Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư tại Tổng công ty khoáng sản -TKV

5

trong lĩnh vực đầu t và quản lý dự án đầu t. Để có số liệu cơ sở cho thực
hiện đề tài, tôi đã thu thập các số liệu về tình hình thực hiện các dự án đầu t
của Tổng công ty Khoáng sản TKV từ năm 1995 đến nay và tìm hiểu về quá
trình thực hiện công tác quản lý dự án đầu t của Tổng công ty. Ngoài ra tôi
cũng đã tham khảo ý kiến của một số lãnh đạo và chuyên viên trực tiếp quản
lý về đầu t của Tổng công ty và các chuyên gia khác trong lĩnh vực quản lý
đầu t xây dựng.
5. úng gúp ca lun vn
Với sự lựa chọn thực hiện đề tài này, tôi đã cố gắng đa ra và hy vọng
ngời đọc sẽ thấy đợc khái quát về quá trình hình thành và phát triển của
Tổng công ty Khoáng sản TKV gắn liền với lịch sử ngành công nghiệp
khoáng sản của Việt Nam; khái quát về các dự án đầu t và thực trạng công
tác quản lý dự án đầu t của Tổng công ty; thấy đợc những mặt tích cực
trong công tác quản lý dự án cũng nh những hạn chế vẫn còn tồn tại trong
công tác quản lý. Từ những phân tích đó, ngời viết sẽ đa ra một số giải pháp
để hoàn thiện những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu t tại
Tổng công ty Khoáng sản TKV.
6. Kt cu ca lun vn
Để thể hiện đợc mục tiêu của đề tài, bản luận văn này đợc chia thành
3 chơng. Chơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu t trình bày
những khái niệm cơ bản về đầu t và dự án đầu t, nội dung của dự án đầu t

và nội dung của công tác quản lý dự án. Chơng 2: Tình hình quản lý các dự
án đầu t tại Tổng công ty Khoáng sản TKV trình bày giới thiệu về Tổng
công ty Khoáng sản TKV và phân tích hiện trạng, đánh giá tình hình quản lý
các dự án đầu t của Tổng công ty từ khâu lập dự án, chuẩn bị đầu t, thực
hiện đầu t, một số vấn đề chính còn tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu
t ở Tổng công ty. Chơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
6

các dự án đầu t tại Tổng công ty Khoáng sản TKV đa ra một số giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu t trong thời gian tới.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Tiến sỹ Ngô
Trần ánh đã tận tình giúp đỡ và hớng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành bản
luận văn này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo
giảng viên Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội đã cho tôi những kiến thức quý
báu, các lãnh đạo và chuyên gia Tổng công ty Khoáng sản TKV đã cung cấp
những ý kiến đóng góp và cung cấp số liệu cho tôi thực hiện bản luận văn này.




7

CHƯƠNG 1
CƠ Sở Lý THUYếT Về Dự áN ĐầU TƯ và quản lý
dự án đầu t

Khi đánh giá một dự án đầu t của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng nh tổ
chức quản lý thực hiện dự án, trớc hết chúng ta cần hiểu rõ những khái niệm
cơ bản về dự án đầu t cũng nh phơng pháp quản lý dự án. Trên cơ sở
những khái niệm đầu tiên này, mỗi dự án lại có những tính chất, đặc điểm
riêng mà để phân tích hiệu quả của mỗi dự án đó chúng ta phải dùng những
khái niệm cơ bản làm thớc đo để đánh giá bản chất của vấn đề. Trớc hết ta
hãy xem bản chất của đầu t, dự án đầu t và quản lý dự án đầu t.

1.1. Khái niệm cơ bản về đầu t
Theo Luật Đầu t số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của
Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: đầu t là việc nhà đầu
t bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản
tiến hành các hoạt động đầu t theo quy định của Luật này và các quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Ngân hàng thế giới cho rằng Đầu t là sự bỏ vốn trong một thời gian
dài vào một lĩnh vực nhất định nào đó nhằm thu lợi nhuận cho nhà đầu t và
thu lợi ích kinh tế xã hội cho đất nớc đợc đầu t.
Từ các định nghĩa trên, hoạt động đầu t có những đặc điểm chính sau :
- Trớc hết phải có vốn, vốn bằng tiền hay bằng các loại tài sản khác
hay bằng bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, vốn có thể là của nhà
nớc, t nhân, cổ phần, vay,
- Thời gian thực hiện tơng đối dài, thờng là hai năm trở lên. Các hoạt
8

động ngắn hạn dới một năm tài chính thờng không gọi là đầu t. Do thời
gian dài nên ngời đầu t và thẩm định đầu t cần có tầm nhìn xa.
- Lợi ích của đầu t mang lại biểu hiện trên hai mặt là lợi nhuận (lợi ích
tài chính) và lợi ích kinh tế xã hội. Nhà đầu t t nhân muốn đầu t sinh lợi
nhuận, còn nhà nớc đầu t thì muốn có hoặc lợi nhuận hoặc lợi ích.
Các hình thức đầu t (Theo Luật đầu t 2005) gồm có:
- Đầu t trực tiếp: Là hình thức đầu t do nhà đầu t bỏ vốn đầu t và
tham gia quản lý hoạt động đầu t.
- Đầu t gián tiếp: Là hình thức đầu t thông qua việc mua cổ phần,
cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu t chứng khoán
và các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu t không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu t.
Trong đó: Nhà đầu t theo Luật đầu t 2005, là tổ chức, cá nhân thực
hiện hoạt động đầu t theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm:
- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh
nghiệp;
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã;
- Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc thành lập trớc khi Luật
này có hiệu lực;
- Hộ kinh doanh, cá nhân;
- Tổ chức, cá nhân nớc ngoài; ngời Việt Nam định c ở n
ớc ngoài;
ngời nớc ngoài thờng trú ở Việt Nam;
- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Có thể nói đầu t có đặc điểm chính là vốn. Vốn ở đây có thể đợc biểu
hiện bằng tiền, chứng khoán, cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu hay các tài sản cố
định nh công trình, nhà xởng, đờng sá; tài sản lu động nh máy móc,
thiết bị, phơng tiện giao thông hoặc các giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí
9

quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, quyền sử dụng đất, mặt nớc, mặt biển,
không gian cũng nh nhiều nguồn tài nguyên khác.
Hoạt động đầu t đợc hiểu nh một quá trình đầu t hay một tập hợp
các hoạt động thực tiễn để thực hiện đầu t nhằm đạt đợc lợi ích tài chính,
kinh tế và xã hội.
Theo Luật Đầu t 2005: Hoạt động đầu t là hoạt động của nhà đầu t
trong quá trình đầu t bao gồm các khâu chuẩn bị đầu t, thực hiện và quản lý
dự án đầu t.
Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) ảnh hởng trực tiếp đến
quyền lợi của chủ đầu t, còn lợi ích kinh tế xã hội ảnh hởng đến quyền lợi
của xã hội, của cộng đồng.
Hoạt động đầu t trong mỗi doanh nghiệp có ba loại trao đổi các giá trị
kinh tế chủ yếu. Chính ba loại trao đổi này xác định các chức năng cơ bản của
hoạt động đầu t. Ba loại trao đổi đó bao gồm:
- Trao đổi để huy động vốn cần thiết (chức năng tài chính)
- Trao đổi để khai thác nguồn vốn có sẵn (chức năng đầu t)
- Trao đổi để đem lại thu nhập về tài chính dựa trên số vốn đầu t (chức
năng sản xuất)
Chức năng tài chính thể hiện ở các hoạt động huy động vốn từ các nhà
đầu t, ngời cho vay vốn và hoàn trả cho họ từ những nguồn thu của công ty.
Trên quan điểm phân tích dự án, nguồn vốn của một công ty thờng đợc
phân thành hai loại: vốn cổ phần và vốn vay.
Vốn cổ phần đợc huy động qua việc phát hành cổ phiếu. Ngời mua
cổ phiếu là ngời đầu t và có quyền sở hữu một phần đối với công ty. Phần
lợi nhuận giữ lại trong phần lãi cổ phần để mở rộng đầu t
, cũng đợc gọi là
vốn cổ phần.
10

Vốn vay đợc vay từ ngân hàng hoặc từ một công ty cho vay thế chấp
huy động qua việc phát hành trái phiếu và các nguồn khác. Đây là nguồn vốn
của những ngời cho công ty sử dụng vốn để lấy lãi chứ không có quyền sở
hữu đối với công ty.
Chức năng đầu t và sản xuất thể hiện ở các hoạt động đầu t và sản
xuất của công ty. ở mỗi thời kỳ, công ty thờng có một số cơ hội đầu t. Mỗi
một cơ hội nh vậy đợc gọi là một dự án đầu t hay đơn giản hơn là một dự
án.
Chức năng đầu t là chức năng ra quyết định về các dự án đầu t (lựa
chọn hoặc gạt bỏ). Muốn thế công ty phải tiến hành nghiên cứu cơ hội đầu t,
ớc lợng chi phí, thu nhập, ớc lợng những tổn thất và lợi ích của các hệ
quả đầu t không định lợng bằng tiền tệ, phân tích và lựa chọn dự án theo
một tiêu chuẩn hiệu quả nào đó phù hợp với mục tiêu của công ty.

1.2. Khái niệm về Dự án và Dự án đầu t
1.2.1. Khái niệm về dự án
ở trên chúng ta đã nhắc đến khái niệm dự án, vậy dự án là gì và các
khía cạnh đa dạng và phong phú của công tác điều hành dự án nh thế nào?
Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ đa ra khái niệm về dự án và xem xét
cách triển khai dự án.
Theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt
động đặt thù, một nhiệm vụ cần phải đợc thực hiện với phơng pháp riêng,
nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác
định, dự án không phải là một nghiên cứu trừu tợng mà tạo nên một thực thể
mới, là một nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy
nhất.
11

Trên phơng diện quản lý, có thể định nghĩa Dự án là những nỗ lực có
thời hạn nhằm tạo ra những sản phẩm/ dịch vụ duy nhất. Nỗ lực có thời hạn có
nghĩa là mọi dự án đầu t đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Một số
đặc trng cơ bản của dự án nh sau:
- Dự án có mục đích, kết quả xác định, có chu kỳ phát triển riêng và có
thời gian tồn tại hữu hạn
- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ), môi
trờng hoạt động va chạm, tính bất định và độ rủi ro cao.
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tơng tác phức tạp giữa các bộ
phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Để thực hiện thành công mục tiêu
của dự án, các nhà quản lý dự án cần phải duy trì thờng xuyên mối quan hệ
với các bộ phận quản lý khác.
Theo bách khoa toàn th, từ Project- dự án đợc định nghĩa là Điều
ngời ta có ý định làm hay Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành
động. Đặc điểm của dự án là ở chỗ kết hợp mong muốn với hiện thực, ý
tởng với hành động. Không có cố gắng nghị lực thì sẽ không đạt đợc mục
đích và dự án sẽ tồn tại ở hình thể tiềm tàng, mơ hồ.
Để hiểu một cách đúng đắn ý nghĩa của từ dự án, phải lấy của cả hai
mặt: ý tởng và hành động. Do đó chúng ta có thể định nghĩa: thực hiện một
dự án là xác định và dẫn dắt đến thành công một tổ hợp các hành động, quyết
định và hàng loạt các công việc phụ thuộc lẫn nhau trong một chuỗi liên kết
nhằm:
a) Đáp ứng một nhu cầu đã đề ra;
b) Chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực;
c) Thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn.
Chúng ta nói dự án nhằm đáp ứng một nhu cầu đã đề ra bởi vì dự án
đợc xuất phát từ một ý tởng, ý tởng bắt nguồn từ một cơ hội. Cơ hội này có
12

thể trở thành một hiện thực hay không thì quá trình thực hiện dự án phải đợc
tiến hành. Nếu không có một nhu cầu cụ thể thì sẽ không có dự án.
Bất kỳ dự án nào cũng chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn vì mỗi mục tiêu
mỗi nhu cầu đều chỉ xuất hiện theo từng thời điểm. Có thể trong giai đoạn
trớc mắt tồn tại mục tiêu đó song nếu dự án chỉ đợc hoàn thành sau thời
điểm dự kiến thì có thể mục tiêu đó đã không còn hoặc giảm hiệu quả lợi ích.
Bất kỳ sự trễ hạn nào cũng kéo theo một chuỗi nhiều biến cố bất lợi nh bội
chi, khó tổ chức lại nguồn lực, tiến độ cung cấp thiết bị vật tkhông đáp ứng
đợc nhu cầu sản phẩm vào đúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện nh dự án ban
đầu.
Dự án thờng bị ràng buộc về nguồn lực vì khi nhắc đến dự án, ngời ta
nhìn thấy ngay các khoản chi phí: tiền bạc, phơng tiện, dụng cụ, thời gian, trí
tuệ Các nguồn lực này ràng buộc chặt chẽ với nhau và tạo nên khuôn khổ
của dự án. Vì khối lợng chi phí nguồn lực cho dự án là một thông số then
chốt phản ánh mức độ thành công của dự án đối với những dự án có quy mô
lớn. Hầu hết các dự án có quy mô lớn đều phải trải qua những thời kỳ khó
khăn vì bất kỳ một quyết định nào cũng bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ:
chủ đầu t, nhà t vấn và các nhà thầu bên cạnh các đối tác cung cấp vốn,
nhân lực, vật t và các tổ hợp công nghệ, kỹ thuật
Vấn đề ràng buộc cuối cùng của dự án là dự án luôn tồn tại trong một
môi trờng không chắc chắn. Tất cả các loại dự án quy mô nhỏ hay quy mô
lớn đều đợc triển khai trong một môi trờng luôn biến đổi. Công tác điều
hành dự án do vậy phải tính đến hiện tợng này để phân tích và ớc lợng các
rủi ro, chọn lựa giải pháp cho một tơng lai bất định, đảm nhận và dự kiến
những bất lợi có thể ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dõi và
có phản ứng kịp thời đảm bảo cho việc hoàn thành dự án đúng yêu cầu.
1.2.2. Khái niệm về dự án đầu t
13

Dự án đầu t là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở
rộng hoặc cải tạo những đối tợng nhất định nhằm đạt đợc sự tăng trởng về
số lợng, cải tiến hoặc nâng cao chất lợng sản phẩm/ dịch vụ nào đó trong
một khoảng thời gian nhất định. Cùng khái niệm này, Luật đầu t năm 2005
ghi Dự án đầu t là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến
hành các hoạt động đầu t trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác
định.
Hay Luật xây dựng ghi Dự án đầu t xây dựng công trình là tập hợp
các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải
tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao
chất lợng công trình hoặc sản phẩm/ dịch vụ trong một thời gian nhất định.
Cụ thể là, phát hiện ra một cơ hội đầu t và muốn bỏ vốn đầu t vào một lĩnh
vực nào đó, trớc hết nhà đầu t phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác
định điều kiện và khả năng, xác định phơng án tối u để xây dựng bản dự án
đầu t mang tính khả thi đợc gọi tắt là Dự án đầu t (Luận chứng kinh tế kỹ
thuật).
Theo nghĩa khác, Ngân hàng thế giới cho rằng Dự án đầu t là tổng
thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau đợc hoạch định
nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định.
Nói một cách tổng quát dự án đầu t là một tập hợp những đề xuất có
liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật
chất nhất định nhằm đạt đợc sự tăng trởng về số lợng hoặc duy trì, cải tiến,
nâng cao chất lợng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác
định.
Tính chung của định nghĩa này vẫn nằm trong khuôn khổ các yếu tố:
mục đích, nguồn lực và thời gian. Bất cứ một dự án nào có thể khác nhau về
14

mục tiêu hay phơng tiện cách thức tiến hành nhng vẫn đảm bảo tính nguyên
vẹn của bản chất dự án.

1.3. Nội dung Quản lý dự án đầu t
Thực tế nội dung chính của quản lý dự án đầu t bao gồm các công việc
hình thành và thực hiện sau khi đã có dự án đầu t đợc phê duyệt. Tuy nhiên,
để có cái nhìn tổng quát về quản lý dự án đầu t, chúng ta sẽ nghiên cứu từ
quá trình lập dự án, thẩm định dự án và tổ chức thực hiện quản lý dự án.

1.3.1. Lập dự án đầu t
Giai đoạn lập dự án chính là giai đoạn chuẩn bị dự án đầu t xây dựng
cơ bản hay còn gọi là giai đoạn chuẩn bị đầu t, gồm hai công việc chính, đó
là:
Thứ nhất: Xây dựng ý tởng dự án: là việc xác định bức tranh toàn cảnh
về mục tiêu, kết quả cuối cùng và phơng pháp thực hiện kết quả đó. Xây
dựng ý tởng dự án đợc bắt đầu ngay khi dự án bắt đầu hình thành, trên cơ sở
các nguồn lực của nhà đầu t và mục tiêu đạt đợc cuối cùng của dự án.
Thứ hai: Phát triển dự án: phát triển dự án là giai đoạn chi tiết xem dự
án cần đợc thực hiện nh thế nào mà nội dung của nó tập trung vào công tác
thiết kế và lập kế hoạch. Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp
nhất của một dự án. Nội dung của giai đoạn này bao gồm những công việc
sau:
Thành lập nhóm dự án, xác định cấu trúc tổ chức dự án.
Lập kế hoạch tổng quan.
Phân tích công việc của dự án.
Lập kế hoạch ngân sách.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét