LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế trong quá trình phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế": http://123doc.vn/document/1051789-chu-the-ky-ket-hop-dong-kinh-te-trong-qua-trinh-phat-trien-cua-che-do-hop-dong-kinh-te.htm
Hợp đồng kinh doanh xuất hiện từ thời kỳ khôi phục và cải tạo kinh tế
(1956-1959). Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh doanh
năm 1956 trong đó qui định.
"Hợp đồng là một bản qui định mối quan hệ giữa hai hay nhiều đơn vị
kinh doanh tự nguyên cam kết với nhau thực hiện một số nhiệm vụ nhất
định, trong thời gian nhất định nhằm mục đích phát triển kinh doanh công
thơng nghiệp góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nớc" (điều 2).
b. Hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Do điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và do kết quả cải tạo xã hội chủ
nghĩa nền kinh tế quốc dân, kết cấu các thành phần kinh tế của nhà nớc có
sự thay đổi căn bản. Chínhphủ đã ban hành chế độ tạm thời và chế độ Hợp
đồng kinh tế (kèm theo nghị định số 004-TTg ngày 4/1/1960 của Thủ tớng
chính phủ). Mục đích là thông qua việc ký kết Hợp đồng kinh tế mà tăng c-
ờng quan hệ kinh tế và trách nhiệm giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ
quan nhà nớc Do các ngành kinh tế XHCN có quan hệ với nhau rất mật
thiết trong quá trình sản xuất - tạo sự trách nhiệm lẫn nhau giữa các đơn vị
kinh tế. Do sự thay đổi trong quản lý, xoá bỏ quản lý hành chính cung cấp
thực hiện quản lý theo phơg thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa Chính phủ
đã ban hành điều lệ mới năm 1975, Điều lệ về chế độ Hợp đồng kinh tế này
đã có những đổi mới nhất định mà thể hiện rõ nhất là yếu tố tài sản trong
hợp đồng rõ nét hơn, yếu tố tổ chức kế hoạch có giảm bớt so với trớc.
"Hợp đồng kinh tế là công cụ pháp lý của Nhà nớc trong việc xây dựng
và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nó góp phần quan trọng trong
việc kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân. Củng cố chế độ hạch toán kinh tế,
tăng cờng quản lý kinh tế. Nó làm cho lợi ích của đơn vị kinh tế cơ sở khớp
với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân, gắn liền công tác quản lý của
Nhà nớc với sự tự chịu trách nhiệm của các tổ chức kinh tế cơ sở. Nó xác
7
lập thắt chặt mối quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa các bên cơ liên
quan đến việc ký kết Hợp đồng kinh tế và thực hiện Hợp đồng kinh tế đã ký
kết, qui định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của từng bên đối với nhau,
bảo vệ lợi ích của các bên ký kết, giúp đỡ các bên ký kết, giúp đỡ các bên
chuẩn bị kế hoạch. Xây dựng một kế hoạch vững chắc, thực hiện thắng lợi
kế hoạch Nhà nớc với hiệu quả kinh tế cao nhất" (Điều 1).
3. Việc ký kết Hợp đồng kinh tế.
a. Nguyễn tắc ký kết.
- Ký kết Hợp đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc của Nhà nớc trong
mọi hoạt động kinh tế có liên quan với nhau đều bắt buộc phải ký kết Hợp
đồng kinh tế. Sau khi có số kiểm tra kế hoạch và khi kế hoạch chính thức
của Nhà nớc đợc ban hành (Điều 2).
- Miễn ký kết Hợp đồng kinh tế trong các trờng hợp khi phải tiến hành
lệnh đặc biệt và khẩn cấp bằng văn bản hoặc đối với những hoạt động kinh
tế có tính chất đặc biệt đợc Hội đồng Chính phủ cho phép; hoặc đối với
những giao dịch nhất thời, đột xuất thực hiện và thanh toán xong trong một
lần.
- Hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết khẩn trơng, kịp thời và trực tiếp
giữa các bên có liên quan. Thời hạn hoàn thành việc ký kết Hợp đồng kinh
tế thì phù hợp với tiến độ xây dựng kế hoạch và yêu cầu chuẩn bị kế hoạch
(Điều 9).
- Các doanh nghiệp Nhà nớc (quốc doanh), cơ quan Nhà nớc chỉ đợc
ký kết hợp đồng trong phạm vi kế hoạch của Nhà nớc. Nhà nớc dựa vào các
mục đích của mình để giao chỉ tiêu cho các đơn vị những nhiệm vụ rõ ràng
mà các bên phải thực hiện.
8
- Các bên ký kết có thể ký kết cao hơn chỉ tiêu kế hoạch đợc giao, nếu
xét thấy đủ khả năng và không làm ảnh hởng đến các chỉ tiêu kế hoạch đợc
giao (Điều 8).
b. Căn cứ để ký kết Hợp đồng kinh tế (Điều 8).
- Căn cứ vào số liệu kiểm tra, phơng hớng và nhiệm vụ và chỉ tiêu kế
hoạch của Nhà nớc.
- Căn cứ vào chế độ hiện hành và quản lý kinh tế.
- Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo, hớng dẫn ký kết Hợp đồng kinh tế
của các cơ quan cấp trên.
c. Chủ thể ký kết Hợp đồng kinh tế.
- Sau khi có sổ kiểm tra kế hoạch và kế hoạch chính thức của Nhà nớc
đợc ban hành thì các đơn vị phải ký kết Hợp đồng kinh tế.
(1) Các tổ chức quốc doanh.
(2) Các tổ chức công ty hợp doanh.
(3) Các cơ quan quản lý Nhà nớc, các đơn vị bộ đội, các tổ chức xã
hội.
(4) Hợp tác xã loại đợc công nhận theo điều lệ hiện hành.
(5) Các tổ chức sản xuất tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp đợc phép
kinh doanh và có tài sản ở ngân hàng.
d. Trình tự và thủ tục ký kết (Điều 9).
- Ký kết trực tiếp: Hai bên hay các bên ký kết có thể chủ động gặp
nhau bàn bạc để cùng ký kết hợp đồng.
- Ký kết Hợp đồng kinh tế gián tiếp: Một bên dự thảo hợp đồng và ký
trớc gửi bên kia nghiên cứu để ký sau. Bên nhân đợc dự thảo phải ký hoặc
trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đợc dự thảo. Quá hạn mà bên
9
nhận dự thảo không trả lời thì coi nh đã chấp nhận hợp đồng, có nghĩa vụ
thực hiện và chịu trách nhiệm về mọi hậu quả xảy ra.
e. Hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý.
- Hợp đồng kinh tế đợc coi là hợp pháp khi nó không trái pháp luật nh
về chủ thể và nội dung của hợp đồng phải phù hợp với pháp luật.
- Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả.
+ Hợp đồng vô hiệu toàn bộ:
- Nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật
- Không đảm bảo t cách của các bên chủ thể ký kết.
+ Hợp đồng kinh tế vô hiệu từng phần.
- Một phần nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật.
Những phần khác không bị ảnh hởng bởi phần vi phạm đó vẫn đợc thực
hiện.
+ Hậu quả:
- Sửa đổi lại các điều khoản đã bị coi là vô hiệu.
- Khôi phục lại những phần hợp đồng vi phạm đã thực hiện và chấm
dứt thực hiện phần vi phạm pháp luật còn lại.
- Bị xử lý hành vi trái pháp luật khi ký kết và thực hiện những điều
khoản bị coi là vô hiệu.
4. Đánh giá.
a. Tạo đợc sự điều chỉnh và đẩy mạnh phát triển kinh tế trong thời gian
này, phù hợp với nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp.
b. Đã có sự điều chỉnh nội tại để phù hợp với sự vận động thay đổi của
nền kinh tế và xã hội.
c. Không còn phù hợp trong nền kinh tế nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc định hớng xã hội chủ nghĩa
do đó cần phải có sự thay đổi cho phù hợp với cơ chế mới.
10
II- Chủ thể ký kết Hợp đồng kinh tế giai đoạn 1989
đến nay.
1. Bản chất của Hợp đồng kinh tế thời kỳ này.
Sau ngày 30/04/1975 miền Nam đợc giải phóng. Năm 1976 đất nớc đ-
ợc thống nhất về mặt Nhà nớc. Cả nớc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thời
kỳ 1976-1985 cả nớc cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ cơ
bản- một là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế phi xã
hội chủ nghĩa và hai là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với đờng lối u tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Thành quả đã đạt đợc là: tài sản cố định của nền kinh tế 1985 gấp hai
lần so với năm 1975; năm 1981-1985 nhịp độ tăng trởng công nghiệp là
9,5%, nông nghiệp là 4,9% ;phân phối lu thông đợc củng cố và mở rộng nh-
ng còn có những yếu kém: quan hệ sản xuất cha thực sự đợc củng cố, lực l-
ợng sản xuất còn yếu kém; nền kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối nghiêm
trọng.
Tháng 11/1986, Đại hội toàn quốc lần VI của Đảng cộng sản Việt Nam
xác định nội dung, đờng lối đổi mới quản lý kinh tế-xã hội, trong đó đổi
mới cơ chế quảnlý kinh tế theo hớng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trong điều kiện cần phải điều chỉnh sự quản lý đó hội đồng Nhà nớc
đã thông qua pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 thay thế nghị
định 54-CP về chế độ Hợp đồng kinh tế. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế cùng
với Nghị định số 17-HĐBT ngày 16/01/1990; quyết định số 18-HĐBT ngày
16/01/1990 của HĐBT đã tạo thành hệ thống qui phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ Hợp đồng kinh tế trong cơ chế quản lý mới.
11
2. Cơ chế quản lý kinh tế.
Trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã
hội chủ nghĩa. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế thể chế hoá đờng lối đổi mới của
Đảng trong quản lý kinh tế. Pháp lệnh đảm bảo các quan hệ kinh tế đợc
thiết lập và thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh
của các đơn vị kinh tế nhằm đẩy mạnh sản xuất và lu thông hàng hoá; đề
cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ kinh tế, đẩy mạnh nền kinh tế
phát triển, giữ vững trật tự kỷ cơng, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong hoạt động kinh tế.
"Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch
giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá,
dịch vụ nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuậtvà thoả thuận khác
có mục đích kinh doanh, với sự qui định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình" (Điều 1).
3. Việc ký kết Hợp đồng kinh tế.
a. Nguyên tắc ký kết Hợp đồng kinh tế.
- Nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ:
theo nguyên tắc này việc ký kết một Hợp đồng kinh tế phải dựa trên cơ sở tự
nguyện thoả thuận của các bên. Mỗi bên sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình trong nội dung hợp đồng và đảm bảo lợi ích kinh tế cho các bên
tham gia quan hệ hợp đồng.
- Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm về tài sản.
Theo nguyên tắc này các bên tham gia quan hệ hợp đồng phải tự mình
gách vác trách nhiệm về tài sản. Gồm phạt hợp đồng và bồi thờng thiệt hại
khi có hành vi vi phạm chế độ Hợp đồng kinh tế.
- Nguyên tắc không trái pháp luật.
12
Theo nguyên tắc này đòi hỏi việc ký kết Hợp đồng kinh tế đó phải hợp
pháp, mọi thoả thuận trong hợp đồng phải hoàn toàn phù hợp với những qui
định của pháp luật.
b. Căn cứ để ký kết Hợp đồng kinh tế (Điều 10).
- Căn cứ vào phơng hớng kế hoạch của Nhà nớc, các chính sách,chế
độ, các chuẩn mực kinh tế- kỹ thuật hiện hành.
- Căn cứ vào nhu cầu của thị trờng, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của
bạn hàng.
Căn cứ này nhằm đảm boả cho Hợp đồng kinh tế đợc ký kết có khả
năng thực hiện, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh thực sự mang lại hiệu
quả, đồng thời thoả mãn nhu cầu xã hội.
- Căn cứ vào khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt
động kinh tế của mình.
Khi ký kết Hợp đồng kinh tế, các đơn vị kinh tế phải căn cứ vào những
điều kiện chủ quan của mình về tiền vốn, vật t, năng suất lao động và hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
Căn cứ đúng chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Căn cứ vào tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả
năng đảm bảo về tài sản của các bên cùng ký kết hợp đồng.
Đây là căn cứ quan trọng để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng về tính
hợp pháp của mối quan hệ cũng nh khả năng thanh toán của các bên nhằm
đảm bảo cho hợp đồng có đầy đủ cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế.
c. Chủ thể của Hợp đồng kinh tế.
* Chủ thể của Hợp đồng kinh tế là các bên tham gia quan hệ Hợp đồng
kinh tế hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện thoả thuận để xác định quyền và
nghĩa vụ đối với nhau.
13
Theo pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 thì Hợp đồng kinh tế
đợc ký kết giữa các bên sau:
- Pháp nhân với pháp nhân.
- Pháp nhân với cá nhân kinh doanh có đăng ký kinh doanh theo qui
định của pháp luật.
Nh vậy, chủ thể của Hợp đồng kinh tế ít nhất một bên phải là đơn vị
có t cách pháp nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng
ký kinh doanh.
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây:
(1) Đợc thành lập một cách hợp pháp
(2) Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng tài sản
đó.
(3) Có quyền quyết định một cách độc lập bằng các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình.
(4) Có quyền tự mình tham gia các quan hệ pháp luật.
Việc qui định chủ thể quan hệ Hợp đồng kinh tế có một bên là pháp
nhân là để đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh tế chung trong nền kinh tế hàng
hoá xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần trong đó giữa các đơn vị kinh tế có
sự thờng xuyên trực tiếp tác động lẫn nhau thông qua các mối quan hệ kinh
tế đan xen trên thị trờng rất phong phú, đa dạng. Đồng thời cũng là để thu
hút các cá nhân cùng tham gia với các pháp nhân một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp thực hiện kế hoạch của pháp nhân trên cơ sở kế hoạch định hớng
của Nhà nớc.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật là ngời đã
đợc câp giấy phép đăng ký kinh doanh và đăng ký kinh doanh tại cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền theo đúng qui định của pháp luật.
14
Các chủ thể trên khi ký kết Hợp đồng kinh tế phải tuân thủ theo các
qui định cảu pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên theo qui định tại điều
42,43 (pháp lệnh Hợp đồng kinh tế) còn cho phép pháp nhân đợc ký kết
Hợp đồng kinh tế với những ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ
nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể đó là những đối tợng
pháp luật cha qui định phải đăng ký kinh doanh. Cũng nh cho phép pháp
nhân Việt Nam áp dụng pháp luật Hợp đồng kinh tế trong ký kết Hợp đồng
kinh tế với các tổ chức, cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam.
Khi ký kết Hợp đồng kinh tế, mỗi bên phải có một ngời đại diện để ký
vào Hợp đồng kinh tế. Nếu là pháp nhân thì ngời đại diện hợp pháp của
pháp nhân đó. Đại diện hợp pháp của pháp nhân là ngời đợc bổ nhiệm hoặc
đợc bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân và hiện đang giữ chức vụ đó
Nếu là cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật thì
ngời ký kết Hợp đồng kinh tế phải là ngời đứng tên xin giấy phép kinh
doanh, đợc cấp giấy phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh tại cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền.
Nếu một bên là ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân thì
ngời ký kết Hợp đồng kinh tế phải là ngời trực tiếp thực hiện công việc
trong hợp đồng. Nếu có nhiều ngời cùng làm thì ngời ký vào bản hợp đồng
phải là do những ngời cùng tham gia tiến cử bằng văn bản có chữ ký của tất
cả những ngời đó và phải kèm theo bản Hợp đồng kinh tế. Khi một bên là
hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể thì đại diện phải là chủ hộ.
Khi một bên là tổ chức nớc ngoài tại Việt Nam thì đại diện tổ chức đó phải
đợc uỷ nhiệm bằng văn bản, nếu là cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam thì bản
thân họ phải là ngời ký kết các Hợp đồng kinh tế.
Đại diện ký kết Hợp đồng kinh tế trên cũng chính là đại diện đơng
nhiên trong quá trình thực hiện Hợp đồng kinh tế và trong tố tụng trọng tài
kinh tế.
Mặt khác, đại diện hợp pháp của pháp nhân và cá nhân có đăng ký
kinh doanh có thể uỷ quyền cho ngời khác thay mình ký kết Hợp đồng kinh
15
tế, làm đại diện trong ký kết, trong quá trình thực hiện Hợp đồng kinh tế
cũng nh trong tố tụng trọng tài kinh tế khi có tranh chấp xảy ra. Việc uỷ
quyền này bắt buộc phải bằng văn bản xác định rõ ngời đợc uỷ quyền, phạm
vi uỷ quyền và thời hạn uỷ quyền. Ngời đợc uỷ quyền chỉ đợc phép hành
động trong phạm vi đợc uỷ quyền và không đợc uỷ quyền lại cho ngời thứ
ba. Trong phạm vi uỷ quyền ngời uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi
của ngời đợc uỷ quyền nh hành vi của chính mình. Trong trờng hợp uỷ
quyền thờng xuyên. Mỗi lần giao dịch trong quan hệ Hợp đồng kinh tế, ngời
đợc uỷ quyền phải xuất trình văn bản uỷ quyền thờng xuyên đó và trách
nhiệm cũng giống nh trờng hợp uỷ quyền không áp dụng đợc đó là trờng
hợp mà hợp đồng phải đăng ký và những hợp đồng đợc ký kết bằng các tài
liệu giao dịch thì không đợc phép uỷ quyền.
d. Trình tự ký kết Hợp đồng kinh tế.
Khi ký kết Hợp đồng kinh tế, các bên có thể tiến hành một trong hai
cách: ký kết trực tiếp hoặc ký kết gián tiếp.
- Ký kết Hợp đồng kinh tế trực tiếp: là cách ký kết đơn giản, nhanh
chóng, khi ký kết đại diện hợp pháp của các bên trực tiếp gặp nhau để bàn
bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí, xác định các điều khoản của hợp đồng và
cùng ký vào một văn bản.
- Ký kết Hợp đồng kinh tế gián tiếp: là phơng pháp ký kết mà trong đó,
các bên tiến hành gửi cho nhau các tài liệu giao dịch (công văn, điện báo,
đơn chào hàng, đơn đặt hàng) chứa đựng nội dung của công việc giao dịch.
Việc ký kết Hợp đồng kinh tế bằng phơng pháp này đòi hỏi phải tuân thủ
những trình tự nhất định. Hợp đồng đợc coi là hình thành và có giá trị pháp
lý từ khi các bên nhận đợc tài liệu giao dịch và thể hiện sự thoả thuận về tất
cả các điều khoản chủ yếu của hợp đồng đã ký kết đó.
e. Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý.
- Hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ.
Nội dung của hợp đồng vi phạm điều cẩm của pháp luật.
16
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét