Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
KÝ HIỆU VIẾT TẮT ii
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
DANH MỤC BẢNG iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Giới thiệu chung về đậu tương 4
1.1.1. Nguồn gốc 4
1.1.2. Phân loại 4
1.1.3. Vai trò của đậu tương 4
1.1.4. Sinh thái đậu tương 6
1.1.5.2. Tính chịu hạn 7
1.1.5.3. Tính chịu đựng và khả năng phục hồi 7
1.1.5.4. Biến động di truyền về phản ứng với yếu tố bất lợi 8
1.1.6. Đặc tính sinh học của giống đậu tương ĐT26 8
1.2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 9
1.2.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 9
1.2.2. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 10
1.3. Vi khuẩn A.tumefaciens và hiện tượng biến nạp gen ở thực vật 11
1.3.1. Giới thiệu chung về vi khuẩn A. tumefaciens 11
1.3.2. Cấu trúc và chức năng của Ti-plasmid 12
1.3.3. Cấu trúc và chức năng của T-ADN 13
1.3.4. Cơ chế phân tử của việc chuyển gen thông qua A. tumefaciens 13
1.3.5. Các vector biến nạp thực vật không gây ung thư dựa trên Ti-
plasmid 14
1.3.6. Các gen chỉ thị chọn lọc và sàng lọc 15
Bùi Thúy Hiền
- v -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
1.3.7. Hệ thống vector pCAMBIA 17
1.3.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả biến nạp thông qua
A.tumefaciens 19
1.4. Cây trồng biến đổi gen và cây đậu tương biến đổi gen 21
1.4.1. Cây trồng biến đổi gen trên thế giới và việt nam 21
1.4.2. Cây đậu tương biến đổi gen trên thế giới và Việt Nam 22
Chương II - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Vật liệu nghiên cứu 24
2.1.1. Các thiết bị thí nghiệm 24
2.1.2. Hóa chất và môi trường 24
2.1.3. Vi khuẩn 24
2.1.4. Đối tượng nghiên cứu 24
2.2. Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1. Tạo nguồn vật liệu vô trùng 24
♦♦ Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NaClO và thời gian
khử trùng ở giai đoạn khử trùng mẫu. 24
2.2.2. Chuyển gen gus vào đậu tương 25
♦♦ Thí nghiệm 2: Nghiên cứu xác định chủng vi khuẩn thích hợp nhất với
ĐT26 25
♦♦ Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ quang của dung dịch
khuẩn (OD) đến khả năng biểu hiện gus của ĐT26. 27
♦♦ Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian biến nạp đến hiệu
quả chuyển gen gus vào ĐT26. 29
♦♦ Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc gây tổn thương nốt lá
mầm đến sự biểu hiện của gen gus trên ĐT26. 30
♦♦ Thí nghiệm 6: Xây dựng quy trình tái sinh cây chuyển gen 32
♦♦ Thí nghiệm 7: Phân tích cây chuyển gen T0 33
2.3. Các chỉ tiêu đánh giá 35
Chương III - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1. Tạo nguồn vật liệu vô trùng 37
Bùi Thúy Hiền
- vi -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NaClO và thời gian
khử trùng ở giai đoạn khử trùng mẫu 37
3.2. Chuyển gen gus vào đậu tương 39
3.2.1. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu xác định chủng vi khuẩn thích hợp nhất
với ĐT26 39
3.2.2. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ quangdung của
dịch khuẩn (OD) đến khả năng biểu hiện gus của ĐT26. 41
3.2.3. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian biến nạp đến
hiệu suất chuyển gen gus vào ĐT26. 43
3.2.4. Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc gây tổn thương nốt
lá mầm đến sự biểu hiện của gen gus trên ĐT26 45
3.2.5. Thí nghiệm 6: Xây dựng quy trình tái sinh cây chuyển gen 48
3.2.6. Thí nghiệm 7: Tách ADN và phân tích cây chuyển gen 51
Chương IV - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 59
1. Môi trường MS (PH=5,6-5,8) 59
2. Môi trường LB (PH = 7) 59
3. Môi trường sử dụng nuôi cấy mẫu 60
Bùi Thúy Hiền
- vii -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
MỞ ĐẦU
Đậu tương (Glycine max(L.) Merr) hay còn gọi là đậu nành, là cây công
nghiệp ngắn ngày có hiệu quả kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao. Khó có thể tìm thấy
cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương. Là thức ăn có giá trị dinh
dưỡng cao, rất giàu protein thực vật, chứa nhiều loại vitamin và chứa một lượng lớn
axit béo chưa bão hòa rất tốt cho sức khỏe. Trong công nghiệp, đậu tương là nguyên
liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực
in, xà phòng,…nhưng chủ yếu đậu tương dùng để ép dầu. Hiện nay trên thế giới đậu
tương là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm
50% tổng lượng dầu thực vật. Trong nông nghiệp, đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho
gia súc, phân bón. Ngoài ra, đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt, 1ha trồng đậu
tương nếu sinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30-60kg N [10].
Tuy nhiên, với tình hình khí hậu trên trái đất đang biến đổi không ngừng, nhiệt
độ trái đất càng ngày càng tăng cao, từ đó dẫn đến các thiên tai (lũ lụt, hạn hán, bệnh
dịch,…) gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây
trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng. Vì thế để tăng năng suất và chất lượng
thì ngoài việc thực hiện chăm sóc, gieo trồng tốt còn phải tập trung nghiên cứu nhằm
cải thiện các loại giống để chúng có thể cho năng suất cao, chống chịu được các điều
kiện ngoại cảnh bất lợi tốt nhờ những ứng dụng to lớn của công nghệ sinh học hiện
đại.
Trong hơn một thập niên vừa qua, công nghệ sinh học nói chung và cây trồng
biến đổi gen nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc. Từ khoảng 1 triệu ha
đầu tiên năm 1996 trồng tại Châu Mỹ, đến tháng 12 năm 2009, toàn thế giới đã có
134 triệu ha cây trồng biến đổi gen [20], tăng 80 lần so với năm 1996 và tăng 9 triệu
ha so với năm 2008 (125 triệu ha). Trong đó đậu tương biến đổi gen là loại cây biến
đổi gen nổi bật nhất, có tới 69,7 triệu ha chiếm 52% trong tổng diện tích cây biến đổi
gen toàn thế giới và chiếm tới 75% trong tổng diện tích 90 triệu ha trồng đậu tương
trên thế giới [14].
Các đánh giá mới nhất về tác động của cây chuyển gen cho thấy trong khoảng
thời gian từ năm 1996 đến năm 2008, lợi ích kinh tế trị giá 51,9 tỷ USD mà cây biến
đổi gen mang lại được tạo ra từ 2 nguồn: thứ nhất là giảm chi phí sản xuất (50%) và
tăng năng suất thu hoạch bền vững (50%). Số sản lượng tăng thêm này nếu không sử
Bùi Thúy Hiền
- 1 -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
dụng các giống cây chuyển gen thì sẽ cần thêm 62,6 triệu ha để tạo ra chúng. Vì thế
công nghệ sinh học giúp tiết kiệm diện tích trồng trọt, giảm được lượng thuốc trừ sâu
ở mức 365 triệu kg, ứng với 8,4% tổng lượng thuốc trừ sâu sửu dụng trong nông
nghiệp. Chỉ tính riêng trong năm 2008, lượng khí CO2 được cây biến đổi gen hấp thụ
là 14,4 tỷ kg, tương đương với lượng khí thải mà 7 triệu chiếc oto thải ra.
Nước ta là một nước nông nghiệp với đặc điểm nổi bật là mật độ dân số cao
vào loại nhất thế giới, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ đạt khoảng
765m
2
/người. Diện tích đang ngày càng thu nhỏ lại, nhường chỗ cho thành thị, đường
giao thông, khu dịch vụ và phát triển công nghiệp. Ước tính hàng năm chúng ta mất
50000-70000 ha đất canh tác. Trong khi đó biến đổi khí hậu toàn cầu, kéo theo sự
xâm mặn nghiêm trọng, mưa gió bất thường gây ra hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh đang đe
dọa an ninh lương thực của đất nước. Liên hợp quốc đã xếp Việt Nam vào một trong
8 nước có nguy cơ về an ninh lương thực ở Châu Á. Đặc biệt, trong điều kiện mất đất
canh tác, với mức tăng dân số như hiện nay, ngành nông nghiệp phải cung cấp thêm
cho đất nước ít nhất 1 triệu tấn lương thực hàng năm.
Đậu tương là loại cây trồng được quan tâm và chú trọng nhất hiện nay, theo
thống kê đến tháng 03/2010 diện tích trồng đậu tương của nước ta ở thời điểm này là
123,9 nghìn ha [12], sản lượng bình quân là 20 tạ/ha [11]. Tuy vậy nhưng hàng năm
nước ta vẫn phải nhập khẩu một số lượng lớn đậu tương 2300 nghìn tấn (2009) [11],
đứng thứ hai trên toàn Châu Á sau Indonesia. Bên cạnh đó, cây trồng biến đổi gen nói
chung và đậu tương biến đổi gen nói riêng đã được chính phủ Việt Nam cho phép
trồng rộng rãi bắt đầu từ năm 2011.
Xuất phát từ thực tế đó trong thời gian thực tập tốt nghiệp, chúng tôi đã tiến
hành thực hiện đề tài “Bước đầu xây dựng quy trình chuyển gen gus vào giống
đậu tương ĐT26 thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens”.
♦ Mục đích và yêu cầu của đề tài:
- Mục đích:
Xây dựng quy trình công nghệ chuyển gen gus có hiệu quả nhất để từ đó áp
dụng chuyển các gen khác như gen kháng hạn, gen kháng sâu bệnh, gen kháng thuốc
diệt cỏ,…nhằm cải tạo giống đậu tương của Việt Nam.
- Yêu cầu: Trong khuôn khổ một bản đồ án tốt nghiệp, chúng tôi tập trung
nghiên cứu cụ thể các nội dung sau:
* Nghiên cứu tạo vật liệu vô trùng ban đầu
Bùi Thúy Hiền
- 2 -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
* Nghiên cứu quy trình biến nạp hiệu quả nhất, trong đó có:
• Xác định chủng vi khuẩn có khả năng chuyển gen hiệu quả nhất.
• Xác định mật độ quang (OD) của dung dịch khuẩn thích hợp nhất
• Xác định thời gian biến nạp thích hợp nhất
• Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp gây tổn thương
nốt lá mầm đến hiệu quả biến nạp.
• Xây dựng quy trình tái sinh cây đậu tương chuyển gen
• Phân tích cây chuyển gen T0
Bùi Thúy Hiền
- 3 -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về đậu tương
1.1.1. Nguồn gốc
Đậu tương là một trong những loại cây trồng mà loài người đã biết sử dụng và
trồng trọt từ lâu đời, vì vậy nguồn gốc của cây đậu tương cũng sớm được xác minh.
Những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng đậu tương
có nguyên sản ở Châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cây đậu tương được thuần
hóa ở Trung Quốc qua nhiều triều đại tiền phong kiến và được đưa vào trồng trọt và
khảo sát có thể trong triều đại Shang năm 1700-1100 trước B.Cds.
1.1.2. Phân loại
Đậu tương hay đỗ tương, đậu nành có tên khoa học là Glycine max(L.) Merr
theo khóa phân loại của Hymowitz, T. and C.A. Newell [19] căn cứ vào đặc điểm
hình thái, sự phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc thể, nó thuộc:
Bộ đậu : Fabales
Họ đậu : Fabaceae
Phân họ : Leguminosae
Chi : Glycine
Đậu tương trồng có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 40 là loại cây trồng mang lại
giá trị kinh tế cũng như giá trị dinh dưỡng cao.
1.1.3. Vai trò của đậu tương
Cây đậu tương là nguồn thực phẩm có giá trị kinh tế cao, giàu đạm, giàu chất
béo, giàu các chất khoáng và các vitamin. Vì thế, cây đậu tương được gọi là “Ông
hoàng trong các loại cây họ Đậu”, “vàng mọc trên đất”, “cây đỗ thần”,… Sở dĩ được
đánh giá như vậy bởi lẽ cây đậu tương mang lại những giá trị rất toàn diện:
- Giá trị thực phẩm
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình
khoảng từ 35,5-40% (trong khi đó hàm lượng protein trong gạo chỉ 6,2-12%; ngô 9,8-
13,2%; thịt bò 21%; thịt gà 20%; cá 17-20% và trứng 13-14,8%) , lipit từ 15-20%,
lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ
Bùi Thúy Hiền
- 4 -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
số đồng hóa cao, mùi vì thơm như axit linoleic chiếm 52-65%, oleic từ 25-36%,
linolenolic khoảng 2-3% [2] giúp hạn chế lượng cholesterol trong máu, đề phòng xơ
vữa động mạch và cao huyết áp, hidratcacbon từ 15-16% và nhiều loại vitamin quan
trọng cho sự sống [4].
Đậu tương cũng chứa nguồn chất xơ hòa tan trong nước nên có tác dụng kích
thích như động ruột, có lợi cho việc tiêu hóa và phòng ngừa bệnh ung thư ruột già.
Những người mắc bệnh tiểu đường nên sử dụng đậu tương bởi chất xơ hòa tan và
protein trong đậu giúp điều chỉnh lượng đường trong máu rất tốt.
Theo bản thống kê, trên toàn thế giới có khoảng 1,2 vạn sản phẩm làm từ đậu
tương. Ở Nhật Bản, hàng năm dùng tới 460-500 vạn tấn đậu tương (bình quân mỗi
người ăn khoảng 37-40 kg) trong đó có khoảng 80% dùng làm dầu ăn và thức ăn
chăn nuôi, 20% dùng làm thực phẩm. Ở Mỹ, người ta làm ra khoảng 2500 loại thực
phẩm từ đậu tương. Các sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường gồm bột đậu nành
đóng gói, đậu phụ, sữa đậu nành, sữa chua đậu nành,…
- Giá trị về mặt công nghiệp
Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế
biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng, dầu
bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương dùng để ép dầu. Hiện nay
trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu
tương chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật.
- Giá trị về mặt nông nghiệp
♦ Làm thức ăn cho gia súc: Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc 1kg
hạt đậu tương tương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi. Toàn cây đậu tương
(thân, lá, rễ, quả, hạt) có hàm lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân
lá tươi có thể làm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp
của gia súc. Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu có thành phần dinh dưỡng khá
cao: N 6,2% ; P
2
O
5
0,7% ; K
2
O 2,4% . Vì thế làm thức ăn cho gia súc rất tốt [2].
♦ Cải tạo đất: Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt. Trong hệ thống luân
canh, nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với
cây trồng sau, góp phần tăng năng suất cả hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho
việc bón N. Thân lá đậu tương dùng bón ruộng thay thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm
lượng N trong thân chiếm 0,05% trong lá chiếm 0,19% [2].
Bùi Thúy Hiền
- 5 -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
1.1.4. Sinh thái đậu tương
Đậu tương Glycine max(L.) Merr có đặc điểm:
- Rễ đậu tương có rễ chính và rễ phụ. Rễ chính có thể ăn sâu 30-50cm và có
thể trên 1m. Trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ tập trung nhiều ở tầng đất 7-8cm rộng
30-40cm
2
[1] Trên rễ chính và rễ phụ có nhiều nốt sần.
- Thân cây đậu tương thuộc thân thảo, có hình tròn, trên thân có nhiều lông
nhỏ, thân trung bình có 14-15 lóng.Tùy theo giống và thời vụ mà chiều dài lóng có
sự khác nhau thường biến động từ 3-10 cm. Toàn thân có 1 lớp lông tơ ngắn, mọc
dày bao phủ từ gốc lên đến ngọn, đến cả cuống lá.
- Lá cây đậu tương có 3 loại lá:
* Lá mầm (lá tử diệp): lá mầm mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi
tiếp xúc với ánh sáng thì chuyển sang màu xanh
* Lá nguyên (lá đơn): Lá nguyên xuất hiện sau khi cây mọc từ 2-3 ngày
và mọc phía trên lá mầm. Lá đơn mọc đối xứng nhau.
* Lá kép: Mỗi lá kép có 3 lá chét, có khi 4-5 lá chét. Lá chét mọc sole, lá
kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu.
- Hoa đậu tương nhỏ, không hương vị, thuộc loại cánh bướm. Màu sắc của
hoa thay đổi tùy theo giống và thường có màu tím, tím nhạt hoặc trắng. Hoa phát sinh
ở nách lá, đầu cành và đầu thân. Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có từ 1-10 hoa
và thường có 3-5 hoa. Hoa đậu tương thuốc loại hoa đồng chu lưỡng tính trong hoa
có nhị và nhụy, mỗi hoa gồm 5 lá đài, 5 cánh hoa có 10 nhị và 1 nhụy.
- Số quả đậu tương biến động từ 2-20 quả ở mỗi chùm hoa và có thể đạt tới
400 quả trên một cây. Một quả chứa từ 1-5 hạt, nhưng hầu hết các giống thường từ 2-
3 hạt. Quả đậu tương thẳng hoặc hơi cong, có chiều dàu từ 2-7cm hoặc hơn. Quả có
màu sắc biến động từ vàng đến trắng tới vàng sẫm hoặc đen.
- Hạt có nhiều hình dạng khác nhau: hình tròn, hình bầu dục, tròn det, Rốn
hạt của các giống khác nhau thì có màu sắc và hình dạng khác nhau.
1.1.5. Đặc tính của cây đậu tương
1.1.5.1. Tính chịu lạnh
Bùi Thúy Hiền
- 6 -
K51A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp Hà Nội, 06/2010
Nhiệt độ dưới 15
0
C có ảnh hưởng xấu đến nảy mầm của hạt và sự hút nước.
Nhiệt độ dưới 13-15
0
C, giảm ra hoa, đậu quả và ảnh hưởng tới quang hợp và toàn bộ
máy quang hợp.
Tổn thương do lạnh thường gây hại màng tế bào,do màng tế bào không có khả
năng giữ cấu trúc của nó ở nhiệt độ thấp. Các mô, chẳng hạn như hạt phấn đang lớn
dễ nhạy cảm với nhiệt độ thấp hơn các mô khác và dẫn đến sự bất dục ở cây đậu
tương [2].
1.1.5.2. Tính chịu hạn
Tránh hạn là cơ chế một số thời kỳ sinh trưởng phát triển nhạy cảm của cây
đậu tương tránh và thoát các ảnh hưởng trực tiếp của khô hạn. Việc tránh hạn đối với
những vùng có khô hạn dài ngày thì rất khó thực hiện. Ta chỉ có thể chọn thời vụ mà
khô hạn xẩy ra ít nhất để hạn chế ảnh hưởng của nó tới sinh trưởng và năng suất cây.
Hướng chọn giống có tính giảm sự mất nước cho thấy có nhiều triển vọng. Nên chọn
những cây có bộ rễ sâu phân nhánh nhiều, do đó có thể hút nước từ tầng đất sâu và
rộng.
Chịu hạn hoặc do giảm sự mất nước, hoặc cây chịu được sự mất nước. Sự mất
nước qua khí khổng phụ thuộc chủ yếu vào độ mở của khí khổng và sau đó là hướng
lá và các yếu tố khác. Khi hạn xảy ra, lỗ khí khổng lá đóng ngay lại, dẫn đến giảm sự
bốc hơi nước và quang hợp, nhưng sự giảm bốc hơi nước mạnh hơn. Giữa các giống
có sự khác nhau về lớp phấn và lông trên lá. Lớp phấn trên lá có tác dụng giảm sự
bốc hơi [2].
1.1.5.3. Tính chịu đựng và khả năng phục hồi
Cho dù đặc tính giảm sự mất nước của cây tốt đến đâu chăng nữa, cây vẫn bị
tổn thương hoặc chết do khô hạn kéo dài. Có rất ít thông tin về khả năng phục hồi của
cây đậu tương sau khi bị mất nươc nặng. Cây bị lạnh trong thời gian ra hoa, thì hầu
hết những hoa ra trong thời kỳ đó bị rụng và sau đó vài tuần cây có thể ra hoa và đậu
quả nếu thời tiết ấm. Thiếu nước trong giai đoạn sẽ làm giảm thời gian ra hoa. Thiếu
nước trong giai đoạn làm quả sẽ ảnh hưởng tới năng suất nhiều hơn so với thiếu nước
trong giai đoạn ra hoa. Qua các nghiên cứu người ta có thể dự đoán được giai đoạn
nào cây bị ảnh hưởng nhiều do bất lợi (khô hạn, lạnh…). Tuy nhiên, bởi vì người ta
khó có thể dự đoán khi nào bất lợi xảy ra, cho nên người nông dân khó có thể ứng
dụng được những kết quả nghiên cứu đó nếu như điều kiện tưới không có. Tốt nhất,
Bùi Thúy Hiền
- 7 -
K51A Sinh học
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét