LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng đt&pt hà nội": http://123doc.vn/document/1047451-giai-phap-mo-rong-hoat-dong-tin-dung-doi-voi-thanh-phan-kinh-te-ngoai-quoc-doanh-tai-ngan-hang-dt-pt-ha-noi.htm
các phơng tiện thanh toán (hay tạo tiền). NHTM có khả năng tạo tiền là do
ngân hàng có khả năng cho vay bằng bút tệ hoặc cho phép khách hàng thanh
toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng. Thực chất tiền tạo ra của
ngân hàng chỉ là phơng tiện thanh toán hay ngời ta gọi là tiền ảo. Chính vì vậy
mà các NHTM phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ và NHTW
Chức năng làm trung gian tài chính.
Ngân hàng đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa những ngời có tiền nhàn
rỗi với những ngời thiếu vốn có nhu cầu vay, với chức năng làm trung gian tài
chính, ngân hàng thực hiện huy động các khoản tiền nhàn rỗi và đa chúng đến
chỗ thiếu vốn, tạo điều kiện cho các nhà đầu t, doanh nghiệp và cá nhân có
vốn để thực hiện hoạt động đầu t, hay sản xuất kinh doanh. Qua hoạt động đó,
các khách hàng có tiền nhàn rỗi sẽ thu đợc khoản tiền lãi, các khách hàng vay
tiền sẽ thu đợc lợi nhuận từ hoạt động đầu t, sản xuất kinh doanh nhờ số vốn
vay, đồng thời phải trả lãi cho ngân hàng. Còn ngân hàng thu đợc lợi nhuận từ
khoản chênh lệch giữa tiền thu đợc từ ngời vay tiền và tiền phải trả cho ngời
gửi tiền. Thông qua chức năng làm trung gian tài chính, ngân hàng đã mang
lại lợi nhuận cho mình và cho toàn xã hội.
Chức năng làm trung gian thanh toán.
Với số tiền đợc gửi tại ngân hàng, các khách hàng có thể yêu cầu ngân
hàng thay mặt mình đứng ra thanh toán giá trị hàng hoá, dịch vụ hay trả tiền l-
ơng cho cán bộ, công nhân viên Ngân hàng có thể thanh toán bằng tiền mặt
hoặc chuyển khoản, thông qua hoạt động này, ngân hàng thu đợc phí. Hiện
nay, các ngân hàng đa ra nhiều dịch vụ thanh toán rất thuận tiện, tiết kiệm chi
phí nh: thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ tín dụng, Master card,
visa card, và đặc biệt là đa vào sử dụng mạng thanh toán toàn cầu Swift và
các máy rút tiền tự động ATM.
1.1.1.4 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thơng mại.
Để đạt đợc mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận, các NHTM đã
tiến hành các hoạt động rất đa dạng trên nhiều lĩnh vực. Các hoạt động của
ngân hàng ngày càng đợc mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của
khách hàng. Nhng có thể tổng hợp lại thành các hoạt động cơ bản là: Huy
động vốn, sử dụng vốn và các hoạt động trung gian.
Hoạt động huy động vốn.
Vì đặc trng của ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dùng
đồng vốn của ngời khác để tiến hành hoạt động kinh doanh, nên huy động vốn
là hoạt động không thể thiếu của một NHTM, đóng vai trò là nguồn nguyên
5
liệu đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Một ngân hàng
không thể tồn tại nếu không có hoạt động này.
Ngân hàng có thể huy động vốn bằng các hình thức sau:
a) Nhận tiền gửi.
Tiền gửi của khu vực dân c và tổ chức kinh tế tại các NHTM rất lớn,
đây là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng thực hiện hoạt động sinh lời. Khách
hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau nh: Để hởng lãi,
để đảm bảo an toàn, để sử dụng các dịch vụ thanh toán cũng nh các tiện ích
ngân hàng
Tiền gửi có thể đợc phân theo các tiêu thức khác nhau bao gồm nhiều
loại nh sau:
Phân loại tiền gửi theo kỳ hạn gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không
kỳ hạn. Tiền gửi không kỳ hạn là tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng và có
thể rút ra bất kỳ lúc nào. Với loại này, ngân hàng phải trả mức lãi suất rất thấp,
thậm chí không có lãi, nhng đòi hỏi ngân hàng cũng phải thờng xuyên dự trữ
một lợng tiền mặt lớn để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng bất cứ khi
nào họ muốn. Khách hàng thờng gửi theo loại này khi việc giao dịch tiền của
họ là thờng xuyên, và hiện nay hầu hết các doanh nghiệp áp dụng hình thức
này dới dạng mở tài khoản giao dịch. Còn tiền gửi có kỳ hạn là tiền mà khách
hàng gửi vào ngân hàng theo một thời hạn đã thoả thuận trớc, khách hàng chỉ
đợc rút tiền khi hết hạn và đợc hởng một mức lãi suất do ngân hàng quy định,
nếu trong trờng hợp khách hàng rút tiền trớc khi khoản tiền đó đến hạn thì
khách hàng sẽ phải chịu một mức phạt.
Phân loại tiền gửi theo khả năng giao dịch gồm tiền gửi giao dịch và
tiền gửi phi giao dịch. Tiền gửi giao dịch gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn. Tiền gửi phi giao dịch là loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn.
Ngoài ra có thể phân loại tiền gửi theo loại tiền (tiền gửi bằng VNĐ
hoặc bằng ngoại tệ), theo đối tợng khách hàng, theo mục đích
b) Tiền vay.
Ngân hàng chỉ thực hiện hoạt động đi vay trong trờng hợp khẩn cấp:
Nh đi vay để bù đắp dự trữ thanh khoản hoặc trong trờng hợp thiếu vốn để đầu
t. Tuy hoạt động này không diễn ra một cách thờng xuyên, nhng nguồn tiền
vay đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với ngân hàng để tránh trờng hợp ngân
hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, hoặc bỏ qua những cơ hội
đầu t tốt.
6
Ngân hàng có thể đi vay bằng nhiều cách nh: Vay từ NHTW; Vay từ các
NHTM, vay các TCKT; Và đi vay bằng cách phát hành các giấy tờ có giá nh
trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi
Hoạt đông sử dụng vốn.
Trên cơ sở nguồn vốn đã huy động, ngân hàng sẽ sử dụng vốn đó để tạo
ra lợi nhuận cao nhất. Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động vào các mục
đích sau:
a) Dự trữ.
Đây là hoạt động không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhng nó có
ý nghĩa sống còn đối với ngân hàng. Dự trữ tiền có thể dới dạng tiền mặt hoặc
các giấy tờ có giá có tính lỏng cao nh trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc
hoặc tiền gửi tại NHTƯ và các tổ chức tín dụng khác. Dự trữ nhằm mục đích
quan trọng nhất là đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng khi có yêu
cầu. Ngoài ra, dự trữ còn để chờ những cơ hội đầu t tốt hơn, hoặc để đảm bảo
uy tín của ngân hàng. Ngân hàng cần tính toán chính xác lợng dự trữ đủ để
đảm bảo khả năng thanh toán, nếu không sẽ ảnh hởng đến lợi nhuận của ngân
hàng.
b) Cho vay.
Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Trên cơ sở
lãi suất của nguồn huy động, ngân hàng thực hiện cho vay với lãi suất cao hơn
lãi suất nguồn huy động để thu đợc lợi nhuận. Tuy nhiên hoạt động này cũng
chứa đựng rủi ro lớn đó là rủi ro khi không thu hồi đợc cả gốc lẫn lãi.
c) Đầu t.
Đây là hình thức ngân hàng tham gia vào các hoạt động nh góp vốn liên
doanh, liên kết; mua cổ phần công ty; mua bán chứng khoán.Hoạt động này
mang lại lợi nhuận cao nhng cũng dễ gặp rủi ro nhất.
Các hoạt động trung gian khác.
Ngoài hai hoạt động chính là huy động vốn và sử dụng vốn, ngân hàng
còn thực hiện các hoạt động trung gian khác nh cung cấp các dịch vụ thanh
toán, thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ
1.1.2. Tín dụng ngân hàng.
1.1.2.1 Thế nào là tín dụng ngân hàng
Lịch sử hình thành và phát triển của các quan hệ tín dụng.
Sau khi chế độ Công xã nguyên thuỷ tan rã, xuất hiện chế độ sở hữu t
nhân về t liệu sản xuất. Cũng từ đó, hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hoá
phát triển. T liệu sản xuất và sản phẩm tiêu dùng không đợc phân bổ đồng đều
mà tập trung vào một số ít ngời. Trong xã hội xuất hiện sự phân chia giai cấp
và phân hoá giầu nghèo. Tình trạng khó khăn thiếu thốn làm nảy sinh các
7
quan hệ vay mợn trên cơ sở tin tởng lẫn nhau. Đây là tiền thân của quan hệ tín
dụng sau này.
Trong xã hội phong kiến, các quan hệ tín dụng đợc đặc trng là Tín
dụng nặng lãi. Loại này có đặc điểm nổi bật là: Lãi suất rất cao, mang tính
bóc lột đối với ngời đi vay và mục đích vay chủ yếu cho tiêu dùng hơn là cho
sản xuất. Cơ sở để tồn tại Tín dụng nặng lãi là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu,
phân tán phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Ngời đi vay phần lớn là những ngời
có đời sống bấp bênh, nghèo đói. Họ vay vốn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tối
thiểu của cuộc sống. Những ngời có khả năng cho vay thờng là ngời giàu có,
có quyền lực, địa vị trong xã hội nh địa chủ, quý tộc, quan lạiThông thờng
khi cho vay, ngời cho vay yêu cầu phải cầm cố đất đai, trâu bò, nhà cửa và sẵn
sàng tớc đoạt hết tài sản này khi ngời vay không trả đợc nợ. Tín dụng nặng lãi
một mặt đã trở thành nhân tố kìm hãm sản xuất xã hội, mặt khác đợc xem là
một trong những nhân tố thúc đẩy quá trình tan rã của xã hội phong kiến, tạo
nền cho Chủ nghĩa T bản ra đời.
Cùng với sự ra đời và phát triển của Chủ nghĩa T bản là quan hệ tín
dụng T bản chủ nghĩa. Tín dụng T bản chủ nghĩa ra đời từng bớc đáp ứng các
nhu cầu đa dạng trong xã hội về vốn cho các hoạt động sản xuất, tiêu dùng
trong xã hội. Do vậy đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển KT - XH.
Trong nền kinh tế thị trờng, tín dụng ngày càng mở rộng với sự tham
gia của nhiều chủ thể nh dân c, Chính phủ, tổ chức nớc ngoài, cùng với sự lớn
mạnh của các trung gian tài chính, đã làm hoạt động tín dụng trở lên thờng
xuyên và không thể thiếu trong nền kinh tế.
Nh vậy, có thể tóm tắt lại là: Tín dụng là một mối quan hệ kinh tế,
trong mối quan hệ đó phát sinh chủ thể này chuyển cho chủ thể khác một l-
ợng giá trị, lợng giá trị đó có thể biểu hiện bằng tiền hoặc bằng hàng hoá
với điều kiện bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay sau
một thời gian nhất định. Nếu chủ thể cho vay là Chính phủ còn đối tợng đi
vay là các đối tợng khác trong xã hội nh dân c, doanh nghiệp, nớc ngoài thì
gọi là tín dụng Nhà nớc. Nếu doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác vay bằng
hàng hoá và bên vay trả bằng tiền thì gọi là tín dụng thơng mại với điều kiện
giá trị của hàng hoá phải tơng ứng. Trong trờng hợp chủ thể cho vay là ngân
hàng, bên đi vay là các đối tợng khác thì gọi là tín dụng ngân hàng. Nguồn
chủ yếu ngân hàng dùng để cho vay là tiền gửi. Nói tóm lại, tín dụng là quan
hệ vay mợn, gồm cả cho vay và đi vay, tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể
nhất định nh ngân hàng (hoặc các trung gian tài chính khác) thì tín dụng chỉ
bao hàm nghĩa là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay,
nên có thể đồng nhất tín dụng ngân hàng với cho vay.
8
Tín dụng ngân hàng có thể hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo
đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.1.2.2 Nguyên tắc vay vốn.
Hoạt động tín dụng là một hoạt động mang lại phần lớn lợi nhuận cho
ngân hàng, nhng đây cũng là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro. Vì vậy, Hoạt
động tín dụng của NHTM phải dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm
đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này đợc cụ thể hoá
trong các quy định của NHNN và các NHTM.
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Khách hàng phải cam kết sử dụng khoản vay theo đúng mục đích đã
thoả thuận với ngân hàng, tránh một số trờng hợp khách hàng cố tình lừa đảo
ngân hàng bằng nhiều thủ đoạn tinh vi để vay đợc tiền. Nhng khi vay đợc tiền
liền thay đổi ý đồ kinh doanh, sử dụng sang các mục đích khác hay các việc
làm mạo hiểm hơn. Theo thống kê của các ngân hàng thì các khoản nợ xấu th-
ờng là do khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng sử dụng tiền vay không đúng
mục đích. Do đó, khi cấp tín dụng các ngân hàng thờng xuyên kiểm tra, giám
sát xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận hay
không? Đây là nguyên tắc quan trọng yêu cầu khách hàng phải thực hiện để
tránh rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng.
Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản
tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mợn. Ngân hàng có trách
nhiệm hoàn trả gốc và lãi nh đã cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu
khách hàng vay tiền phải thực hiện đúng nguyên tắc này. Đây là điều kiện để
ngân hàng tồn tại và phát triển.
1.1.2.3 Điều kiện vay vốn.
Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ
các điều kiện sau:
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật.
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết.
9
Có sự án đầu t, phơng án sản xuất kinh doanh khả thi và có hiệu quả; Hoặc
có dự án đầu t, phơng án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định
của pháp luật.
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật.
1.1.2.4 Lãi suất cho vay.
Từ khi NHNN ra quyết định cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thoả
thuận đã tạo thuận lợi cho ngân hàng và khách hàng. Lãi suất là do ngân hàng
và khách hàng tự thoả thuận, nhng trên thực tế thì lãi suất vẫn do các NHTM
tự quy định nhng tạo tính linh động hơn cho các NHTM trong việc quy định
mức lãi suất.
Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù
hợp với quy định chung của Ngân hàng Nhà nớc.
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng
ấn đinh và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhng không vợt
quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã đợc ký kết hoặc
điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.
1.1.2.5 Phân loại cho vay.
Để đáp ứng một cách tốt nhất cho khách hàng về chu kỳ kinh doanh,
tính thời vụ của mặt hàng kinh doanh, khả năng đảm bảo cho khoản vay hay
mục đích sử dụng vốn vay mà ngân hàng phân loại tín dụng theo nhiều tiêu
thức khác nhau:
Phân theo mục đích sử dụng tiền vay của ngời vay. Theo tiêu thức này tín
dụng bao gồm hai loại là tín dụng tiêu dùng và tín dụng kinh doanh. Tín dụng
tiêu dùng tức là cho vay nhằm mục đích mua sắm các trang thiết bị phục vụ
cho sinh hoạt của khách hàng. ở các nớc phát triển loại cho vay này rất phát
triển, nhng ở Việt Nam hoạt động này mới đang đợc chú ý đến. Tín dụng kinh
doanh là hoạt động ngân hàng cho khách hàng vay tiền nhằm mục đích kinh
doanh. Số tiền vay khách hàng có thể sử dụng để đầu t sản xuất hàng hoá hoặc
mua hàng để bán lại
Phân loại theo thời hạn cho vay. Theo cách này chia tín dụng thành tín
dụng không thời hạn và tín dụng có thời hạn. Tín dụng không thời hạn là các
khoản cho vay của ngân hàng đối với khách hàng không xác định cụ thể thời
hạn cho vay và thời hạn trả nợ để ghi vào hợp đồng mà thay vào đó là những
điều kiện về việc trả nợ của ngời vay và việc thu hồi nợ của ngân hàng. Điều
kiện trả nợ của khách hàng có thể là khi khách hàng không cần đến tiền vay
hoặc khi khách hàng có nguồn khác để bù đắp khoản vayCòn điều kiện mà
ngân hàng muốn thu hồi nợ nh bằng cách báo trớc một thời gian nhất định để
10
khách hàng có thời gian để tìm nguồn khác bù đắp. Ngợc lại, tín dụng có
thời hạn là các khoản cho vay mà thời hạn cho vay và thời điểm trả nợ đợc xác
định một cách chính xác và đợc ghi trong hợp đồng tín dụng. Tín dụng có thời
hạn có thể chia ra thành tín dụng ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. Tín dụng
ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn cho vay đến mời hai tháng. Tín dụng
trung hạn là những khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng.
Còn tín dụng dài hạn là những khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở
lên.
Phân loại theo phơng thức trả nợ. Theo cách này chia ra thành 2 loại:
Những khoản vay đợc trả một lần cả gốc lẫn lãi và khoản vay đợc trả nhiều
lần. Những khoản vay nhỏ, ngắn hạn thờng áp dụng phơng thức trả nợ một
lần. Còn những khoản vay lớn, dài hạn thờng áp dụng phơng thức trả nợ nhiều
lần.
Phân loại theo đối tợng vay. Bao gồm cho vay đối với các tổ chức kinh tế
và cho vay đối với cá nhân. Các tổ chức kinh tế có thể là các doanh nghiệp
quốc doanh hoặc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các tổ chức khác.
Phân loại theo tài sản đảm bảo. Chia thành hai loại: Các khoản vay đợc
đảm bảo bằng tài sản và các khoản vay không đợc đảm bảo bằng tài sản. Các
tài sản đảm bảo có thể nằm dới dạng động sản hay bất động sản tuỳ theo hình
thức đảm bảo là cầm cố hay thế chấp. Đó là những tài sản có trị giá lớn hơn
giá trị tiền vay. Cho vay không có tài sản bảo đảm chỉ áp dụng đối với những
khách hàng truyền thống hoặc những khách hàng có uy tín của ngân hàng.
Phân theo phơng thức cho vay. Ngân hàng có thể cung cấp nhiều phơng
thức cho vay khác nhau để khách hàng có thể lựa chọn sao cho phù hợp nhất
với điều kiện kinh doanh của mình. Các phơng thức đó là:
Cho vay từng lần. Loại cho vay này phát sinh trong trờng hợp khách hàng
xác định đợc các yếu tố liên quan trực tiếp đến khoản tiền cần vay: số lợng
tiền cần vay, thời hạn sử dụng tiền vay. Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ
chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín
dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng. Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian
nhất định.
Cho vay theo dự án đầu t: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu t phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
án đầu t phục vụ đời sống.
11
Cho vay hợp vốn. Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phơng án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Cho vay trả góp. Khi vay vốn tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đợc chia ra để trả nợ
theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng. Tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất
định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn
mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Tổ chức
tín dụng chấp thuận cho khách hàng đợc sử dụng số vốn vay trong phạm vi
hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt
tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín
dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và
khách hàng phải tuân theo các qui định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà
nớc về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi. Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vợt số tiền có trên tài
khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ
và Ngân hàng Nhà nớc về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán.
1.1.2.6 Quy trình cho vay.
Quy trình cho vay là văn bản quy định cụ thể các bớc cần phải thực hiện
trong quá trình cho vay cũng nh xác định ngời thực hiện công việc và trách
nhiệm của từng ngời, giúp quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn
chế, phòng ngừa rủi ro và không ngừng nâng cao chất lợng tín dụng ngân
hàng.
Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng đòi hỏi các tổ chức tín
dụng thực hiện tốt trình tự các bớc trong quy trình cho vay mà Ngân hàng ban
hành. Quy trình cho vay gồm các bớc nh sau:
Bớc 1: Tiếp nhận và hớng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn. Cán bộ tín dụng
là đầu mối tiếp nhận, hớng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính
đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ với những nội dung nh về hồ sơ pháp lý, hồ sơ khoản
vay và hồ sơ bảo đảm tiền vay.
Bớc 2: Thẩm định. Cán bộ tín dụng nghiên cứu, thẩm định hồ sơ vay vốn theo
những nội dung sau: Đánh giá chung về khách hàng nh về: Năng lực pháp lý;
12
Mô hình tổ chức, bố trí lao động; Quản trị điều hành của doanh nghiệp;
Ngành nghề kinh doanh; Các rủi ro chủ yếu,Đánh giá về tình hình tài chính
của khách hàng nh: Đánh giá về sự chính xác, trung thực của báo cáo tài
chính; Phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế tài chính; Đánh giá các tồn tại
và nguyên nhân của nó .Xem xét phơng án sản xuất kinh doanh có khả thi
hay không. Xem xét nhu cầu vay và phơng thức vay Cuối cùng là xem xét
khả năng nguồn vốn của ngân hàng.
Bớc 3: Xét duyệt cho vay, ký hợp đồng tín dụng. Cán bộ tín dụng sau khi
nghiên cứu, thẩm định các điều kiện vay vốn lập tờ trình cho vay kèm theo hồ
sơ vay vốn trình trởng phòng tín dụng. Trên cơ sở đó trởng phòng tín dụng
xem xét, kiểm tra lại, cho ý kiến vào tờ trình và trình lên lãnh đạo. Lãnh đạo
xem xét lại hồ sơ trởng phòng tín dụng trình để đa ra quyết định cho vay hay
không cho vay. Nếu lãnh đạo đồng ý cho vay thì tiến hành ký hợp đồng tín
dụng và bảo đảm tiền vay.
Bớc 4: Giải ngân, theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay.
Bớc 5: Thu nợ, lãi, phí và xử lý phát sinh.
Bớc 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng.
1.1.2.7.Biện pháp bảo đảm tiền vay.
Để đảm bảo khoản tiền cho vay sẽ đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi,
ngân hàng luôn đa ra các biện pháp bảo đảm tiền vay. Đối với khoản vay đợc
bảo đảm bằng tài sản thì có thể bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của
khách hàng vay, hoặc bảo đảm bằng bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba,
hoặc là bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Trong trờng hợp cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản thì biện pháp bảo đảm tốt nhất là ngân hàng tự
lựa chọn khách hàng vay, đó là những khách hàng truyền thống có quan hệ
thân thiết với ngân hàng. Đối với tổ chức tín dụng Nhà nớc đợc cho vay không
có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ. Hoặc các tổ chức tín
dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ
chức đoàn thể chính trị xã hội.
1.1.2.8 Các hình thức cho vay.
Cùng là hoạt động cấp tín dụng, tức ngời cho vay cung cấp một khoản
vốn cho ngời vay và ngời đi vay cam kết sẽ hoàn trả trong một khoản thời gian
nhất định. Phần hoàn trả phải lớn hơn phần vay, số chênh lệch đó gọi là lãi cho
vay, ngân hàng có thể cấp vốn cho khách hàng dới nhiều hình thức khác nhau
nh:
Cho vay thông thờng. Tức ngân hàng xem xét và cho khách hàng vay một
khoản tiền nhất định trong thời hạn nhất định. Khi đến hạn khách hàng sẽ phải
hoàn trả gốc cho ngân hàng, và lãi có thể trả nhiều lần hoặc một lần tuỳ theo
13
sự thoả thuận của hai bên. Thời hạn của khoản vay có thể là ngắn hạn hoặc là
trung dài hạn. Hiện nay các ngân hàng chủ yếu áp dụng hình thức cho vay
này.
Cho vay bằng hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Đây là việc ngân
hàng mua lại các giấy tờ có giá nh thơng phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu trớc khi
chúng đến hạn. Giá ngân hàng mua bao giờ cũng nhỏ hơn mệnh giá của các
giấy tờ đó. Khi đến hạn ngân hàng sẽ đem các giấy tờ đó đến những ngời có
trách nhiệm để thanh toán với số tiền bằng mệnh giá. Số tiền chênh lệch giữa
giá ngân hàng mua và khi ngân hàng đợc thanh toán có thể coi là tiền lãi.
Chiết khấu đợc coi là nghiệp vụ tín dụng vì nó đem lại cho khách hàng một
khoản tiền mà bình thờng số tiền đó khách hàng chỉ đợc nhận khi đến hạn.
Chiết khấu các giấy tờ có giá đem lại lợi nhuận cao mà ít rủi ro cho ngân
hàng. Khi cần tiền thanh toán, ngân hàng có thể đem các giấy tờ đó đến
NHNN để xin tái chiết khấu. Hình thức này đơn giản, đem lại lãi cao cho ngân
hàng trong thời gian ngắn, nhng trên thực tế thì hình thức này cũng chậm phát
triển.
Cho vay thông qua hình thức bảo lãnh. Bảo lãnh là việc ngân hàng cam
kết sẽ thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ cho ngời thụ hởng trong trờng
hợp ngời đợc bảo lãnh không thực hiện đợc cam kết đó. Nh vậy, trong trờng
hợp khách hàng đợc ngân hàng bảo lãnh không có khả năng thanh toán cho
bên thụ hởng thì ngân hàng sẽ phải đứng ra thanh toán thay cho khách hàng
của mình. Trờng hợp này đợc coi là việc cấp tín dụng vì ngân hàng đã tạm bỏ
ra một số tiền nhất định cho khách hàng vay để thanh toán. Sau một thời hạn
nhất định ngân hàng sẽ đòi lại số tiền đã bỏ ra và thu về một khoản lãi tính
trên số tiền đó trong thời gian cho vay. Ngoài ra, ngân hàng còn nhận phí từ
hoạt động bảo lãnh. Trên thực tế hình thức tín dụng này cha phát triển.
Cho vay thông qua hình thức cho thuê tài chính. Đây là hoạt động ngân
hàng bỏ một lợng tiền ra mua những tài sản mà khách hàng có nhu cầu, sau đó
cho khách hàng thuê lại với thời gian rất dài thờng là xấp xỉ với tuổi thọ của
tài sản, và khách hàng có quyền mua lại tài sản đó với giá rất thấp khi hợp
đồng hết hạn. Trong suốt thời gian sử dụng, khách hàng phải trả tiền thuê,
tổng số tiền thuê tối thiểu phải bằng giá trị của tài sản, nhng thông thờng số
tiền thuê lớn hơn rất nhiều so với giá trị của tài sản. Phần chênh lệch đó gọi là
tiền lãi. Hoạt động này đợc coi là một hình thức cấp vốn của ngân hàng. Trong
vài năm gần đây, hoạt động của các công ty cho thuê tài chính rất phát triển,
nhiều ngân hàng cũng phát triển mạnh về hoạt động này và đã thành lập ra các
công ty cho thuê tài chính mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.
1.1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá qui mô và chất lợng tín dụng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét