Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC TRỌN BỘ


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC TRỌN BỘ": http://123doc.vn/document/573437-tai-lieu-on-thi-cong-chuc-tron-bo.htm


TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

QH thành lập 7 uỷ ban: uỷ ban pháp luật; uỷ ban kinh tế - ngân sách; uỷ ban quốc phòng,
an ninh; uỷ ban văn hoá - giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; uỷ ban về các vấn
đề xã hội, uỷ ban khoa học – công nghệ - môi trường; uỷ ban đối ngoại.

Cơ cầu của uỷ ban QH gồm có: chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và các uỷ viên, trong đó có
một số thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách.

d/ Đại biểu QH:

Đại biểu QH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là đại
biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đại biểu QH vừa chịu trách nhiệm
trước cử tri, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Chức năng đại biểu QH là thu thập và phản ánh ý kiến của cử tri, biến ý chí của nhân dân
thành ý chí của nhà nước; đưa các quy định của luật, các nghị quyết của QH vào cuộc
sống.

- Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu QH thể hiện tập trung chủ yếu tại kỳ họp QH, tham
gia đầy đủ, có chất lượng kỳ họp, quyết định chương trình kỳ họp, đề nghị bổ sung
chương trình kỳ họp. Đại biểu QH có quyền cơ bản: Kiến nghị về luật và trình dự án luật
trước QH; chất vấn, tham gia thảo luận và biểu quyết các dự án luật, các dự án và nghị
quyết; có quyền bầu cử và được bầu vào các chức vụ lãnh đạo khác nhau của các cơ quan
QH, nhà nước.

- Giữa hai kỳ họp QH, đại biểu có những nhiệm vụ, quyền hạn: tiếp xúc và báo cáo cử tri
về hoạt động của mình, QH xem xét và đôn đốc, theo dõi việc giải quyết, khiếu nại, tố
cáo của công dân; yêu cầu chấm dứt việc làm trái pháp luật; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội cung cấp tình hình, tài liệu liên quan đến hoạt động của các đại biểu, các uỷ
ban và hội đồng của QH; giữ mối liên hệ thường xuyên với chủ tịch QH và uỷ ban mặt
trận Tổ quốc ở địa phương. Đại biểu QH làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc không
chuyên trách. Đối với các đại biểu không chuyên trách được giành 1/3 thời gian cho hoạt
động của QH.

Đại biểu QH có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và một số quyền ưu đãi khác.

e/ Hình thức hoạt động của QH:

- Hoạt động của QH thể hiện bằng nhiều hình thức: hoạt động của các cơ quan của QH,
đại biểu QH, các đoàn đại biểu QH. Nhưng hoạt động chủ yếu của QH là kỳ họp của QH,
kết quả hoạt động của các hình thức khác được thể hiện tập trung tại các kỳ họp của QH.


TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

- Kỳ họp của QH là nơi biểu hiện trực tiếp, cụ thể, tập trung tính chất đại biểu cao nhất và
tính quyền lực nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nơi phản ánh
tập trung trí tuệ, ý chí, quyền làm chủ của nhân dân thông qua các đại biểu QH.

Nơi thực hiện quyền giám sát tối cao của QH đối với các hoạt động của cơ quan nhà
nước; nơi ra đời của các quyết sách của nhà nước liên quan trực tiếp đến phát triển đất
nước, xã hội về mọi phương diện.

QH họp mỗi năm hai kỳ. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của chủ tịch nước, thủ
tướng chính phủ hoặc ít nhất 1/3 số đại biểu, QH có thể tiến hành kỳ họp bất thường.
Việc triệu tập và chuẩn bị, chủ trì các cuộc họp của QH do UBTVQH thực hiện.

Tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá QH, vấn đề tư cách đại biểu được quy định: bầu các
chức danh lãnh đạo cao nhất trong bộ máy nhà nước. Tại các kỳ họp khác, QH thực hiện
chức năng, nhiệm vụ thông qua việc bàn bạc, thảo luận, quyết định các dự án kế hoạch
nhà nước, tổng dự toán ngân sách, các báo cáo dự án luật và các dự án phát triển kinh tế -
xã hội khác của nhà nước theo trình tự:

+ Các cơ quan soạn thảo, trình bày dự án trước QH.

+ Thuyết trình việc thẩm tra dự án.

+ Thảo luận dự án.

+ Biểu quyết thông qua dự án.

Một phần thời gian thích đáng của các kỳ họp QH dành cho chất vấn của đại biểu QH đối
với chủ tịch nước, chủ tịch QH, chính phủ, các thành viên của chính phủ, chánh án toà án
nhân dân tối cao, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đây là biện pháp thực hiện
hữu hiệu quyền giám sát của QH. Những người bị chất vấn có trách nhiệm phải trả lời
chất vấn theo quy định của pháp luật.

2/ Chủ tịch nước CHXHCNVN:

Chủ tịch là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước trong các quan hệ đối nội và đối
ngoại

Chủ tịch nước có phạm vi, quyền hạn khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống
chính trị, xã hội.

Trong tổ chức nhân sự của bộ máy nhà nước, chủ tịch có quyền về tổ chức nhân sự của
bộ máy hành pháp và tư pháp: đề nghị QH bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm phó chủ tịch
nước, thủ tướng chính phủ, chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát
TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các phó chánh án toà án nhân dân tối
cao và thẩm phán toà án nhân dân tối cao; phó viện trưởng và kiểm sát viên viện kiểm sát
nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các phó thủ tướng và các thành viên
khác của chính phủ theo Nghị quyết của QH, Uỷ ban thường vụ QH.

Trong lĩnh vực an ninh quốc gia, Chủ tịch nước giữ chức chủ tịch Hội đồng quốc phòng –
an ninh, thống lĩnh các lực lượng vũ trang, có quyền tuyên bố các tình trạng khẩn cấp,
chiến tranh theo quyết định của QH, uỷ ban thường vụ QH, phong hàm cấp sỹ quan cao
cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp đại sứ…

Quyền hạn của chủ tịch nước còn thể hiện trên các lĩnh vực ngoại giao; vấn đề thôi, nhập
quốc tịch, vấn đề đặc xá.

Ngoài ra chủ tịch nước còn ký lệnh công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh. Và một quyền
quan trọng của Chủ tịch nước là đề nghị Uỷ ban thường vụ QH xem xét lại pháp lệnh,
nghị quyết của uỷ ban thường vụ QH về các vấn đề thuộc quyền giải quyết của QH
nhưng do uỷ ban thường vụ QH quyết định giữa hai kỳ họp QH. Trong trường hợp uỷ
ban thường vụ QH vẫn biểu quyết tán thành, mà chủ tịch nước không nhất trí thì có
quyền đề nghị QH xem xét lại các quyết định đó. Khi thực hiện quyền hạn, chủ tịch nước
ban hành lệnh, quyết định.

3/ Chính phủ nước CHXHCNVN:

a/ Vị trí của chính phủ trong bộ máy nhà nước:

Hệ thống các cơ quan thực hiện quyền hành pháp có chính phủ và UBND các cấp. Trong
đó chính phủ được quy định là “cơ quan chấp hành của QH, cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước CHXHCNVN”.

Là cơ quan chấp hành của QH, chính phủ chịu sự giám sát của QH, chấp hành hiến pháp,
luật, nghị quyết của QH, pháp lệnh, nghị quyết của uỷ ban thường vụ QH; lệnh, quyết
định của chủ tịch nước. Trong hoạt động, chính phủ phải chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước QH, uỷ ban thường vụ QH và chủ tịch nước.

Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cả nước, chính phủ có chức
năng thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, lãnh đạo thống nhất bộ
máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở về tổ chức cán bộ, bảo đảm thi hành
hiến pháp và pháp luật, quản lý việc xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài
chính tiền tệ quốc gia, quản lý y tế, giáo dục, quản lý ngân sách nhà nước. Thi hành các
biện pháp cần thiết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, quản lý công tác đối
ngoại, thực hiện chính sách xã hội của nhà nước.

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

Khi thực hiện chức năng quản lý, điều hành các quy trình xã hội, hoạt động của chính
phủ chỉ tuân theo hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà
nước.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, chính phủ có toàn quyền giải quyết công
việc với tính sáng tạo, chủ động, linh hoạt tránh được sự can thiệp từ các cơ quan khác và
sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ.

Chính phủ có quyền tham gia vào hoạt động lập pháp bằng quyền trình dự án luật trước
QH, dự án pháp lệnh trước uỷ ban thường vụ QH, trình QH các dự án kế hoạch, ngân
sách nhà nước và các dự án khác.

b/ Cơ cấu thành phần của chính phủ:

Theo hiến pháp 1992, chính phủ có thủ tướng chính phủ được quy định là người đứng
đầu chính phủ, do QH bầu ra trong số đại biểu QH. Các phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ
trưởng, các cơ quan ngang bộ là thành viên chính phủ, được thủ tướng chính phủ lựa
chọn, không nhất thiết phải là đại biểu QH và đề nghị sang QH phê chuẩn. Trong chính
phủ không tổ chức ra cơ quan Thường vụ mà một trong các Phó thủ tương đảm nhiệm
chức vụ Phó thủ tướng thường trực.

Chế độ làm việc của Chính phủ là sự kết hợp chế độ lãnh đạo tập thể với chế độ thủ
trưởng. Những vấn đề quan trọng có tính chiến lược của hoạt động hành pháp do tập thể
bàn bạc, thảo luận, quyết định theo đa số. Những vấn đề có tính tác nghiệp, điều hành
hàng ngày, vấn đề xây dựng bộ máy hành pháp được quy định do thủ tướng giải quyết
với tư cách cá nhân nhằm bảo đảm quản lý tập trung thống nhất và nhanh chóng.

c/ Cơ cấu tổ chức của chính phủ: Bộ và cơ quan ngang bộ

Bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là Bộ) là bộ phận cấu thành của chính phủ.

Bộ là cơ quan của chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc
lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước.

Bộ và ngành là hai khái niệm không đồng nhất:

- Bộ là khái niệm về tổ chức hành chính nhà nước, là cơ quan trung ương thực hiện chức
năng quản lý nhà nước theo nguyên tắc tổ chức hành chính nhà nước đối với một ngành
hoặc nhóm nghành kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, xã hội…

- Ngành là một phạm trù dùng để chỉ một nhóm quan hệ thuộc một lĩnh vực của đời sống
xã hội bao gồm các tổ chức, cơ quan ở các cấp khác nhau nhưng giống nhau về cơ cấu tổ
TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

chức, phương thức hoạt động và sản phẩm làm ra. Vì vậy trong tổ chức hành chính nhà
nước, một bộ có thể quản lý một ngành hoặc một nhóm ngành.

Khác với chính phủ (là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung), Bộ là cơ quan
quản lý theo ngành hoặc lĩnh vực công tác (quản lý nhà nước thẩm quyền riêng). Vì vậy
có 2 loại bộ: Bộ quản lý ngành và bộ quản lý theo lĩnh vực (chức năng)

+ Bộ quản lý ngành: là cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước
những ngành kinh tế, kỹ thuật hoặc sự nghiệp như: nông nghiệp, công nghiệp, y tế, giáo
dục, giao thông vận tải… Bộ thực hiện thống nhất quản lý trong ngành, chỉ đạo toàn diện
những cơ quan, đơn vị trực thuộc từ trung ương đến địa phương.

+ Bộ quản lý theo lĩnh vực: là cơ quan của chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà
nước theo từng lĩnh vực lớn như: tài chính, kế hoạch đầu tư, lao động xã hội, khoa học
công nghệ… hoạt động của bộ này có liên quan tới hoạt động của tất cả các bộ, các cấp
quản lý, tổ chức xã hội và công dân, nhưng không can thiệp vào hoạt động quản lý nhà
nước của các cấp chính quyền và quyền tự chủ, sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh
tế. Bộ quản lý lĩnh vực có trách nhiệm giúp chính phủ nghiên cứu chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội chung, xây dựng các dự án kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành, xây
dựng chế độ chính sách chung (tham mưu) hoặc tự nó ra những văn bản pháp quy thuộc
lĩnh vực phụ trách, hướng dẫn tạo điều kiện để các bộ, các cấp, các ngành hoàn thiện
nhiệm vụ.

Bộ trưởng là thành viên chính phủ, người đứng đầu cơ quan quản lý ngành hay lĩnh vực,
một mặt tham gia cùng chính phủ quyết định tập thể những nhiệm vụ của chính phủ tại
các kỳ họp chính phủ; mặt khác chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực ngành
mình phụ trách trong phạm vi cả nước.

4/ HĐND và UBND:

HĐND và UBND (chính quyền, địa phương) được thiết lập ở các cấp hành chính, lãnh
thổ: tỉnh, huyện và xã.

Các cơ quan chính quyền địa phương được thiết lập để quản lý địa phương bảo đảm thực
hiện thống nhất, có hiệu quả hiến pháp, luật, các văn bản cơ quan nhà nước cấp trên trên
địa bàn lãnh thổ.

a/ Về hội đồng nhân dân:

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

Trong quá trình hoạt động, HĐND chịu sự giám sát, hướng dẫn của cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất thông qua uỷ ban thường vụ QH; sự kiểm tra hướng dẫn của chính
phủ, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Đại diện cho nhân dân địa phương, HĐND căn cứ vào quyết định của các cơ quan nhà
nước ở trung ương, quyết định những chủ trương biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh, nâng cao mức sống của nhân dân, làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước;
giám sát hoạt động của thường trực HĐND, toà án nhân dân, và viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp; giám sát thực hiện nghị quyết của HĐND, việc tuân theo hiến pháp, pháp luật
của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa
phương (được cụ thể hoá trong luật tổ chức HĐND và UBND 2003)

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, HĐND ban hành nghị quyết để định chủ trương, biện
pháp lớn và giám sát thực hiện nghị quyết.

Nhiệm vụ của HĐND được thực hiện thông qua các hình thức hoạt động của thường trực
của HĐND, các ban và đại biểu HĐND và hình thức hoạt động chủ yếu là các kỳ họp của
HĐND.

Về cơ cấu tổ chức, HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thường trực HĐND gồm: chủ tịch, phó
chủ tịch và uỷ viên thường trực; cấp xã thường trực HĐND gồm: chủ tịch, phó chủ tịch
HĐND.

HĐND cấp tỉnh thành lập ba ban: ban kinh tế và ngân sách, ban văn hoá-xã hội, ban pháp
chế, nơi có nhiều dân tộc thì có thể thành lập ban dân tộc.

HĐND cấp huyện thành lập hai ban: ban kinh tế - xã hội, ban pháp chế.

b/ Về UBND:

UBND do HĐND bầu,là cơ quan chấp hành của HĐND và cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương.

UBND chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên và nghị quyết của HĐND.

UBND có nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống địa
phương; thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành hiến
pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp
tại các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang; bảo đảm an
ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng
TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

quốc phòng toàn dân; quản lý hộ khẩu, hộ tịch, quản lý công tác tổ chức, biên chế lao
động, tiền lương, tổ chức thu chi ngân sách của địa phương theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu của UBND có chủ tịch, các phó chủ tịch và các uỷ viên, trong đó chủ tịch nhất
thiết phải là đại biểu HĐND cùng cấp do HĐND bầu ra, các chức danh khác trong
UBND không nhất thiết phải bầu từ đại biểu HĐND.

Trong nhiệm kỳ nếu khuyết chủ tịch UBND thì chủ tịch HĐND cùng cấp giới thiệu
người ứng cử chủ tịch UBND để HĐND bầu. Người được giữ chức vụ chủ tịch UBND
trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu HĐND.

UBND được ban hành quyết định và chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của
mình. UBND có các cơ quan chuyên môn để giúp thực hiện các chức năng quản lý nhà
nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác
từ trung ương đến cơ sở.

5/ Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân:

Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân nước CHXHCNVN, trong phạm vi chức năng
của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ
của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm của công dân.

Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân là những khâu trọng yếu, cơ bản thuộc hệ
thống các cơ quan tư pháp, thực hiện quyền tư pháp.

a/ Toà án nhân dân:

Toà án nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Đây là
chức năng riêg có của các toà án.

Hiến pháp 1992: "Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án
quân sự và các toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN"
(điều 127)

* Hoạt động xét xử của các toà án có đặc điểm đặc thù:

- Nhân danh nhà nước CHXHCNVN, căn cứ vào pháp luật của nhà nước đưa ra phán xét
quyết định cuối cùng nhằm kết thúc vụ án, là sự thể hiện trực tiếp thái độ, quan điểm của
nhà nước đối với một vụ án cụ thể. Thái độ, quan điểm đó chính là sự thể hiện trực tiếp
bản chất của nhà nước. Nhà nước chịu trách nhiệm về nội dung và hậu quả của các quyết
định giải quyết các vụ việc do toà án đưa ra.

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

- Xét xử và kiểm tra hành vi pháp lý của các cơ quan nhà nước, các cán bộ công chức
trong bộ máy nhà nước, trong quá trình giải quyết các vụ việc có liên quan đến việc bảo
vệ các quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản của con người, bảo vệ quyền làm chủ
của nhân dân.

- Xét xử nhằm ổn định trật tự pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội, tự do an toàn của con
người, làm lành mạnh hoá các quan hệx ã hội.

- Xét xử mang nội dung giáo dục pháp luật với bản thân đương sự cũng như với xã hội,
tạo ý thức pháp luật cho mỗi cá nhân, từ đó có được những hành vi phù hợp với yêu cầu
của pháp luật trong mối quan hệ xã hội, tạo tinh thần tích cực đấu tranh của công dân
chống các hành vi vi phạm pháp luật.

* Cơ cấu tổ chức của hệ thống toà án gồm:

Toà án nhân dân tối cao, toà án nhân dân cấp tỉnh, toàn án nhân dân cấp huyện, toà án
quân sự trung ương, toà án quân sự quân khu, toà án quân sự khu vực và các toà án khác
được thành lập theo quy định của pháp luật

* Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động:

- Thẩm phán toà án nhân dân các cấp được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ và có thể bị miễn
nhiệm, cách chức nếu không hoàn thành chức trách.

- Việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp
luật. Đối với hội thẩm nhân dân của toà án tối cao và toà án quân sự được thực hiện theo
chế độ cử, còn đối với toà án nhân dân địa phương thực hiện theo chế độ bầu.

- Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

- Các chánh án toà án nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác các cơ quan
quyền lực nhà nước cùng cấp.

- Nguyên tắc quản lý các toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức do bộ trưởng bộ tư
pháp đảm nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ với chánh án toà án nhân dân tối cao.

* Các nguyên tắc xét xử của toà án nhân dân:

- Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập chỉ tuân theo pháp luật.

- Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt do luật định.

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com

- Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự.

- Công dân thuộc các dân tộc ít người được quyền dùng tiếng nói và chữ viết dân tộc
mình trước phiên toà.

- Các bản án, quyết định của toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng
và chấp hành nghiêm chỉnh. Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm thi hành các bản án,
quyết định của toà án, nhà nước thực hiện sự cưỡng chế tương ứng.



b/ Viện kiểm sát nhân dân:

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hiện quyền công tố theo quy định của hiến pháp
và pháp luật là chức năng riêng có của viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện quyền tư
pháp, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong phạm
vi cả nước.

* Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của viện kiểm sát:

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các cơ quan từ cấp
độ trở xuống.

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra.

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của toà án nhân dân và thực hiện
quyền công tố theo pháp luật.

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, chấp hành
viên cơ quan, đơn vị cá nhân có liên quan trong việc thi hành án.

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm
trong việc giam giữ, cải tạo.

* Về phương diện tổ chức:

Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan bao gồm: viện kiểm sát nhân dân tối cao, các
viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, các viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các viện kiểm
sát quân sự. Cơ cấu tổ chức của mỗi viện kiểm sát được quy định trong luật tổ chức viện
kiểm sát nhân dân.

* Nguyên tắc tổ chức và hoạt động:
TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC

http://nghoangvan137.blogspot.com


- Viện kiểm sát nhân dân do viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân
cấp dưới chịu sự lãnh đạo của viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng
viện kiểm sát nhân dân địa phương, viện trưởng viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự
lãnh đạo thống nhất của viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Tại viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát quân
sự quân khu và tương đương thành lập uỷ ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa
số những vấn đề quan trọng theo quy định của luật tổ chức kiểm sát nhân dân.

- Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao do QH bầu, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước QH hoặc trước uỷ ban thường vụ QH giữa hai kỳ họp QH,
trước chủ tịch nước, phải trả lời chất vấn của đại biểu QH.

- Chủ tịch nước thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với phó viện trưởng
và kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân tối cao theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm
sát nhân dân tối cao.

- Viện trưởng, phó viện trưởng, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân các địa phương và
các viện kiểm sát quân sự do viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn
nhiệm hoặc cách chức.

- Viện trưởng các viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước
HĐND cùng cấp về tình hình pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu
HĐND.

6/ Quan hệ công tác trong hệ thống bộ máy các cơ quan Nhà nước:

Quan hệ công tác trong bộ máy nhà nước là quan hệ nội bộ nhà nước được quy định
trong pháp luật về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của
cơ quan và được cụ thể hoá trong quy chế làm việc của cơ quan.

Quan hệ công tác trong bộ máy nhà nước gồm:

- Quan hệ công tác giữa các cơ quan nhà nước.

- Quan hệ nội bộ trong một cơ quan.

a/ Quan hệ công tác giữa các cơ quan nhà nước được thể hiện tính chất của các quan hệ:

+ Thứ nhất: Quan hệ theo cấp. Trong quan hệ này cơ quan cấp trên quyết định và cấp
dưới phải chấp hành. Tính kỷ cương của quan hệ này trong quản lý hành chính nhà nước

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét