Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Tài liệu TIỂU LUẬN: Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung docx": http://123doc.vn/document/1049032-tai-lieu-tieu-luan-mo-rong-hoat-dong-cho-vay-tieu-dung-tai-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-viet-nam-chi-nhanh-quang-trung-docx.htm




2) Nhận tiền gửi : đây là hoạt động then chốt của một ngân hàng, nếu không có hoạt
động này thì ngân hàng không thể tồn tại, đây chính là nguồn cung của ngân hàng
để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động cho vay
3) Cho vay: có 3 hình thức cho vay đó là
Cho vay thương mại: đây là hình thức cho vay áp dụng đối với các nhà kinh tế làm ăn
giúp họ có vốn để có thể linh động được hàng hóa tạo điều kiện để họ có thể mở rộng
sản xuất kinh doanh
Cho vay tiêu dùng :đây là hình thức cho vay tương đối mạo hiểm mang tính rủi ro
cao nhưng bù lại có thể thu được lãi ròng cao, hình thức này được áp dụng đối với các
cá nhân là chủ yếu
Tài trợ dự án: hình thức cho vay này đòi hỏi phải có vốn lớn, vì dự án thường là
những công trình thường đòi hỏi vốn lớn, ngân hàng thường huy động vốn trung và dài
hạn để tài trợ dự án
4) Bảo quản vật có giá: ngân hàng thường nắm giữ hộ khách hàng những vật có giá trị
lớn như vàng bạc đá quý các giấy tờ quan trọng
5) Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán : Ngân hàng muốn có
khách hàng họ cần phải biết lôi kéo khách hàng mà do vậy các ngân hàng luôn tạo
điều kiện tốt nhất cho khách hàng và đồng thời mở rộng ra các dịch vụ mới trong đó
có việc mở tài khoản thẻ cho cá nhân chính là hình thức lôi kéo khách hàng về với
ngân hàng của mình, bên cạnh việc mở tài khoản thẻ thì ngân hàng cũng thực hiện
luôn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
6) Quản lý ngân quỹ : khi nói tới ngân quỹ là chúng ta nói tới quan hệ của ngân hàng
với các doanh nghiệp, ngân hàng thực hiện việc quản lý dòng tiền cho các doanh
nghiệp, hoạt động này giúp cho ngân hàng có thể có thêm được nhiều các khách
hàng và đồng thời ngân hàng sẽ có rất nhiều thông tin về các doanh nghiệp
7) Tài trợ các hoạt động của chính phủ : chính phủ thường thực hiện các dự án yêu cầu
về nguồn vốn lớn, trong một lúc không thể giải ngân ra tất cả số tiền như vậy được
vì giải ngân sẽ gây ra tình trạng ngập tiền do vậy mà chính phủ sẽ quyết định cho


một ngân hàng nào đó giải ngân cho dự án cụ thể theo từng thời kì và sau khi kết
thúc dự án chính phủ sẽ hoàn trả
8) Bảo lãnh: là hình thức mà ngân hàng dựa vào uy tín của mình để bảo lãnh cho các
hoạt động của các doanh nghiệp nhằm tạo ra lòng tin cho các doanh nghiệp cùng
làm ăn buôn bán với họ
9) Cho thuê các thiết bị trung và dài hạn: các thiết bị máy móc mà doanh nghiệp cần có
thể có giá rất lớn doanh nghiệp không có khả năng mua hoặc là máy chỉ có giá trị sử
dụng trong thời gian ngắn và sau đó không còn dùng tới nữa như vậy các ngân hàng
có thể triển khai các hoạt động cho thuê để giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm
được một phần chi phí.
10) Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn : Những cán bộ làm trong nghành ngân hàng là
những người có chuyên môn về tài chính rất tốt, đặc biệt họ lại có được những
thông tin rất quan trong mà trong quá trình cho vay doanh nghiệp đã cung cấp cho
ngân hàng, hội tủ các điều kiện đó thì việc mà ngân hàng cung cấp các tư vấn là khá
chính xác, và có thể tin cậy được
Bên cạnh đó thì ngân hàng còn cung cấp thêm các dịch vụ khác như là cung cấp dịch
vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ
đại lý
II. Vai trò cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1. Lịch sử ra đời hoạt động cho vay tiêu dùng
Tín dụng là một nghiệp vụ không thể không có trong các ngân hàng thương mại.
Như chúng ta biết rằng các ngân hàng thương mại là các tổ chức trung gian tài chính hoạt
động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với mảng hoạt động chính đó là nhận tiền gửi của
khách hàng và cho các cá nhân tổ chức trong nền kinh tế vay mượn. Do vậy đối với bất kì
một ngân hàng nào thì tín dụng cũng là nghiệp vụ không thể thiếu, nó nằm trong mảng
hoạt động kinh doanh của ngân hàng với mục đích là mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Chúng ta cần biết tín dụng là gì: Trong một quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là một
giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Cụ thể hơn ta có thể định
nghĩa “ tín dụng là một giao dịch về tài sản( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay( tổ


chức ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác) và bên đi vay( là cá nhân, doanh nghiệp)
trong đó bên vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định
theo sự thỏa thuận của hai bên và yêu cầu bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến
hạn thanh toán”. Tín dụng tiêu dùng là một mảng trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng
mà trong đó ta có thể hiểu” tín dụng tiêu dùng là qua hệ kinh tế giữa ngân hàng và các cá
nhân tức là người tiêu dùng trong nền kinh tế nhằm tài trợ cho các nhu cầu của cuộc sống
khi mà chính bản thân người tiêu dùng chưa có đủ điều kiện để có thể sắm các tài sản này
và hoạt động này cũng dựa trên nguyên tắc ngân hàng sẽ cho cá nhân vay một khoản tiền
và yêu cầu cá nhân trả đúng hạn cả vốn cả lãi cho ngân hàng như đã thỏa thuận giữa hai
bên. Qua đó chúng ta thấy được cho vay tiêu dùng là hình thức mà ngân hàng cấp tín
dụng cho khách hàng là cá nhân, người tiêu dùng trong nền kinh tế. Nghiệp tín dụng cho
vay tiêu dùng ở các nước phát triển đã ra đời từ rất lâu và hiện tại bây giờ vẫn còn đang
rất phát triển còn ở nước ta thì mảng nghiệp vụ này mới dần được đưa vào hoạt động.
2. Nhu cầu cho vay tiêu dùng của dân cư và phân loại các khách hàng cá nhân
2.1. Nhu cầu cho vay tiêu dùng của dân cư
Trong cuộc sống ngày nay khi mà nền kinh tế phát triển một cách chóng mặt, đời
sống của người dân được nâng cao nhanh chóng do vậy mà nhu cầu tự nhiên của cá nhân
con người ngày càng đa dạng và phong phú nhưng những nhu cầu đó cũng gắn liền với
những nhu cầu bức thiết mà bản thân con người cần phải có, trong ngày nay thì cơm
không phải là cơm để no bụng nữa mà phải là ngon miệng, áo mặc thì cần phải đẹp, có
thể sánh ngang cùng bạn bè… tuy nhiên bên cạnh đó thì nhu cầu của mỗi cá nhân còn
phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người đó sau khi đã vay một khoản tiền, phụ
thuộc vào đặc tính của mỗi cá nhân như là công việc làm ăn có mức thu nhập cao không,
sở thích của người đó như thế nào( hình thành thói quen sử dụng hàng hiệu thì mức chi
cho tiêu dùng sẽ cao hơn rất nhiều.
Nhu cầu của con người là không giới hạn nhưng nó lại phụ thuộc vào khả năng thanh
toán của cá nhân. Ngay trong cuộc sống của chúng ta luôn luôn có những nhu cầu và
chúng ta chưa thể có khả năng có nó ngay tại thời điểm chúng ta muốn có một cái gì đó.
Chúng ta xét mỗi bản thân con người sẽ có các nguồn khác nhau như là bố mẹ, bạn bè…


nhưng những nguồn đó sẽ không giúp ta tự chủ được vấn đề do vậy mà chúng ta sẽ lựa
cho là đi vay tại các ngân hàng thương mại theo hình thức vay tín dụng tiêu dùng để phục
vụ cho các khoản tiêu dùng của cá nhân.
2.2. Phân loại các khách hàng cá nhân
2.2.1 Phân theo mức thu nhập
- Những người có thu nhập cao
Chúng ta có thể xem những người có mức thu nhập cao là những cá nhân có mức
thu nhập hàng tháng từ 5 triệu đồng trở lên. Đây là nguồn khách hàng chiến lược của
ngân hàng, những người có thu nhập cao thường là sẽ có một công việc rât tốt trong xã
hội và hầu hết họ sẽ có cách tiêu tiền cũng như là nhu cầu mua sắm hàng hóa khác xa so
với những người có thu nhập thấp. Do vậy ngân hàng cần xem đây là khách hàng ở dạng
tiềm năng vì căn cứ vào thu nhập của họ thì khả năng thanh toán là rất cao.
- Những người có thu nhập trung bình
Những người này thường có mưc thu nhập vào khoảng 2.5tr -5tr đồng VND mỗi
tháng. Đây cũng là một luồng khách hàng tiềm năng của ngân hàng. Những khác hàng
này luôn tin tưởng vào một tương lai đẹp đẽ hơn họ sẽ có thu nhập cao hơn trong tương
lai. Do vậy mà nhu cầu của những cá nhân này rất cao. Hiện tại thì họ chưa thể đáp ứng
khả năng chi trả của mình nhưng trong tương lai họ chắc chắn có khả năng thanh toán.
-Những người có thu nhập trung bình
Là những cá nhân có mức thu nhập hàng tháng dưới 2.5tr, mức thu nhập này chỉ
đủ cho họ tiêu dùng trong cuộc sống hàng ngày, để có thể tiết kiệm mua những thứ có giá
trị là rất khó do vậy khả năng mở rộng tín dụng tiêu dùng cho đối tượng này là rất khó do
nguồn thu nhập của họ quá hạn chế. Chúng ta cần tìm cách mở rộng tín dụng tiêu dùng
cho các cá nhân này bằng cách họ sẽ phải giành dụm trong thời gian lâu hơn, ngân hàng
có thể tạo điều kiện cho những cá nhân này bằng hình thức là giảm lãi suất, kích thích
những người này tiêu dùng vì ở nước ta còn là một nước kém phát triển, tầng lớp thu
nhập thấp chiếm tỉ lệ cao.
2.2.2 Phân loại khách hàng theo công việc của họ


Công việc là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định nhu cầu tiêu dùng,
người làm ở công sở sẽ có nhu cầu khác những người làm ngoài công trường như kĩ sư
xây dựng sẽ có nhu cầu khác
- Những cá nhân có công việc làm ăn buôn bán, kinh doanh: họ có thu nhập tương
đối, thường là những cá nhân làm việc nhẹ nhàng
- Những người làm việc trong cơ quan nhà nước : họ là những người hưởng lương
từ ngân sách nhà nước
- Công nhân, nhân viên: là những người làm công ăn lương, làm việc trong các cơ
quan xí nghiệp
- Những người lao động tự do: là những cửu vạn, những người không có công ăn
việc làm cụ thể
Khi nghiên cứu về công việc của khách hàng là nghiên cứu về tình hình đời sống của
mỗi cá nhân, mỗi người làm mỗi công việc khác nhau sẽ có các mức thu nhập khác nhau,
khi đo ngân hàng nghiên cứu theo tiêu thức này thì sẽ có các chỉ tiêu để đánh giá cá nhân
và có thể cung cấp khoản tín dụng một cách hợp lí, tránh trường hợp mất khả năng chi
trả.
3. Sự cần thiết khách quan phải hình thành và phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
ở các ngân hàng thương mại
3.1. Nghiệp vụ cho tín dụng ra đời là tính tất yếu trong ngân hàng thương mại
Trong suốt những thế kỉ trước khi mà nguồn vốn của ngân hàng còn hạn chế thì
việc ngân hàng rất hạn chế trong việc cho vay các khoản nhỏ lẻ, vì hình thức này thường
mang tính rủi cao, ngân hàng không thu được nợ. Khi mà trong giai đoạn ngày nay rất
nhiều ngân hàng thương mại ra đời việc cạnh tranh để có thể huy động được vốn từ người
dân rất khó khăn nên các ngân hàng phải có những biện pháp khắc phục mà đặc biệt đó là
thay đổi các loại hình dịch vụ trong đó có việc mở rộng các khoản cho vay nhỏ lẻ nhằm
thu hút các nguồn vốn huy động từ dân cư, và trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng
khác cũng như các tổ chức tài chính khác. Để có thể nâng cao chất lượng cạnh tranh thì
mỗi ngân hàng không chỉ phát huy ở những nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, mua


bán ngoại tệ, … mà cần phát huy các nghiệp vụ mới như là tư vấn cho khách hàng, mở
công ty kinh doanh chứng khoán, phát triển các loại hình cho thuê tài chính.
Chính sự phát triển nhanh nhạy của nền kinh tế mà làm cho cuộc sống con người
ngày càng một tốt hơn, cùng với sự cạnh tranh khốc liệt trong ngân hàng để có thể huy
động các nguồn trong dân cư cũng như mở rộng các hình thức cho vay, nên các loại hình
tín dụng mới được ra đời trong đó có loại hình tín dụng tiêu dùng rất phát triển vì nó mới
thực sự đi vào những cá nhân, những tế bào trong xã hội. Bên cạnh đó khi mà hệ thống
ngân hàng phát triển thì nguồn tiền huy động trong người dân càng nhiều khi đó sẽ gây ra
tình trạng nguồn vốn trong ngân hàng thương mại ứ đọng do vậy mà ngân hàng cần phát
triển các loại hình cho vay. Khi mà các nguồn vay lớn của doanh nghiệp đã không còn,
lượng vốn mà doanh nghiệp cần là quá nhiều, khi đó ngân hàng chuyển qua đối tượng là
hộ gia đình và cá nhân trong nền kinh tế vì thực tế những khoản vay này mang lại cho
ngân hàng một mức lãi suất cao hơn, tuy hình thức này độ rủi ro rất cao nhưng tỉ lệ đối
với một người dân vay mượn là rất nhỏ nên ngân hàng dường như chịu rủi ro rất ít do vậy
mà hình thức cho vay này ngày càng phát triển và được mở rộng cho tới ngày nay.
3.2. Đặc điểm của loại hình cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là một trong số các loại hình nghiệp vụ của ngân hàng thương
mại, như chúng ta biết thì cho vay tiêu dùng là mối quan hệ giữa ngân hàng với khách
hàng là cá nhân trong nền kinh tế do vậy mà loại hình này có những đặc điểm riêng biệt
khác với các loại hình khác. Dựa trên nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng chúng ta có
thể thấy nó có những đặc điểm sau
3.2.1. Quy mô của từng khoản vay là nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay lại nhiều.
Trong cuộc sống ngày nay nhu cầu của từng cá nhân là muôn màu muôn vẻ, mỗi
cá nhân thường có một sở thích khác nhau nó bắt nguồn từ nhu câu tiêu dùng hàng hóa
của người dân đối với các loại hình hàng hóa đắt tiền Những cá nhân thường có thói
quen dùng hàng xa xỉ thì họ phải là những người có thu nhập cao do đó ít nhiều họ cũng
một khoản kha khá tiền mặt trong người do đó họ sẽ không cần vay ngân hàng quá nhiều
nữa,mặt khác so với các khoản vay của doanh nghiệp hay là các hộ gia đình vay để buôn
bán kinh doanh thì các món vay tiêu dùng của cá nhân không thấm tháp vào đâu so với


các khoản đó do vậy mà quy mô của từng món vay là nhỏ. Số lượng vay là rất nhiều vì
thực sự hoạt động này trực tiếp đi sâu vào những cá nhân, các tầng lớp xã hội khác nhau
do vậy mà số lượng người tới vay sẽ rất nhiều, là cho số lượng các khoản vay là nhiều
3.2.2. Lãi suất trong hoạt động cho vay tiêu dùng thường cao hơn các hoạt động cho vay
để hoạt động kinh doanh
Các món vay để hoạt động sản xuất kinh doanh thường có lãi suất được thả nổi, lãi
suất là sự thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng sao cho cả hai bên cùng có lợi và
không bên nào phụ thuộc vào bên nào, và lãi suất thực tế sẽ dao động theo lãi suất của thị
trường và chịu sự tác động trực tiếp của thị trường trong nước và ngoài nước. Bên cạnh
đó thì lãi suất cho vay tiêu dùng thường được ấn định cụ thể không phụ thuộc vào biến
động lãi suất của thị trường , mặt khác thì các khoản vay tiêu dùng được định kì trả cả lãi
và gốc theo nhiều lần do vậy mà lãi suẫt cũng cần biến động và ngân hàng cũng đã tính
tới sự thay đổi của dòng tiền và cộng vào lãi suất do đó mà lãi suất của các khoản cho vay
tiêu dùng thường cao hơn các loại lãi suất kinh doanh. Mặt khác do các khoản cho vay
tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng vẫn đòi hỏi phải có nguồn nhân lực để quản lí do vì thế
nên để có thể mang lại nguồn cho ngân hàng thì lãi suất của khoản cho vay nay phải cao
hơn
3.2.3. Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao
Cho vay tiêu dùng là loại hình mang tính rủi ro cao nhất, vì thực tế loại hình này
cho vay không sinh lợi không có một dòng tiền được xác định chắc chắn sẽ có trong
tương lai để thanh toán, do đó chỉ người khách hàng đó mất việc hay là nên kinh tế bị suy
thoái người đó sẽ không thể nào có tiền để thanh toán cho ngân hàng do vậy mà loại hình
này doanh nghiệp chấp nhận rủi ro rất cao.
Một cái nữa đó là cho vay tiêu dùng này còn phụ thuộc vào chu kì của phát triển
của nền kinh tế khi nền kinh tế phát triển thì cho vay tiêu dùng được mở rộng vì lúc này
người dân sẽ tin tưởng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao lên do đó họ sẽ phát
sinh những nhu cầu cơ bản, còn khi nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái thì cá nhân sẽ
không tin tưởng vào tương lai do đó họ sẽ giảm bớt đi vay cho mục đích tiêu dùng.


3.2.4. Chi phí để xử lí thông tin khách hàng trong cho vay tiêu dùng là cao so với quy mô
của khoản vay
Quy mô của món vay tiêu dùng là rất nhỏ, nhưng đó cũng là một khách hàng cũng
cần có đầy đủ các bước như một khách hàng bình thường, cũng tiếp nhận hồ sơ, phân tích
hồ sơ, quyết định giải ngân… đòi hỏi ngân hàng phải có thời gian và nguồn nhân lực để
đáp ứng công việc này do vậy nên ngân hàng tốn một chi phí khá lớn trong hoạt động này
3.2.5. Nguồn thu lợi ròng từ khoản cho vay tiêu dùng
Tuy cho vay tiêu dùng rủi ro cao nhưng nó lại mang lại thu nhập lớn nên các ngân
hàng thương mại luôn tìm cách phát triển hoạt động này, thực tế cho thấy đây là nguồn
tiếp cận tới cá nhân rộng nhất, có quan hệ làm ăn với nhiều tầng lớp trong xã hội, tuy
thực tế hoạt động này có tính rủi ro rất cao nhưng nó lại có lãi suất khá cao đủ để kích
thích được các nhà lãnh đạo ngân hàng. Cũng vì lãi suất cao nên nó sẽ là một trong
những hoạt động chính và mang lại lợi nhuận ròng lớn nhất cho ngân hàng ở thời gian
trong tương lai.
4. Vai trò và lợi ích của cho vay tiêu dùng
4.1. Đối với người tiêu dùng
Với tư cách là một cá nhân tiêu dùng ta thấy loại hình tín dụng này có rất nhiều ưu
điểm đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp và trung bình. Nhờ sự tài trợ của
ngân hàng mà những người có thu nhập thấp hay trung bình sẽ có thể mua được các loại
hàng hóa có giá trị cao như là các căn hộ chung cư hay là các loại phương tiện có giá cao
hơn hẳn so với mức lương mà người đó có thể nhận được hàng tháng, và từ đó có thể cải
thiện được cuộc sống một cách đầy đủ hơn.
Có thể nhận thấy bất kể ai trong chúng ta đều có mơ ước là sẽ có những vật dụng
đáng giá( tất nhiên là những mơ ước đó luôn nằm trong giới hạn thanh toán của mỗi
chúng ta ) do cuộc sống của chúng ta đang ngày càng một đi lên. Tuy nhiên đối với mỗi
bạn sinh viên mới ra trường thì để có thể có được một khoản tiền kha khá như là để mua
một cái xe máy là rất khó nhưng trong một thời gian trong tương lai chắc chắn họ sẽ mua
được nhưng hiện tại bây giờ thì họ chưa có, vì vậy nếu xét trên thực tế là họ cần phải tích
trữ một khoảng thời gian thì mới có thể mua được, và khi đã đủ tiền thì lợi ích của nó có


thể đã giảm đi đáng kể vì thực tế lúc mới đi làm cá nhân ta rất cần một phương tiện để đi
lại, mà mãi tận mấy năm sau mới có thể mua được. Như vậy mỗi chúng ta cần kết hợp
giữa khả năng thanh toán trong tương lai và nhu cầu của hiện tại. Do đó mà chúng ta cần
đến ngân hàng để vay một khoản tiền với một mức lãi suất nhất định để có mua sắm
chiếc xe là phương tiện để chúng ta đi làm như chúng ta đang đề cập. Thực tế cho thấy
việc đi vay tiêu dùng là phải chịu một khoản lãi suất cao nhưng đó cũng chỉ là chi phí đổi
lại chúng ta có ngay tài sản mà chúng ta mong muốn tại thời điểm hiện tại. Do đó có thể
thấy lợi ích của cho vay tiêu dùng đối với cá nhân trong nền kinh tế là rất lớn.
4.2. Đối với ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại chính là nhận tiền gửi của dân cư hộ
gia đình và các doanh nghiệp trong nền kinh tế, và tìm cũng tìm các phương pháp để các
nguồn tiền huy động được cho vay ra các hộ gia đình và các doanh nghiệp, để làm được
điều này thì ngân hàng phải khai thác triệt để các thị trường mà mình có như cho vay
doanh nghiệp cho vay hộ gia đình. Và bên cạnh đó cần chú ý tới khách hàng là cá nhân vì
đây mới là khách hàng cơ bản của ngân hàng, ngân hàng có trở nên uy tín hay không thì
đầu tiền là cần có những khách hàng là cá nhân quảng bá. Do vậy mà ngân hàng cần quan
tâm các khách hàng cá nhân mà đặc biệt ở đây là mở rộng cho vay tiêu dùng lúc đó ngân
hàng đã có thể phát triển thị trường.
4.3. Đối với nền kinh tế
Nền kinh tế có tăng trưởng ở mức cần thiết hay không đó là nhờ vào mức tiêu dùng của
cá nhân trong nền kinh tế, nền kinh tế có mức tiêu dùng càng lớn càng kích thích những
nhà sản xuất, những doanh nghiệp làm ăn buôn bán, càng đẩy nền kinh tế phát triển. Do
vậy mà tiêu dùng chính là đòn bẩy của nền kinh tế, nó cũng là đòn bẩy để kích thích cung
hàng hóa. Do vậy mà cho vay tiêu dùng càng phát triển mạnh thì tiêu dùng, hay là nhu
cầu mua sắm của người dân càng lớn càng thúc đẩy nền kinh tế phát triển… Qua đó
chúng ta thấy được việc cho vay tiêu dùng là một hướng đi đúng của các ngân hàng
thương mại khi đó sẽ kéo nền kinh tế phát triển lên và đồng thời sự lạc quan của cá nhân
tin vào tương lai sẽ có thu nhập cao thì cho vay tiêu dùng được mở rộng.
III. Các hình thức cho vay tiêu dùng


1. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.1. Căn cứ vào mục đích cho vay
Cho vay tiêu dùng cư trú : hình thức cho vay áp dụng cho các khoản vay để mua
nhà, mua đất, mua căn hộ. Giúp cho cá nhân có thể ổn định cuộc sống lâu dài.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú : những khoản vay dùng để mua sắm các đồ vật trong
cuộc sống, các đồ dùng phục vụ nhu cầu cá nhân như là phương tiện đi lại, các trang thiết
bị…
1.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức này có thể chia tín dụng tiêu dùng thành 3 loại
1.2.1. Cho vay tiêu dùng trả góp:
Đây là hình thức được áp dụng khá phổ biến trong các ngân hàng, hình thức cho
vay tiêu dùng trong đó người đi vay phải thanh toán cho ngân hàng nhiều lần, theo những
kì hạn nhất định được thống nhất giữa khách hàng và ngân hàng. Phương thức này được
áp dụng chủ yếu cho các món vay có giá trị lớn, nếu khách hàng thanh toán một lần thì
không thể đủ khả năng. Bên cạnh đó thì phương pháp này có ưu điểm đó là ngân hàng có
thể quay vòng vốn, vừa cho vay khách hàng này đồng thời có thể cho khách hàng tiếp
theo vay. Nhưng trong loại cho vay này cũng có những hạn chế được giới hạn
Loại tài sản được tài trợ
Dùng trong một khoản thời gian, tức là trong thời hạn trả nợ của khách hàng tài
sản vẫn dùng tốt, lúc đó thái độ để khách hàng thanh toán cho khách hàng không bị ảnh
hưởng, do vậy khi cho khách hàng vay ngân hàng cần xem xét loại tài mà khách hàng sẽ
mua sau khi vay vốn, loại tài sản này khấu hao phải trong thời gian lâu. Lúc đó người đi
vay sẽ được hưởng lợi ích trong thời gian dài, và tránh được tâm lí không còn tài sản mà
vẫn phải thanh toán khoản nợ của tài sản đó, những lúc đó ít nhiều cũng ảnh hưởng tới
tâm lý trả nợ của khách hàng, và trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng.
Số tiền phải trả trước
Trong hình thức cho vay trả góp thì ngân hàng yêu cầu khách hàng phải thanh toán
cho ngân hàng một khoản tiền nhất định nhằm hạn chế rủi ro khi mà khách hàng không
thanh toán được cho ngân hàng trong tương lai. Số tiền trả trước cho ngân hàng phải đủ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét