, giá cả, chính trị xã hội, Vì vậy để sử dụng đồng vốn
một cách hiệu quả nhất, doanh nghiệp cần tạo ra giá trị lớn nhất của đồng vốn
theo thời gian.
Với năm đặc điểm trên đã tạo ra tính riêng biệt cho tài sản vốn.
2. Phân loại vốn
1
Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Nếu đứng từ nhiều góc độ, vốn sẽ
được nhìn nhận và phân loại theo những cách khác nhau. Vì vậy để sử dụng
hiệu quả nguồn vốn, các doanh nghiệp cần nhìn nhận một cách khách quan,
1
Quản trị doanh nghiệp thương mại – trang 145.

Luận văn tốt nghiệp 12
tổng thể về vốn từ nhiều góc độ. Để từ đó, doanh nghiệp có thể đề ra được
một cơ cấu vốn tối ưu phù hợp với mỗi doanh nghiệp nhằm mang lại hiệu quả
cao nhất từ việc sử dụng vốn.
Có thể đứng trên các giác độ khác nhau để xem xét vốn kinh doanh.
Các giác độ phổ biến thường được xem xét là:
2.1. Giác độ pháp luật:
Vốn ở DN được quy định thành:
- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp
luật để thành lập DN. Tùy theo từng ngành, nghề, từng loại hình sở hữu DN
và từng thời kỳ, Nhà nước có quy định mức vốn pháp định hoặc DN phải
đăng ký mức vốn cần phải có khi thành lập DN.
- Vốn điều lệ: là số vốn do tất cả các thành viên góp và được ghi vào
điều lệ công ty. Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở
hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền
Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị
quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong
điều lệ công ty do các thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.
- Vốn có quyền biểu quyết: là phần vốn góp, theo đó, người sở hữu có
quyền biểu quyết về những vấn đề được hội đồng thành viên hoặc đại hội
đồng cổ đông quyết định
2.2. Giác độ hình thành vốn.
Đứng trên giác độ này, vốn được chia làm bốn loại:
- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành DN, tức là số
vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc số vốn đóng góp của công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc doanh
nghiệp tư nhân, hoặc vốn Nhà nước giao của DN Nhà nước.

Luận văn tốt nghiệp 13
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, phần vốn đóng
góp của tất cả các thành viên phải đóng đủ ngay khi thành lập công ty. Đối
với công ty cổ phần: vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Công ty cổ phần có cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ
thông. Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó gọi là cổ phiếu. Giá trị
của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu.
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, từ Nhà
nước bổ sung bằng phân phối hoặc sát nhập, cơ cấu lại DN, do sự đóng góp
của các thành viên, do bán trái phiếu,
- Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết liên doanh
với nhau để hoạt động.
- Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, DN ngoài số vốn tự có và
coi như tự có (vốn chủ sở hữu) còn phải sử dụng một khoản vốn đi vay khá
lớn của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra còn có các khoản vốn chiếm
dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, các khách hàng và bạn hàng cũng
như các tổ chức tài chính tín dụng khác.
2.3. Giác độ chu chuyển vốn kinh doanh.
Trong hoạt động kinh doanh, vốn kinh doanh luôn vận động khác nhau.
Đứng trên giác độ chu chuyển vốn kinh doanh, người ta chia vốn kinh doanh
của DN thành 2 loại: vốn lưu động và vốn cố định.
- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
thông. VLĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh
doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của
hàng hóa.
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ của DN dùng trong
kinh doanh. TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình

Luận văn tốt nghiệp 14
kinh doanh, nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ
kinh doanh, nghĩa là về mặt thời gian phải trên một năm trở lên.
2.4. Căn cứ vào một số chỉ tiêu khác.
Ngoài ba cách phân loại vốn cơ bản như trên, doanh nghiệp có thể phân
loại theo một số tiêu chí sau:
- Theo thời gian sử dụng vốn: thì vốn được chia làm vốn trung dài hạn
và vốn ngắn hạn. Vốn dài hạn có thời gian sử dụng trên một năm. Vốn ngắn
hạn có thời gian sử dụng dưới một năm và lãi suất thường thấp hơn tài trợ dài
hạn.
- Căn cứ vào quyền sở hữu đối với vốn thì toàn bộ vốn được chia thành
vốn của chủ sở hữu DN và vốn vay ( nợ vay). Vốn chủ sở hữu là phần vốn do
Nhà nước giao cho DN nhà nước; vốn cổ phần, vốn góp của công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc doanh
nghiệp tư nhân. Vốn chủ sở hữu được sử dụng lâu dài, không phải trả lãi cho
vốn cổ phần đã huy động được mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở hữu
theo kết quả và hiệu quả kinh doanh của DN và theo điều lệ của DN hoặc theo
quy định của Nhà nước. Vốn đi vay là các khoản vốn DN đi vay các tổ chức
tín dụng hoặc các đơn vị khác. Các tổ chức này không phải là chủ sở hữu của
DN. Do vậy, DN phải trả lãi cho các khoản tiền vay theo mức lãi thỏa thuận
trong suốt cả thời hạn vay. Hết thời hạn vay, DN phải trả lãi và vốn hoặc gia
hạn mới nếu muốn kéo dài thời gian sử dụng.
3. Vai trò và chức năng của vốn.
1
Vốn kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với DN. Vốn là
điều kiện không thể thiếu được để thành lập DN và đi vào hoạt động sản xuất
kinh doanh.
1
Giáo trình quản trị doanh nghiệp thương mại – tập 2. trang 151

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét