Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

nâng cao hiệu quả việc thực hiện các vấn đề pháp quy trong loại hợp đồng này


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao hiệu quả việc thực hiện các vấn đề pháp quy trong loại hợp đồng này": http://123doc.vn/document/1049542-nang-cao-hieu-qua-viec-thuc-hien-cac-van-de-phap-quy-trong-loai-hop-dong-nay.htm



hàng đa dạng và phong phú hơn. Có một số mặt hàng đã có vị trí trên thị trường như
dầu thô, gạo, hàng thuỷ hải sản chế biến, cà phê, cao su, quần áo may sẵn
Thị trường xuất - nhập khẩu của nước ta được mở rộng về phạm vi và dung
lượng. Hiện nay, khu vực Châu Á vẫn đang là thị trường xuất và nhập khẩu lớn nhất
của nước ta, đã chiếm gần 63% tổng kim ngạch xuất khẩu và gần 74% tổng kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN là những đối tác
chiếm thị phần buôn bán lớn nhất trong số các đối tác châu á.
Riêng các nước ASEAN chiếm 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu và 32,4%
kim ngạch nhập khẩu của nước ta trong năm 1998. Triển vọng trong những năm
cuối của thập kỷ này các nước Châu Á vẫn là những bạn hàng lớn nhất trong quan
hệ buôn bán với nước ta.
Hàng hoá của Việt Nam đã tiếp cận vào thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, đặc
biệt là thị trường các nước EU, Hoa Kỳ và Canađa.
Thị trường các nước Trung Đông cũng đã và đang được khai thác triệt để,
bước đầu là các mặt hàng trả nợ như gạo, chè, cà phê, cá hộp, quần áo may sẵn và
một số mặt hàng tiêu dùng khác , đến nay một số mặt hàng của Việt Nam như cà
phê, gạo, chè đã có sức cạnh tranh trên thị trường này.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã tìm kiếm các giải pháp khôi phục lại thị trường
các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu sau một thời gian gián đoạn, sẽ mở ra
những khả năng mới trong quan hệ kinh tế và trao đổi hàng hoá khu vực này.
Dung lượng hàng hoá tham gia thị trường quốc tế của Việt Nam ngày càng
phát triển về cả khối lượng và chất lượng. Tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu
trong những năm 1991 - 1997 tăng bình quân 25%. Tuy nhiên, năm 1998 do bị ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu á, kim ngạch xuất khẩu năm 1998 đã
chững lại, chỉ tăng khoảng1,9%. Năm 1999, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu đã tăng trở lại 23,1%. Kế hoạch năm 2000, dự kiến có thể tăng trên 11%.
Cơ cấu hàng xuất khẩu đã thay đổi theo hướng phát huy lợi thế so sánh trong
mối quan hệ kinh tế quốc tế. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông
lâm thuỷ sản tuy vẫn ở vị trí đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu nhưng cũng có xu
hướng giảm dần, từ bình quân là 48,0% thời kỳ 1991 - 1995 giảm còn 38,5% trong
thời kỳ 1996 - 2000, trong khi tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ
5

công nghiệp vẫn tăng tương ứng từ 21,7% lên 35,9%. Về nhập khẩu tỷ trọng hàng
tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu giảm đáng kể từ 16,4% bình quân thời
kỳ 1991 - 1995 xuống còn 8,1% vào thời kỳ 1996 - 2000, trong đó riêng năm 1999
chỉ còn 5,9%, năm 2000 dự kiến giảm còn 4,7%.
Nhập khẩu trong những năm qua tuy có tăng, nhưng tốc độ chậm dần. Chúng
ta tập trung chủ yếu vào nhập nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, trong khi đã
cố gắng giảm dần tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng. Một số mặt hàng
trước đây vẫn phải nhập khẩu nay đã được thay thế bằng sản xuất trong nước, nhờ
vậy giảm tương đối thâm hụt cán cân thương mại. Kim ngạch nhập khẩu trong
những năm qua cũng đã có thay đổi về cơ cấu. Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng
kim ngạch nhập khẩu giảm đáng kể, trong khi tỷ trọng nhóm nguyên nhiên vật liệu
tăng lên nhanh. Thay đổi này phản ảnh chính sách khuyến khích sản xuất trong
nước và giảm nhập khẩu những mặt hàng đã sản xuất trong nước có thể thay thế
nhập khẩu được.
Giữ được tốc độ tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu, trước hết là do chính
sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu và sản xuất hàng xuất
khẩu. Việc từng bước hoàn chỉnh khuôn khổ pháp luật theo kinh tế thị trường và đổi
mới chính sách xuất nhập khẩu đã thực sự thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong 10 năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn, giảm
các thủ tục hành chính, trở ngại về thuế má, hỗ trợ tài chính cho xuất khẩu, như hỗ
trợ lãi suất vay vốn sản xuất và hoạt động xuất khẩu, trợ giá cho những mặt hàng
xuất khẩu mới vào thị trường mới, chính sách khen thưởng, khuyến khích các doanh
nghiệp tìm được mặt hàng xuất khẩu mới, thị trường mới. Ban hành chính sách về
quản lý ngoại hối, điều chỉnh tỷ giá của đồng USD so với đồng Việt Nam để
khuyến khích xuất khẩu, chính sách đầu tư nâng cao chất lượng hàng hoá xuất
khẩu
Tuy nhiên, lĩnh vực xuất nhập khẩu đang đứng trước những khó khăn mới.
Những hạn chế trong các khâu tạo nguồn hàng, chế biến nâng cao chất lượng đã
làm cho các sản phẩm xuất khẩu của ta không đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Cơ
cấu sản phẩm xuất khẩu vẫn chưa có những chuyển dịch tích cực, xuất khẩu hàng
nông sản thô, nguyên liệu thô còn chiếm tỷ trọng lớn, nên giá trị thấp. Hơn nữa,
6

do khả năng tiếp cận thị trường kém, nhiều mặt hàng của ta còn phải xuất khẩu qua
trung gian nên hạn chế kim ngạch thu được.
Trong quý I năm 2007 kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta đạt 10,5 tỷ USD
dự kiến con số này sẽ đạt 100 tỷ USD vào năm 2010.Nhưng hiện tại , khối lượng
nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đã được khai thác tới mức tối đa trong sản
lượng sản xuất như gạo, cà phê, cao su, do vậy, muốn tăng giá trị xuất khẩu cần
phải đầu tư phát triển thâm canh, tăng năng suất và đặc biệt đầu tư vào khâu công
nghiệp chế biến sâu, tăng nhanh chất lượng để đủ sức cạnh tranh và tìm kiếm thêm
thị trường xuất khẩu.
3. Hoạt động xuất nhập khẩu ủy thác
Xuất nhập khẩu ủy thác là một nghiệp vụ thương mại phát sinh trong nền kinh
tế thị trường khi sự chuyên môn hóa về ngành nghề ngày càng cao, ngoài nguyên
nhân trên, còn một số nguyên nhân chính làm phát sinh nghiệp vụ này đó là:
- Thiếu năng lực xuất nhập khẩu
Ngày nay, số lượng các doanh nghiệp chưa có năng lực xuất nhập khẩu chiếm
một tỷ lệ không nhỏ do chưa đăng ký mã số xuất nhập khẩu với cục hải quan tỉnh,
thành phố hoặc các tổ chức cá nhân không phải là thương nhân, để phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình khi làm ăn với các đối tác mang quốc
tịch nước ngoài thì phải thiết lập một hợp đồng ủy thác xuất hoặc nhập khẩu với
một doanh nghiệp có năng lực pháp lý về xuất nhập khẩu. Ngoài ra, đối với các
doanh nghiệp có tư cách xuất nhập khẩu thì hoặc do đội ngũ nhân lực hoạt động
trong lĩnh vực này còn hạn chế về quân số hoặc năng lực nên để giảm thiểu thời
gian, chi phí và rủi ro thì họ cũng chọn phương án là xác lập một hợp đồng ủy thác
xuất nhập khẩu cho một doanh nghiệp làm nghiệp vụ này. Mặt khác, do các thiếu
cập nhật về thông tin hải quan, thị trường, và thiếu kinh nghiệm giải quyết các tranh
chấp xảy ra đối với các đối tác nước ngoài nên các tổ chức kinh tế và các cá nhân có
nhu cầu xuất nhập khẩu thường chọn phương án ủy thác cho một đơn vị có uy tín và
kinh nghiệm trong lĩnh vực này xuất hoặc nhập khẩu.
- Chiếm dụng vốn
Việc thực hiện một hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu mất một khoảng thời
gian thường là dài, và bên được ủy quyền xuất hoặc nhập khẩu là người đại diện
7

cho bên ủy quyền thanh toán cho đối tác của bên ủy quyền bằng tài khoản của mình
và bên được ủy thác xuất nhập khẩu sẽ được bên ủy thác cho mình thanh toán chi
phí suất nhập khẩu, tiền hàng (nếu là nhập khẩu ủy thác) trong khoảng thời gian
thực hiện hợp đồng, bên ủy thác sẽ không phải bỏ một khoản tiền mua hàng (nếu là
nhập khẩu và có thỏa thuận điều này trong hợp đồng) và nhập hàng mà chỉ phải mất
một khoản phí nhất định thường là rất nhỏ so với khoản tiền phải bỏ ra ngay khi
mình trực tiếp là người xuất nhập khẩu
- Thiếu thị trường
Đối với nghiệp vụ xuất nhập khẩu ủy thác, ngoài chức năng thương mại thông
thường là mang lại khoản thu từ phí ủy thác, nó còn có chức năng là một kênh tìm
kiếm đối tác của các đơn vị ủy thác. Đối với những người mua nhỏ lẻ hoặc các nhà
sản suất nhỏ lẻ do không có nhiều thông tin về thị trường nhập cũng như xuất hàng,
họ thường tìm đến các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này để tìm kiếm đối tác và
ủy thác cho những đơn vị này xuất hoặc nhập khẩu.
II. Hợp đồng và vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường
1. Khái niệm và đặc diểm của hợp đồng kinh tế
1.1 Khái niệm
Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên
ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu,
ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh
doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực
hiện kế hoạch của mình.
1.2 Đặc điểm
Việc giao kết hợp đồng phải dựa trên nguyên tắc tự do giao kết nhưng không
được trái pháp luật và trái với đạo đức xã hội, tự nguyện bình đẳng, thiện chí hợp
tác, trung thực và ngay thẳng
Hợp đồng có giá trị pháp lý là biên bản xác nhận quyền và nghĩa vụ của các
bên, các bên phải tuân thủ những gì đã được ký kết trên hợp đồng không được làm
khác đi nếu không được sự cho phép của bên còn lại hoặc đại diện hợp pháp của họ.
Nếu có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng được coi là chứng cứ quan trọng nhất để xác
định quyền và nghĩa vụ của các bên. Một hợp đồng kinh tế có những đặc điểm:
8

- Về chủ thể của hợp đồng
Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân hoặc ít nhất một
trong hai bên là pháp nhân còn bên kia có thể hộ gia đình kinh doanh cá thể, các cá
nhân không phải là thương nhân, hoặc các tổ chức không phải là thương nhân
theo quy định tại điều khoản 2 Điều 2 của Luật thương mại.
+ Pháp nhân theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật
dân sự) là các tổ chức thỏa mãn bốn điều kiện dưới đây:
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng
ký hoặc công nhận;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với tài sản của cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm
bằng tài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Pháp nhân có thể là công ty, một tổ chức, một hiệp hội thỏa mãn các điều
kiện trên.
+ Các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân là các cá nhân và tổ chức
có hoạt động liên quan đến thương mại mặc dù không phải với mục đích sinh lời
(khoản 3 Điều 1 Luật thương mại năm 2005)
- Về nội dung của hợp đồng kinh tế
Một hợp đồng kinh tế bao gồm các điều khoản chính như:
. Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân
hàng giao dịch của các bên, họ, tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh
doanh;
. Đối tượng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lượng, khối lượng hoặc giá
trị quy ước đã thoả thuận;
. Chất lượng, chủng loại, quy sách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá
hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc;
. Giá cả;
. Bảo hành;
. Điều kiện nghiệm thu, giao nhận;
. Phương thức thanh toán;
9

. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế;
. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng kinh tế;
. Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế;
. Các thoả thuận khác.
Do hợp đồng ký kết nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh vì vậy
mục đích kinh doanh luôn được thể hiện hàng đầu trong các hợp đồng kinh tế.
Đây là điểm khác biệt so với hợp đồng dân sự chủ yếu phục vụ mục đích sinh
hoạt và tiêu dùng.
2. Vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường
- Đối với sự quản lý kinh tế của nhà nước
Trong nền kinh tế quốc dân, sự quản lý của nhà nước là không thể thiếu, nhà
nước bằng các chính sách và công cụ vĩ mô điều tiết nền kinh tế đi theo đúng quỹ
đạo và khuynh hướng phát triển của đất nước. Công cụ quan trọng để nhà nước
quản lý nền kinh tế đó là pháp luật kinh tế. Khi một tranh chấp xảy ra để có cơ sở
giải quyết đúng đắn theo pháp luật kinh tế thì hợp đồng kinh tế được coi là một cơ
sở quan trọng cho phán quyết cuối cùng của các cơ quan giải quyết tranh chấp.
- Đối với các tổ chức kinh tế
Hợp đồng kinh tế là văn bản thể hiện sự xác lập quan hệ kinh tế giữa các tổ
chức kinh tế, qua đó nó thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên theo đó, các bên
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình như đã ký kết. Hợp đồng kinh tế có
vai trò như một cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ
kinh tế.
3. Quy trình thực hiện một hợp đồng kinh tế và các vấn đề pháp quy.
3.1 Các vấn đề pháp quy về ký kết hợp đồng
- Nguyên tắc giao kết hợp đồng kinh tế
Tương tự như các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự, việc giao kết hợp
đồng kinh tế theo quy định của Luật thương mại phải tuân thủ những nguyên tắc
sau:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
10

+ Nguyên tắc thứ nhất tự do giao kết hợp đồng kinh tế có nghĩa các bên xuất
phát từ nhu cầu mục đích của mình có thể tự do giao kết các hợp đồng, nhà nước
không can thiệp tuy nhiên phải trên cơ sở là không trái pháp luật và đạo đức xã hội
+ Nguyên tắc tự nguyện bình đẳng loại bỏ các hợp đồng giao kết trên cơ sở ép
buộc hoặc cưỡng bức khi giao kết, khi giao kết các bên hoàn toàn bình quyền như
nhau, không bên nào ở trên bên nào.
+ Nguyên tắc thiện chí hợp tác có nghĩa các bên khi giao kết phải dựa trên cơ
sở tự nguyện thoả thuận, cùng nhau giải quyết các bất đồng để đi đến thống nhất ký
kết hợp đồng
+ Nguyên tắc trung thực và ngay thẳng đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng
kinh tế một cách minh bạch không có sự gian lận trong việc giao kết hợp đồng gây
bất lợi cho bên kia.
Việc giao kết hợp đồng kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc trên, nếu vi phạm
một trong các nguyên tắc đó thì hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu và bên đối tác sẽ
không phải thực hiện bất cứ một điều khoản nào trong hợp đồng đã ký kết. Và bên
có hành vi sai phạm sẽ phải bồi thường cho bên đối tác các thiệt hại mà do thực
hiện hợp đồng đó gây ra nếu có (Điều 314 Luật thương mại năm 2005)
- Về chủ thể của hợp đồng kinh tế
Theo điều 2 của Luật thương mại năm 2005 (Luật thưong mại) thì chủ thể của
hợp đồng kinh tế có thể là thương nhân, tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên
quan đến thương mại.
Như vậy khi hợp đồng được xác lập giũa các thương nhân với nhau thì đương
nhiên hợp đồng đó do Luật thương mại điều chỉnh còn đối với loại hợp đồng được
lập giữa thương nhân và các cá nhân tổ chức không phải là thương nhân thì cũng
đương nhiên do luật này điều chỉnh nếu như bên không phải là thương nhân chọn áp
dụng luật này (theo khoản 3 Điều 1 Luật thương mại). Điểm quan trọng ở đây khi
xác định chủ thể của hợp đồng kinh tế là phải xác định hoạt động đó có nhằm mục
đích thương mại hay không, vậy hoạt động thương mại là gỉ? Theo khoản 1 điều 3
của Luật thương mại thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh
lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
11

động nhằm mục đích sinh lợi khác. Do đó chủ thể của hợp đồng kinh tế có thể là thương
nhân, các tổ chức cá nhân không phải là thương nhân.
Khi muốn ký kết một hợp đồng kinh tế nói riêng và hợp đồng nói chung,
các bên phải thương lượng đàm phán với nhau về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
trên cơ sở bình đẳng, trung thực và tự nguyện. Đàm phán là quá trình trao đổi
kiến của các chủ thể nhằm đi tới một sự thống nhất các vấn đề như về tên hàng
hóa, giá cả, chủng loại, bảo hành, khiếu nại … Đàm phán thường có các hình
thức đàm phán chính :
- Đàm phán qua thư tín
- Đàm phán qua các phương tiện thông tin như điện thoại, internet
- Đàm phán trực tiếp
Sau khi đàm phán thương lượng các vấn đề về hợp đồng các bên bắt đầu soạn
thảo một hợp đồng kinh tế dựa trên nguyên tắc bình đẳng tự nguyện không trái với
các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Nguyên tắc tự do cho phép các bên
được tự do thỏa thuận thương lượng về các điều khoản của hợp đồng quyền và
nghĩa vụ của các bên. Nguyên tắc này loại bỏ các hợp đồng ký kết trên cơ sở cưỡng
bức, gian lận, không trung thực do vậy đây là nguyên tắc cơ bản và bắt buộc khi
thực hiện việc giao kết một hợp đồng kinh tế nói riêng và hợp đồng nói chung.
- Về phương thức ký kết một hợp đồng
Sau khi đã thống nhất về các điều khoản được soạn thảo trong hợp đồng kinh
tế thì các bên đi đến ký kết hợp đồng theo một trong các hình thức dưới đây:
+ Ký kết trực tiếp, đây là hình thức mà hai bên gặp gỡ trực tiếp đàm phán về
các điều khoản của hợp đồng. Có thể là đàm phán không trực tiếp tuy nhiên đối với
hình thức ký kết này, hai bên phải cùng trực tiếp ký vào hợp đồng
+ Ký kết gián tiếp, hình thức này có thể thông qua bởi các cách:
Gửi bản chào hàng hay đơn đặt hàng và bên đối tác gửi lại một bản trả lời
chấp nhận chào hàng hay đặt hàng. Trong trường hợp này coi như hai bên đã ký với
nhau một hợp đồng hình thức và đã có sự ràng buộc pháp lý đối với mỗi bên. Hợp
đồng loại này được thông qua hai bước:
- Gửi bản chào hàng hoặc đơn đặt hàng, trong đó có các điều khoản mô tả về
hàng hóa, giá cả, chủng loại, xuất xứ và các đặc tính khác của hàng hóa.
12

- Chấp nhận đề nghị và ký kết hợp đồng, trong trường hợp bên nhận được
chào hàng và chấp nhận chào hàng bằng cách gửi cho bên chào hàng một thông báo
chấp nhận chào hàng trong khoảng thời gian ghi trong chào hàng thì coi như hợp
đồng thương mại đã được ký kết kể từ khi bên chào hàng nhận được chấp nhận của
bên được chào hàng.
3.2 Chế độ pháp lý về thực hiện hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật dân sự hay theo Luật thương mại đều có quy định
rằng hợp đồng kinh tế phải được chấp hành theo các nguyên tắc chính:
Chấp hành thực hiện
Chấp hành đúng
Chấp hành dựa trên tinh thần hợp tác hai bên cùng có lợi
Trên cơ sở đó việc tổ chức thực hiện hợp đồng kinh tế thông thường trải qua
các bước chính sau:
- Kiểm tra việc thực hiện hợp đồng đối với đối tác, tiếp nhận các vấn đề liên
quan đến quá trình thực hiện hợp đồng do phía đối tác cung cấp
- Chuyển giao hoặc tiếp nhận quyền sở hữu, việc này có thể ủy nhiệm cho cơ
quan hải quan hoặc do một đơn vị khác được ủy quyền
- Làm thủ tục thanh toán và thanh lý hợp đồng, phương thức thanh toán có thể
bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, trong giai đoạn hiện nay, thanh toán bằng
phương thức chuyển khoản là khá phổ biến vì tính tiện lợi của phương thức này.
Tuy nhiên khi làm việc với các đối tác mang quốc tịch nước ngoài, thì điều kiện để
thiết lập hợp đồng là phải mở LC tại một ngân hàng để làm bảo đảm thanh toán.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều cung cấp dịch vụ thanh toán quốc
tế, cụ thể là thanh toán tín dụng chứng từ. Sau khi việc thanh toán hoàn thành cũng
có nghĩa là hợp đồng đó được thanh lý nếu như trong hợp đồng không có điều
khoản nào quy định thêm.
4. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là một hậu quả pháp lý bắt buộc bên vi
phạm phải thực hiện đối với bên bị vi phạm để bù đắp những tổn thất do vi phạm
hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Theo Điều 192 của Luật thương mại thì các
chế tài này bao gồm:
13

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
- Phạt vi phạm.
- Buộc bồi thường thiệt hại.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
- Huỷ bỏ hợp đồng.
- Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán
thương mại quốc tế.
+ Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.
+ Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền
phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp
miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật thương mại. Mức phạt vi phạm do
hai bên thoả thuận mhưng mức cao nhất không quá 8 % giá trị phần hợp đồng bị vi
phạm (Điều 301 Luật thương mại).
+ Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành
vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm
giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và
khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
+ Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ
trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng
thực hiện hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ
hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét