Để xác định hàng hoá có bị bán phá giá hay không, việc bán phá
giá có thể gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nớc hay
không để áp đặt các biện pháp chống phá giá thì điều quan trọng nhất
và phức tạp nhất này ở quá trình điều tra về bán pháp giá. ở những
quốc gia khác nhau, việc điều tra sẽ đợc thực hiện bở các cơ quan
chức năng khác nhau. Theo quy định trong Hiệp định về chống bán
pháp giá của WTO thì việc điều tra chỉ đợc tiến hành khi có đơn yêu
cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nớc hoặc của ngời dân
dành cho ngành sản xuất trong nớc. Đơn yêu cầu sẽ đợc coi là đủ t
cách đại diện cho ngành sản xuất trong nớc nếu nh đơn này nhận đợc
sự ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lợng của
sản phẩm tơng tự đợc bắt đầu nếu nh các nhà sản xuất bày tỏ ý kiến
tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lợng của sản phẩm tơng
tự đợc ngành sản xuất trong nớc làm ra.
Trên thực tế, quá trình điều tra về bán phá giá của EU, Mỹ và
một số nớc khác cho thấy việc xác định giá trị thông thờng của hàng
hoá để làm căn cứ xác định biên độ phá giá quá phức tạp và đôi khi
không minh bạch, vẫn còn rất nhiều áp đặt. Theo luật pháp của Mỹ thì
một khi không thể xác định đợc giá trị thông thờng tại nớc xuất khẩu,
ngời ta có thể lấy mức giá của hàng hoá tơng tự trong điều kiện thơng
mại bình thờng ở một nớc thứ ba có ngời trình độ phát triển nh của n-
ớc bị điều tra bán phá giá. Đây chính là cái cơ quan trọng mà trong vụ
kiện phi lý về Thơng mại Mỹ đã tính toán giá trị thông thờng theo giá
tại Băng - la - đét với lập luận rằng. Việt Nam cha có nền kinh tế thị
trờng, vì vậy các chi phí và các số liệu của các doanh nghiệp Việt
Nam cung cấp là không phản ảnh trung thực và không tin cậy đợc. Có
thể nói rằng, thuế chống bán phá gía là một công cụ bảo hộ rất mạnh
và rất lợi hại.
5
3. Cơ chế chống bán phá giá của Mỹ
Đoạn 800-801 của Đạo Luật chống bán phá giá của Mỹ quy
định: Bất cứ ngời nào thực hiện hay giúp đỡ thực hiện việc nhập khẩu
hàng hoá nớc ngoài vào Mỹ một cách phổ biến và có hệ thống để bán
những hàng hoá đó ở mức giá thấp hơn đáng kể giá thực tế thị trờng,
hay giá bán buôn của những hàng hoá đó tại thị trờng nơi nó đợc sản
xuất hay tại thị trờng nớc ngoài khác mà các hàng hoá đó thờng đợc
xuất khẩu sau khi đã cộng giá bán buôn, chi phí vận tải, thuế, và các
chi phí và lệ phí cần thiết khác đều bị coi là vi phạm pháp luật nếu
những hành vi kể trên đợc thực hiện với dự định phá hoại, hay gây tổn
thất một ngành của Mỹ, hay ngăn cản việc thiết lập một ngành tại Mỹ,
hay tạo sự kiềm chế hoặc độc quyền về hàng hoá đó tại Mỹ.
Các thủ tục hành chính áp dụng cho việc chống phá giá đợc quy
định trong Đạo Luật chống phá giá 1916; Đạo luật chống phá giá
1921; Mục VII của Đạo Luật thuế 1930.
Thủ tục chủ đạo đó là: thay vì dựa trên hành động của chính phủ
hay cá nhân trớc toà án, luật chống phá giá cho phép thực hiện các thủ
tục tố tụng. Cụ thể là, những ngời đại diện cho một ngành ở Mỹ có thể
lấy các lá phiếu biểu quyết và trình cho Bộ Thơng Mại Mỹ (DOC).
DOC sẽ quyết định có tồn tại việc phá giá hay không và ITC có trách
nhiệm tìm kiếm bằng chứng và chứng minh sự tồn tại các tổn thất.
Yêu cầu về việc có dự định hay không có dự định từ phía bên bị không
quan trọng. Nếu ITC phát hiện ra tồn tại phá giá và tổn thất phá giá,
thuế chông phá giá sẽ đợc áp dụng. Bên bị sẽ không phải chịu các
trừng phạt dân sự hay hình sự nào.
II. những thách thức và khó khăn có liên quan
trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
6
Việc bán phá giá đang diễn ra ngày càng nhiều ở hầu hết các
quốc gia kể cả các quốc gia phát triển và đang phát triển. Mặc dù là n-
ớc đang phát triển ở trình độ thấp, nhng vài năm trở lại đây hàng hoá
của Việt Nam đã dần thâm nhập vào các thị trờng khác nhau và các
doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bị nớc ngoài tiến hành điều tra bán
phá giá tới 8 lần (tính từ 1994 - 2002). Trong số 8 vụ các doanh
nghiệp Việt Nam bị áp đặt thuế chống phá giá. Vụ kiện bán phá giá cá
tra, các ba - sa của Việt Nam tại Mỹ (năm 2002) đợc coi là một vụ
kiện có quy mô lớn và có rất nhiều áp đặt bất công từ phía Mỹ. Các
ngành đã từng bị kiện phá giá của Việt Nam là tỏi, giày dép, bột ngọt,
cá tra, cá basa, bật lửa gas.
Canada kiện Việt Nam hai vụ liên quan tới giày dép và tỏi. Thuế
chống phá giá áp dụng cho tỏi của Việt Nam là 1,48 CAĐ/kg.
EU kiện Việt Nam hai vụ liên quan tới giày dép và bột ngọt.
Mức thuế chống phá đối với bột ngọt là 16,8%. Riêng đối với mặt
hàng giày dép, EU đã không đánh thuế chống bán phá giá đối với Việt
Nam vì tốc độ tăng trởng xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn các quốc
gia khác là Trung Quốc, Inđônêxia và Thái Lan.
Ba Lan kiện Việt Nam một vụ về bật lửa gas. Thuế chống phá
giá là 0,09 EUR/chiếc.
Mỹ kiện Việt Nam một vụ về cá tra, cá basa. Thuế chống phá
giá áp đặt cho Việt Nam từ 38% đến 64%. Phơng thức mà Hiệp hội cá
tra, cá ba sa (CFA) của Mỹ đã thực hiện trong vụ tranh chấp với Việt
Nam có thể tóm tắc nh sau:
+ Trớc hết, CFA đã gây sức ép bắt các nhà xuất khẩu Việt Nam
phải thay đổi tem dán để phân biệt các của Việt Nam với cá của Mỹ.
7
+ Sau đó, CFA kiện Việt Nam đã phá giá cá tra, cá basa trên thị
trờng Mỹ.
Gạo của Việt Nam đã từng bị Columbia kiện vào năm 1994 với
biên phá giá là 9,7% nhng sau đó Columbia quyết định rằng Việt Nam
đã không gây thiệt hại về vật chất với việc sản xuất gạo của Columbia
nên không áp dụng thuế chống bán phá giá.
Việt Nam còn rất ít kinh nghiệm trong việc đơng đầu với các vụ
kiện phá giá và vận dụng cơ chế chống bán phá giá. Qua các vụ kiện
phá giá chúng ta có cơ hội nhìn nhận rõ hơn thực trạng thơng mại
quốc tế hiện nay. EU đã bác bỏ vụ kiện DN Việt Nam bán phá giá bật
lửa gas vào thị trờng này với lý lẽ, DN Việt Nam hoạt động trong nền
kinh tế thị trờng. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại kết luận Việt Nam có nền
kinh tế phi thị trờng. Việc xem xét Việt Nam là nền kinh tế thị trờng
hay phi thị trờng hoàn toàn mang tính chính trị, không phụ thuộc vào
yếu tố kỹ thuật, mặc dù phía Mỹ có đa ra 5 yếu tố kỹ thuật để xem
xét. Nh vậy, kinh tế thị trờng chỉ là cái cớ mà nguyên nhân sâu xa
chính là giá bán. Với mức giá 1kg các basa khoảng 3USD thì các DN
Hoa Kỳ cạnh tranh nổi, khi đó hình thức kiện phá giá đợc sử dụng
nhiều nhất. Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch Hoa Kỳ đã phát triển đến một
mức tinh vi với các nớc có nền kinh tế phát triển, đôi khi lại trắng trợn
theo lối đơn phơng - áp đặt, nhất là với các nền kinh tế nhỏ bé. Cách
tốt nhất là chúng ta không không để xảy ra kiện cáo bán phá giá. Thực
tế chúng ta không bán phá giá nhng không tìm hiểu xem đối tác của ta
ở nớc sở tại chi phí sản xuất nh thế nào, bán gía bao nhiêu. Nếu chúng
ta nghiên cứu kỹ, sẽ đa đợc mức giá phù hợp, không gây mâu thuẫn về
lợi ích với DN Hoa kỳ thì chắc chắn việc kiện cáo sẽ ít sảy ra. Mặt
khác, ngay cả trong tình hình xuất khẩu thuận lợi, chúng ta cũng nên
8
san sẻ sang các thị trờng khác, bởi cứ gia tăng sản lợng xuất khẩu vào
một thị trờng sẽ bị DN nớc sở tại phản ứng một cách tiêu cực.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ mới đây đã có báo cáo kết
luận rằng luật chống bán phá giá trên thực tế đã gây tổn hao cho nền
kinh tế Mỹ nhất là qua vụ kiện tôm đợc nhiều nớc quan tâm hiện nay,
John McQuaid công tác tại tờ The Times picayune đã tập hợp ý kiến
của các nhà kinh tế nhằm chỉ ra những điểm phi lý trong luật chống
bán phá giá của Mỹ.
Bán phá giá gợi lên hình ảnh Công ty nớc ngoài theo đuổi
chiến lợc có chủ ý, có sự phân phối hợp nhằm cản trở DN trong nớc
bằng hàng NK giá rẻ tràn ngập thị trờng. Đây chính là điệp khúc mà
ngành côngnghiệp đánh bắt tôm ở Mỹ viện làm lý do khơi kiện. Ng
dân đánh bắt tôm ở Mỹ nói riêng họ bị áp đảo bởi xu hơng hàng NK
bán phá giá từ 6 nớc nuôi tôm đang gia tăng, khiến mặt hàng tôm rơi
giá. Liên minh tôm miền nam nớc Mỹ (SSA), đại diện cho 8 bang
trong đó Louisiana, đã đệ đơn theo luật chống phá giá, yêu cầu chính
phủ Mỹ áp thuế đối với mặt hàng tôm NK và trợ giá sản phẩm của họ.
Trên thực tế, luật chống phá giá của Mỹ không đòi hỏi bằng
chứng cho thấy các Công ty nớc ngoài bị cáo buộc bán phá gía đang
phối hợp hành động hay có ý định đẩy mặt hàng của họ tràn ngập thị
trờng Mỹ. Các nhà kinh tế nói rằng luật chống phá giá đợc soản thảo
khái quát và nhiều trình tự cho luật nàylà thủ tục hoạt động tiêu chuẩn
đổi mới các DN tại Mỹ và trên thế giới. Sự khác biệt giữa văn bản
luật và thực tiễn là điều bình thờng trong thế giới của chống phá mà
những ngời đánh bắt tôm ở Mỹ bớc vào.
Khi toàn cầu hoá gây ra làn sóng đổ vỡ xuyên suốt nền kinh tế
Mỹ. Thơng mại quốc tế đã trở thành vấn đề chính trị tại Lousiana,
cũng nh với nhiều bang khác phải chống chọi với nguy cơ mất việc
9
làm do sự cạnh tranh từ nớc ngoài. Luật chống phá giá mở ra phơng
thức giúp các ngành công nghiệp gặp khó khăn có đợc khoản trợ cấp
kinh tế tạm thời. Luật này cũng đợc xem xét là một chiếc van an toàn
về chính trị. Mặc dù các quyết định về chống phá giá có ảnh hởng trên
toàn thế giới, nhng chúng lại đợc quyết định trong phạm vi một nhóm
nhỏ, thiển cận ở Oashinhtơn. Những ý kiến chỉ trích nói rằng các vụ
kiện bị chi phối bởi những quy định mà ít ngời bên ngoài có thể hiểu
đợc và đầy rẫy những mâu thuẫn.
Những ngời đề xớng việc kiện tụng nói rằng luật chống phá giá
có thể làm cân bằng sân chơi thơng mại quốc tế, nơi làm các Công
ty nớc ngoài thờng không chơi công bằng và cách chơi của họ đe dạo
việc làm của Mỹ. Luật chống phá giá mà Quốc hội Mỹ ban hành đợc
xem nh một vũ khí tự vệ của các ngành công nghiệp. Mục tiêu của luật
này là để cân bằng thơng mại bất công. Khái niệm luật chống phá giá
cũng tơng tự nh luật chống độc quyền, nó có tác dụng sắp xếp lại thị
trờng nhằm duy trì khả năng cạnh tranh và bảo vệ ngời tiêu dùng về
lâu dài.
Nhiều ý kiến chỉ trích, trong đó có những ngời ủng hộ thơng mại
tự do và nhiều nhà kinh tế chủ đạo, đồng tình rằng thơng mại toàn cầu
thờng không công bằng. Nhng họ cũng nói rằng luật chống phá giá và
các quy định của luật này, đặc biệt là những công thức phức tạp mà
Chính phủ áp dụng để tính thuế, là mang tính độc đoán và gây trở ngại
cho các Công ty đang hoạt động theo các nguyên tắc thông thờng tại
thị trờng quốc tế. Họ nói rằng về cơ bản luật này là một hình thức bảo
hộ và do đó nó là kẻ thù của thơng mại tự do.
Vụ kiện chống phá giá tôm chỉ là một trong cả chục vụ kiện xẩy
ra mỗi năm. Bên nguyên đơn cáo buộc sáu nớc, Trung Quốc, Ecuađo,
ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam - đã xuất ồ ạt sản phẩm và thị trờng Mỹ
10
với giá thấp hơn giá thành sản xuất. Những ngời đánh bắt tôm ở Mỹ
đòi hỏi chính phủ áp thuế tôm NK từ 25,76% (mức thấp nhất đối với
Việt Nam) đến 349% (mức cao nhất đối với Braxin). Chính phủ Mỹ
đã sử dụng hệ thống hai cấp, phức tạp để phân tích vụ kiện bán phá
giá. Bộ Thơng mại Mỹ (DOC) có quyền quyết định liệu vấn đề bán
phá giá có xảy ra trên thực tế hay không và mức thuế nào sẽ đợc áp
đặt. Uỷ ban Thơng mại quôc tế Mỹ (USITC) là cơ quan đa ra phán
quyết cuối cùng, quyết định xem liệu DN Mỹ - trong vụ kiện này là
các DN tôm có bị thiệt hại vật chất do hàng NK hay không. Cho tới
nay của DOC và USITC đều có những phán quyết sơ bộ ủng hộ ngời
đánh bắt tôm ở Mỹ. Theo luật hiện nay, khoản tiền thuế sẽ đợc dành
để trợ cấp cho ngành công nghiệp tôm nội địa.
Nhìn chung, Chính phủ Mỹ thờng có xu hớng đứng về phía các
ngành công nghiệp Mỹ. Theo nhà kinh tế Bruce Blonigen của Đại học
tổng hợp bang Oregon, một chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực chống phá
giá, có tới 80% vụ kiện có kết luận là xảy ra tình trạng bán phá giá,
khoảng 60% vụ kiện kết luận rằng các DN nội địa bị ảnh hởng bởi
hàng NK. Thomas Prusa, nhà kinh tế của Đại học tổng hợp Rutgers
chuyên nghiên cứu về các vụ kiện thơng mại và chống phá giá nói:
DOC gần nh không bao giờ kết luận là không xảy ra tình trạng bán
phá giá.
Các nhà kinh tế còn nhiều quan tâm đến khác biệt về mục tiêu
chính sách cơ bản của luật chống phá giá. Một số coi luật này là ph-
ơng thức nuôi dỡng chủ nghĩa bảo hộ. Một số khác bảo vệ khái niệm
mày nh một công cụ giữ gìn việc làm và giúp giảm bớt tại hoạ của
kinh tế toàn cầu. Clyde Prestowitz, Chủ tịch Viện chiến lợc kinh tế,
một nhóm nghiên cứu thiên tả có trụ sở tại Oasinhtơn, nói: Khái niệm
chống phá giá là hoàn toàn hợp pháp và đã đợc đa vào các quy định
11
của tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) bởi đây là công cụ để đối phó
với một số vấn đề thực tế. Nhng nhiều nhà kinh tế nói rằng cách thức
mà DOC phân xử vụ kiện tôm đã bị bóp méo nhằm chống lại các
Công ty nớc ngoài và thiên vị các ng dân đánh bắt tôm ở Mỹ.
Theo các nhà kinh tế, yếu tố gây tranh cãi nhất về luật chống
phá giá là cách thức DOC tính thuế chống phá giá. Các nhà kinh tế
của DOC sẽ xem xét sự khác biệt giữa giá của sản phẩm NK với giá trị
thị trờng hợp lý. Nếu giá NK thấp hơn, có nghĩa là các Công ty nớc
ngoài đang bán sản phẩm vào Mỹ với giá quá rẻ, nh vậy xuất hiện hiện
tợng bán phá giá. Tuy nhiên, theo Michael Moore và một số nhà kinh
tế khác, khó khăn chính ở đây là làm sao so sánh giá NK thực tế với
giá thị trờng hợp lý giả thuyết, ở một số trờng hợp việc so sánh nh
vậy gần nh là điều không thể, bởi hầu nh chẳng ai biết rõ giá thị tr-
ờng hợp lý sẽ là bao nhiều. Tuỳ thuộc vào tình huống vụ kiện. Chính
phủ Mỹ xác định giá thị trờng hợp lý theo những phơng thức khác
nhau. Trong trờng hợp đơn giản nhất, Chính phủ Mỹ so sánh giá tại n-
ớc XK với giá tại Mỹ. Nhng trong hầu hết các vụ kiện chống phá giá,
phơng thức xác định không đơn giản nh vậy: Trong số sáu nớc bị kiện,
SSA nói rằng chỉ duy nhất Braxin có thị trờng nội địa đáng kể về mặt
hàng tôm, các nớc khác hoặc không có thị trờng lớn về mặt hàng này
hoặc là những nớc bị quy vào diện không có nền kinh tế thị trờng.
Trong những trờng hợp nh vậy, DOC có khả nhiều lựa chọn phụ, lập
danh sách giá tôm tại một nớc thứ ba mà DOC cho rằng có thể so sánh
với nớc XK. DOC cũng quyết định xem xét liệu các Công ty nớc ngoài
có bán tôm dới mức chi phí sản xuất, cộng thêm tỷ lệ lợi tức đợc quy
định. Đây là lý lẽ đợc viện dẫn chống lại tôm NK từ Việt Nam và
Trung Quốc. Chính phủ Mỹ sẽ tiến hành điều tra và thu thập số liệu
theo cách điều tra và thu thập số liệu theo cách của mình, nh lý lẽ mà
12
các luật của nguyên đơn đa ra không phải là lý lẽ cuối cùng. Nhng lý
lẽ này những phần nào cho thấy cách thức tiến hành vụ kiện.
Để đa ra lý lẽ rằng các Công ty Trung Quốc bán phá giá tôm tại
Mỹ, các luật s của nguyên đơn đã đặt ra một mô hình kinh tế phức tạp
để xác định chi phí sản xuất tôm tại Trung Quốc và Việt Nam. Nhng
Trung Quốc và Việt Nam bị xếp vào diện các nớc không có nền kinh
tế thị trờng, do vậy họ nói rằng số liệu cơ bản, xác thực về chi phí sản
xuất có thể có là không có hiệu lực. Thay vào đó, các luật s nguyên
đơn lấy mức giá và chi phí tại Mỹ và ấn Độ làm thị trờng phụ để xác
định số liệu. Đối với trờng hợp Trung Quốc các luật s khảo sát các nhà
chế biến tôm ở Mỹ nhằm tính toán các hạng mục để có thê chế biến đ-
ợc 1 pao (0,454kg) tôm đông lạnh, nh điện nớc, vật liệu đóng gói
Tiếp đến họ nghiên cứu nền kinh tế ấn Độ để xác định chi phí của các
mục này. Sau đó họ kết hợp hải kết quả này để đa mức chi phí sản
xuất. Cuối cùng, họ ớc tính tỷ lệ lãi đối với mặt hàng của Trung Quốc.
Kết quả của cách tính toán này đa ra giá sản xuất đối với tôm loại to
của Trung Quốc là 10,6 USD/ pao - cao hơn 7,72 USD so với mức giá
tôm Trung Quốc nhập vào Mỹ theo số liệu của Cơ quan Hải quan Mỹ
và mức chệnh lệch này đợc chuyển thành mức thuế chống phá giá đợc
đề nghị là 263,68% (mức cao nhất đợc dự kiến đối với tôm của Trung
Quốc. Các nhà kinh tế nói rằng cách tính toán nh vậy bộc lộ đầy rẫy
những bất cập, chỉ nói đơn giản ngay ở việc so sánh giá tại các nớc
khác nhau. Michael Moore thắc mắc. Ai dám khẳng định đó đã phải
là giá hợp lý cha? Việc cho rằng giá viện chuyển tại ấn Độ hay Trung
Quốc cũng đều giống nhau là điều hết sức phi lý.
Các nhà kinh tế nói rằng một vấn đề đáng nói nữa là việc Chính
phủ Mỹ gộp tất cả các Công ty và các nớc cùng vào một vụ kiện
chung, dù là các Công ty khác nhau bán sản phẩm với mức giá khác
13
nhau, sản phẩm của nớc này có thể có cơ cấu giá khác hẳng so với sản
phẩm của nớc khác, hoặc thậm chí là một sản phẩm khác hẳn. Trong
vụ kiện tôm, ấn Độ đang đa ra lý lẽ rằng tôm SK của họ là hoàn toàn
khác và không thể đem ra so sánh với tôm của Mỹ.
Trên thế giới, từ năm 1995 - 2002, các nớc và vùng lãnh thổ bị
điều tra bán phá giá nhiều nhất trong thơng mại quốc tế là Trung
Quốc: 308 vụ, Hàn Quốc: 160 vụ, Mỹ: 115 vụ, Đài Loan: 109 vụ, In-
đô- nê - xi - a: 91 vụ Nh vậy, so với các nớc khác thì số vụ mà các
doanh nghiệp Việt Nam bị điều tra còn là con số rất nhỏ. Mặc dù Việt
Nam đã bị kiến phá giá từ cách đây 10 năm song chúng ta đã không có
một kế hoạch cụ thể để đơng đầu với các vấn đề về giá cả và chống
bán phá giá.
Khi vụ kiện cá tra, cá basa tạo đợc sự chú ý của d luận và các
doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cũng nh những ngời nông dân Việt
Nam phải gánh chịu phần thua, lúc này các Bộ Ngành và các Hiệp hội
liên quan mới thực sự lo ngại về khả năng Việt Nam bị kiện phá giá ở
những mặt hàng khác.
Việt Nam không thể tránh khỏi việc tiếp tục bị kiện phá giá. Lý
do có thể nêu ra nh chống bán phá giá đợc sử dụng nh một công cụ
bảo hộ mới, Việt Nam có điều kiện để xuất khẩu những mặt hàng giá
rẻ và Việt Nam bị cho là một nền kinh tế phi thị trờng.
Bên cạnh đó, chống bán phá giá còn đợc sử dụng nh một phần
trong số các công cụ gây ảnh hởng chính trị từ các nớc lớn. Trong vụ
kiện cá tra, cá basa, Hiệp hội nông dân, cá tra, cá basa Mỹ (CFA) có
sự hậu thuẫn chính trị, đặc biệt là từ Nghị sĩ Trent Lott. Ông này đã
thúc đẩy việc buộc Việt Nam phải thực hiện phân biệt nhãn cá tra,
basa. Nhiều nghị sĩ ở khu vực phía Nam nơi nuôi cá tra và cá basa
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét